tiểu luận khủng hoảng tiền tệ châu á và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - Pdf 13

Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
I. Nguyên nhân
Trên khía cạnh tài chính, cuộc khủng hoảng nổ ra do các nguyên nhân sau:
1. Một là duy trì Tỷ giá ổn định quá lâu so với đồng USD
Việc duy trì này của các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn nền kinh tế Mỹ
rất nhiều đã khiến cho các nước này thay vì để đồng tiền của nước mình tăng giảm
theo đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD để cố gắng duy trì mức cân
bằng giả tạp tới mức k thể kìm giữ nổi.
2. Hai là buông lỏng và bao che những yếu kém trong công tác điều phối kiểm
tra giám sát hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân
hàng.
Trong khi các hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân
hàng vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính
thông qua ngân hàng quốc doanh hoặc chỉ thị cho những ngân hàng tư nhân cấp tín
dụng với lãi suất thấp cho các công ty được chính phủ ưu đãi. Khắp khu vực tràn lan
tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho những ngành công nghiệp có chọn lọc và
những ngành độc quyền được chính phủ bảo hộ. Lơi dụng kẻ hở này các doanh nghiệp
đã tìm cách vay ngắn hạn của nước ngoài (chủ yếu là đầu tư vào bất động sản với ý
định trải các khoản nợ và sự thua lỗ trong sản xuất công nghiệp, nhưng thị trường bất
động sản trong thời gian này lại có nhiều bất lợi) gây ra khoản nợ không có khả năng
thanh toán trong khi thị trường biến động
3. Ba là cán cân vãng lai thâm hụt lớn và cơ cấu đầu tư nước ngoài đổ vào
trong nước không hợp lý.
Đây chính là nguyên nhân gây mất ổn định trong hệ thống tài chính tiền tệ. Sự
suy giảm giá trị hàng xuất khẩu và nền kinh tế giảm sức cạnh tranh, nhưng hàng nhập
khẩu lại tăng nhất là hàng xa xỉ ( đặc biệt là Thái Lan). Cơ cấu vốn nước ngoài đổ vào
các nước chịu khủng hoảng nặng có sự mất an toàn cao do khối lượng nợ lớn tăng
nhanh chủ yếu là vốn ngắn hạn (vốn vay thời hạn dưới 1 năm chiếm tới 70% tổng số
nợ khu vực tư nhân tại Thái Lan và Indonesia). Mặt khác, vốn huy động gián tiếp qua
thị trường chứng khoán tăng nhanh trong khi dự trũ quốc gia không cao, vì kim ngạch
xuất khẩu giảm dần, nghĩa là có sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài (mà nguồn

chính đang ở trạng thái không bình thường (Unico Housing Co.Ltd; Thai – Fuji; Royal
International; Sri Dhana; Eastern Finance;County v.v…).
Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản do thị trường
nhà đất đóng băng, mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Ngày 4 và 5/3/1997, hơn 21,4 tỷ Baht (tương đương 820 triệu USD thời đó) đã
được rút khỏi ngân hang và các công ty tài chính
Sau đó 1 tháng, ngày 9/4/1997 tỷ giá hối đoái đã tang lên 26,08 Baht/USD, cao
nhất từ năm 1991, nguyên nhân do lực cầu ngoại tệ quá mạnh
Ngày 25/6/1997, chính phủ Thái Lan đã ra lệnh đóng cửa hàng loạt các công ty
tài chính trên cả nước, ước tính khoảng 64% bị đóng cửa. Để giữ tỷ giá hối đoái trong
điều kiện lượng ngoại tệ được đặt mua tăng vọt, chính phủ đã phải bán ngoại tệ, làm
dự trữ ngoại tệ giảm mạnh từ 38,78 tỷ USD trong tháng 6/1996 còn 37,7 tỷ USD trong
Trang 2
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
tháng 12/1996 và còn 31,4 tỷ USD vào 30/6/1997, và càng ngày lượng dự trữ ngoại tệ
của Thái Lan giảm xuống, khả năng bán ngoại tệ không còn, dãn đến không thể duy trì
tỷ giá hối đoái.
Có lẽ thấy được nguy cơ này, ngày 2/7/1997, chỉnh phủ Thái Lan tuyên bô thả
nổi đồng Baht, kết quả tỷ giá từ 25 Baht(6/1997) tăng lên thành 53 Baht/USD
(1/1998), tức là 112% trong vòng 6 tháng.
Như vậy, nền kinh tế Thái Lan đã rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng trong
lịch sử, và tai hại hơn đây chính là sự khởi đầu cuôc bùng nổ của khủng hoảng ở Châu
Á.
2.2. Philippines
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3/7 ngân hàng trung ương
Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng
cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24%.Nhưng không
thành công, vào ngày 11/7/1997, Philippines tuyên bố thả nổi đồng Peso. Khiến cho
đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm
2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng.

Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc
biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên. Trước tình
hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến
cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt.
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF
khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng
lên. Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở Jakarta đã có
tới 500 người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn
tới khủng hoảng chính trị. Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống.
Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000 : 1.
Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1.
Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của
Indonesia đã giảm đi.
2.5. Hàn Quốc
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng
nợ nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong
nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị trường châu Á
bị khủng hoảng.
Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won là 844,2 KRW/USD, ngày 30/9/1997 là
914,8 KRW/USD, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc
ở quy mô lớn. Ngày 28/11/1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của
Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11/12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp
phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá.
Riêng trong ngày 7/11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4%. Ngày 24/11 lại
tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ.
Ngày 14/12/1997, Chính phủ Hàn Quốc tuyên bố mất kiểm soát đồng Won, ngày
23/12/1997, tỷ giá đồng Won là 1200 KRW/USD và đạt kỷ lục là xấp xỉ 1700
KRW/USD
2.6. Hong Kong
Trang 4

tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung
ương của nước này suy yếu.
Cụ thể các nước như sau:
Hậu quả thứ nhất về tình trạng tăng tỷ giá hối đoái khá nhanh ở các nước
bị ảnh hưởng
Bảng 1: Tỷ giá hối đoái bình quân ở các nước thì hầu hết tăng khá mạnh
Tỷ giá bình quân 1996 1997
Baht/USD 25,61 47,25
Trang 5
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
Peso/USD 26,29 39,50
Ringgit/USD 2,52 3,88
Rupiah/USD 2.308 5.400
KRW/USD 844,2 1.695,8
Nguồn: IMF
Hậu quả thứ 2 là sự thua lỗ và phá sản với quy mô và tốc độ bất thường
của hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia
Bảng 2: Tình trang thua lỗ và phá sản ở các hệ thống ngân hàng, TCTC
Năm tài chính từ 1/4/1997 đến 31/3/1998
Nước Tổng số
ngân
hàng
Số ngân
hàng bị
đình chỉ
Số ngân
hàng bị
quốc hữu
hóa

Năm 1998
14.000 doanh nghiệp phá sản
54.000 doanh nghiệp phá sản (gấp 3,8 lần
năm 1997)
(Nguồn: Trích “khủng hoảng kinh tế tài chính 1997-1999 – GS Nguyễn Thiện Nhân”)
Hậu quả thứ tư, số người thất nghiệp tăng nhanh và tăng trưởng kinh tế giảm
sút.
Bảng 4: Tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp
Trang 6
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
Nước Tăng trưởng kinh tế (%) Tỷ lệ thất nghiệp(%)
1996 1997 1998 1996 1997 1998
Thái Lan 6,7 -0,4 -8,3 3,3 3,7 8,8
Malaysia 8,2 7,0 2,0 2,6 2,7 5,0
Indonesia 7,8 4,6 -13,7 2,2 3,0
Philippine
s
5,8 5,2 -0,5 9,5 10,4 3,3
Hàn Quốc 7,1 5,5 5,8 2,3 2,5 8,0
(Nguồn: Trích “khủng hoảng kinh tế tài chính 1997-1999 – GS Nguyễn Thiện
Nhân”)
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng khác là là GDP và GNP bình quân đầu
người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi. Nội tệ mất giá là
nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu
nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống
còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD,
của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn
tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil. Một số nước không bị
khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI

chặt chẽ. Nếu số ngân hàng này không đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thì bắt
buộc phải tái cấu trúc vốn và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn đồng thời phải được
giám sát chặt của các cơ quan công quyền.
• Thứ bảy, chính phủ đứng ra mua lại, quốc hữu hóa một số ngân hàng hoặc
thành lập một công ty quản lý mua bán nợ trung gian sau đó sẽ tái vốn hóa
những ngân hàng này hoặc bán lại cho một ngân hàng, tổ chức tài chính khác
• Thứ tám, chi phí cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tài chính là vô
cùng lớn. Ước tính chi phí thiệt hại ngân sách phải gánh chịu để đối phó với
khủng hoảng tài chính và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tài chính của 4 nước
Châu á năm 1997 – 1998 nằm trong khoảng từ 15 đến 45% GDP.
• Thứ chín, vai trò của nhà nước và sự quyết tâm chính trị cao là nhân tố quan
trọng giúp cho quá trình tái cấu trúc thành công.
• Thứ mười, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không thể tách rời với tái cấu trúc hệ
thống doanh nghiệp
Sau khi tái cấu trúc, những tiêu chuẩn, chuẩn mực nội địa của hệ thống ngân
hàng – tài chính của tất cả các nước đều tiến gần hơn tới những chuẩn mực và thông lệ
quốc tế. Sự minh bạch hóa thông tin hệ thống tài chính, ngân hàng được cải thiện, khả
năng giám sát và cảnh báo sớm của các cơ quan chức năng cũng hiệu quả hơn. Đặc
biệt, kỹ năng phân tích và dự báo từ những bài học trong quá khứ và các trường hợp
điển hình trên thế giới được vận dụng sát với thực tiễn và hoàn cảnh điều kiện của mỗi
nước cũng là những nhân tố đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống
ngân hàng – tài chính của các nước trong suốt giai đoạn từ khi xảy ra khủng hoảng đến
nay.
I. Nguyên nhân
1.1. Nguyên nhân sâu xa:
Chính phủ Mỹ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài.
Trang 8
Phần 2: Khủng hoảng
tài chính thế giới 2008
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008

dụng, đây chính là nguyên nhân tạo nên khủng hoảng
Chứng khoán hóa
Là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có
thể trao đi đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản trở thành những chứng
khoán có tính thanh khoản cao (cụ thể là chứng khoán hóa BĐS).
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản
vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục
tín dụng bất động sản tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài
Trang 9
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
sản càng tăng, làm cho bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa là giá trị tài sản
đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng. Vòng xoáy tiếp tục như
vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không
nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục
chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả, là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần
lượt báo cáo khoán lỗ kinh doanh.
Các công ty định mức tín nhiệm
Là tổ chức đặc biệt đứng ra xếp hạng các rủi ro của các doanh nghiệp, các
khoản vay tín dụng, có thế chấp. Việc các công ty này đưa ra mức tín nhiệm đối với
một doanh nghiệp, ngân hàng gây ra sức ì tâm lý đến các nhà đầu tư. Mặc dù, các tổ
chức định mức tín nhiệm luôn khẳng định rằng họ tuân thủ một cách chặt chẽ những
quy tắc đạo đức nghề nghiệp, thực tế đã trả lời rằng hàng loạt những khoản vay được
định giá AAA để thực hiện chứng khoán hóa là những khoản vay thứ cấp, người đi
vay k trả được nợ, dẫn đến hiệu ứng domino trong hệ thống tài chính.
CDS – hợp đồng hoán đổi tín dụng
CDS giống như hợp đồng bảo hiểm, vì chúng có thể được các chủ nợ mua để
phòng nguy cơ bên vay không thanh toán được nợ. Tuy nhiên, trên thực tế, do không
có yêu cầu cầm cố tài sản nào nên CDS cũng có thể được sử dụng cho các mục đích
đầu cơ. Do ngày càng có nhiều các công ty của Mỹ không thanh toán được số chứng
khoán phát hành khi suy thoái kinh tế ngày một lún sâu nên sự đổ vỡ của các CDS là

• Từ tháng 5/2001 đến 12/2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5%
xuống còn 1,75%, tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo => đi vay ồ ạt kể cả
nhằm mục đích đầu cơ=> hình thành nên bong bóng nhà ở.
• Năm 2002 – 2004: giá cả nhà đất tại các bang California, Florida, Hawaii và
Nevada tăng trên 25%/ năm. Sự bùng nổ nhà đất của Mỹ bắt đầu.
• Năm 2005: bong bóng nhà ở Mỹ bắt đầu rạn nứt vào 8/2005. Tỷ lệ lãi suất cho
vay BĐS tăng từ 1% lên 5,35%
• Năm 2006 Thị trường BĐS tiếp tục suy giảm => một lượng nhà dư thừa đáng
kể.
• Năm 2007: hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản, gần 1,3 triệu
BĐS nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006.
• Ngày 5/2: công ty Mortage lenders network USA đủng thứ 15 trong số các nhà
cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ phá sản (dư nợ 3,3 tỷ USD)
• Ngày 2/4: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ, nộp
đơn phá sản theo chương 11 Luật phá sản Mỹ.
• Ngày 31/7: Hai quỹ đảm bảo của Bear Stearns phá sản
• Ngày 16/8: tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất
nước Mỹ phải vay 11 tỷ USD từ các ngân hàng khác để tránh phá sản.
• Ngày 18/9: FED tiếp tục hạ mức hệ số chiết khấu 50 didemr cơ bản xuống còn
5,25,%
• Từ ngày 15-17/10: CitiGroup – công bố lợi nhuận quý 3 giảm 57% do các
khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD. Giám đốc điều hành
CitiGroup phải từ chức.
• Ngày 31/10: FED hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4,5 %
• Tháng 12/2007: tổng thống G. Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2
triệu chủ sỡ hữu BĐS
• Ngày 11/12 FED hạ lãi suất quỹ liên bang xuống 4,25 %
2.1.2. Năm 2008
• Ngày 11/1: Bank of American bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại Countrywide
Financial. Và FED tiếp tục hạ lãi suất 50 điểm xuống còn 3,5 %

• Ngày 14/9/2007: ngân hàng Northern Rock (Anh) gặp vấn đề nghiêm trọng về
khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.
• Tháng 1/2008: ngân hàng khổng lồ Thụy Sĩ UBS tuyên bố cắt giảm 18 tỷ USD
vào thị trường BĐS
• Ngày 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa ngân hàng Northern Rock
• Ngày 16/3/2008: ngân hàng Đức thông báo thua lỗ 141 triệu Euro trong quý 1
• Ngày 17/7/2008: Martina – Fadesa, hãng đầu tư tài sản lớn nhất Tây Ban Nha
tuyên bố phá sản
• Ngày 29/9/2008: Chính phủ Anh quyết định can thiệp để giữ lại nhà cho vay thế
chấp quan trọng Bradford & Bingley. Chính phủ Hà Lan, Bỉ và Luxembuorg
quyết định tiếp quản phần lớn ngân hàng Belgian – Dutsch
Trang 12
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
• Ngày 4/10/2008: tổng thống Pháp triệu tập cuộc họp khẩn cấp với lãnh đạo 4
nước EU (Anh, Pháp, Đức, Ý) bàn về xử lý khủng hoảng, nhưng không được
thống nhất
• Ngày 5/10/2008: Thủ tướng Đức Angela Merkel chỉ trích quyết định của
Ireland về bảo hiểm toàn bộ tài khoản ngân hàng tại Ireland
• Ngày 6/10/2008: ngân hàng BNP Paribas SA của Pháp gửi Email thông báo
thõa thuân chi 14,5 tỷ Euro để mua lại ngân hàng Fortis.
2.3. Tại các châu lục khác
• Ngày 17/12/2007: khủng hoảng lan rông san tập đoàn Centro Properties (Úc) .
Cổ phiếu Centro Properties tụt giá 70% tại các giao dịch Sydney
• Ngày 10/1//2008: tập đoàn bảo
hiểm Yamoto Life Insurance Co.
chính thức đệ đơn xin bảo bộ phá
sản. và đây là cột mốc đánh dấu
cuộc khủng hoảng lan sang Châu
Á
3. Hậu quả cuộc khủng

0,105%/năm, lãi suất Libor kỳ hạn qua đêm tăng kỷ lục 6,87%/năm ngày 30/9/2008
giảm xuống mức thấp kỷ lục 0,11% vào ngày 19/12/2008
Trang 14
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
Nguồn: World Economic Outlook
3.5. Đồng USD lên giá so với đồng tiền khác
Những diễn biến ngoài dự đoán của thị trường tài chính làm bùng nổ khủng
hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nhu cầu thanh khoản USD của các ngân hàng trên
toàn thế giới tăng đột biến, đẩy đồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác.
Đồng thời, nguy cơ suy thoái kinh tế tại những nền kinh tế đối trọng của Mỹ như khu
vực đồng EUR, Nhật Bản đã làm giảm lợi thế cạnh tranh giữa các đồng tiền này với
USD. Diễn biến đồng USD từ lúc bắt đầu khủng hoảng đến 12/1 lên giá 6,99% so với
EUR; lên giá 18,06% so với GBP; nhưng giảm giá 17,3% so với YPJ và ổn dình so với
CNY.
3.6. Suy thoái kinh tế trên diện rộng
Tại Mỹ, những ông lớn trong ngành công nghiệp ô tô như Ford, Chrysler …
phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Tháng 9/2008, sản xuất trong toàn nước Mỹ giảm
mạnh nhất trong vòng 34 năm qua với mức giảm 2,8% so với tháng 8/2008. Sản lượng
chế tạo giảm 2,6% trong tháng 9, chỉ số vận hành công xưởng tụt xuống 74,5% dưới
mức trung binh 35 năm 5 điểm kể từ 1972-2007. Kinh doanh của các nhà xây dựng
giảm mức thấp nhất. Tháng 10/2008 mức cắt giảm việc làm lớn nhất Mỹ kể từ tháng
1/2004, 157.000 việc làm bị mất. tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng cao. Tháng 9/2008 mức
giảm bán lẽ là 1,2% giảm xuống còn 0,7% trong tháng 10.
Trang 15
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
Tại Châu Âu, tăng trưởng kinh tế trong năm 2008 cũng suy giảm, đặc biệt là từ
cuối tháng 9 đến đầu tháng 10/2008
Bảng tăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro và EU 2006-2009
2006 2007 2008 2009
Khu vực đồng Euro 2,8 2,6 1,3 0,2

Nguồn: IMF
Nguồn: EU
Commission
Nguồn: EU Conmission
Khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính thế giới 2008
trong 2 năm tới. 65% giá trị của gói kích thích này là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và
35% là giảm thuế. Như vậy, cho đến nay, tổng trị giá gói kích thích kinh tế của Mỹ
qua các đợt đã lên đến 2.250 tỷ USD.
Các nước EU cũng triển khai các gói kích thích kinh tế lớn để đối phó với
khủng hoảng. EU khuyến nghị các nước thành viên cam kết không giảm ngân sách,
thực hiện sớm kích cầu thông qua giảm thuế, tăng cho vay ngắn hạn, cải thiện môi
trường đầu tư, giảm chi phí hành chính và tăng cường đổi mới công nghệ. Là một
trong những nền kinh tế đầu tàu của EU, tháng 12-2008, Đức chi các gói cứu trợ kinh
tế đầu tiên với 31 tỷ USD, gói thứ hai 50 tỷ USD được Hạ viện thông qua ngày 13-2-
2009, tập trung vào xây dựng trường học, đầu tư đường bộ, đường sắt, internet băng
thông rộng, xây dựng, khai thác các nguồn năng lượng sạch.
Tại Pháp, Chính phủ Pháp liên tiếp đã đưa ra những biện pháp đối nội và đối
ngoại để để đối phó với khủng hoảng. Dành 26 tỷ ơ-rô để đầu tư vào 1.000 dự án ưu
tiên trong các lĩnh vực: kết cấu hạ tầng đường bộ và đường sắt; xây dựng nhà ở xã hội;
quốc phòng và an sinh; giáo dục bậc cao và nghiên cứu; bảo tồn bảo tàng. Ngoài biện
pháp hỗ trợ bán ô tô thông qua việc thưởng 1.000 euro cho những người mua ô tô
sạch, chính phủ dành 7,8 tỷ ơ-rô để hỗ trợ hai doanh nghiệp sản xuất ô tô PSA
(Peugeot) và Renault. Tây Ban Nha cũng nhanh chóng thành lập Quỹ đặc biệt kích
thích kinh tế và tạo công ăn việc làm của nhà nước với nguồn vốn 11 tỷ ơ-rô nhằm
mục tiêu tạo ra 300.000 việc làm mới trong năm 2009.
Tại Anh, Anh là nền kinh tế không sử dụng đồng ơ-rô (eurozone).Ngay từ
tháng 9-2008, nước này đã đưa ra kế hoạch giải cứu tổng thể đầu tiên với 400 tỷ bảng
nhằm cung cấp tín dụng, tiếp quản một số ngân hàng lớn có nguy cơ đổ vỡ… Tiếp
đến, tháng 11-2008, đưa ra gói giải pháp kích cầu trị giá 20 tỷ bảng nhằm giảm thuế
VAT; tăng chi của chính phủ, điều chỉnh một số chính sách thuế với doanh nghiệp; an

kích thích kinh tế 6,3 tỷ USD nhằm miễn thuế VAT cho 17 lĩnh vực ưu tiên, tạo việc
làm và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân. Phi-li-pin kích thích kinh tế với 6,3 tỷ USD, tập
trung đầu tư công cho phát triển hạ tầng và nông nghiệp, tăng cường an sinh xã hội, y
tế, giáo dục…
Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 đã gây ảnh hưởng đến hầu
hết các quốc gia, xuất phát điểm là ngành Tài chính tại Mỹ, nhưng nó đã gây ảnh
hưởng đến hầu hết các lĩnh vực khác của các quốc gia, nhiều doanh nghiệp phá sản,
hiện tượng sáp nhập, phá sản của các ngân hàng, tổ chức tài chính diễn ra liên tục cho
đến nay, tốc độ phát triển kinh tế chậm lại, lạm phát tăng v.v… Do vậy, nhiều quốc
gia đã rút ra những bài học và đã có những đối sách, biện pháp khắc phục hậu quả của
cuộc khủng hoảng. Hiện nay, cơ bản nền kinh tế có xu hướng phát triển trở lại.
Kết luận
Sau khi tìm hiểu cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997 và cuộc khủng hoảng tài chính
thế giới 2008, cả hai cuộc khủng hoảng đã cho thấy rằng, xu thế toàn cầu hóa thì cần
phải có sự chuẩn bị thích đáng cho quá trình này đó là tự do hóa tiền tệ. Vừa phải tự
do hóa đồng bộ, vừa phải thận trọng, tính đầy đủ trên điều kiện, tình hình thực tế của
mỗi quốc gia.
Cuộc khủng hoảng cũng đòi hỏi các nước nên có một cơ chế bồi dưỡng các bộ
quản lý nhà nước đặc biệt là ngành Tài chính – Ngân hàng. Vì đây được xem là ngành
huyết mạch của nền kinh tế.
Cuộc khủng hoảng cũng chỉ ra rằng, các quốc gia nên xem xét tình hình tài
chính của thế giới trước những diễn biến xấu, để đưa ra những đối sách phù hợp tình
hình thực tiễn tại các nước.
Trang 18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status