Tiểu luận môn tài chính quốc tế Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - Pdf 27

Mục lục
Phần 1: Lí thuyết tổng quan
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại khủng hoảng tài chính.
1.1.1.1. Khái niệm khủng hoảng tài chính
Có rất nhiều khái niệm về khủng hoảng tài chính nhưng tóm lại khủng hoảng tài chính
được hiểu là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng
đầy đủ bổn phận, nghĩa vụ tài chính của mình. Hay nói cách khác khủng hoảng tài chính
là tình trạng tài chính (quỹ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Khủng
hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung. Nhu cầu về tiền mặt
của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và
thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính có thể sụp đổ.
1.1.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, có hiện tượng khan hiếm tín dụng, cầu về dự trữ quá lớn khiến cho ngân
hàng không thể cùng một lúc đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người.Giá trị tài sản của
ngân hàng giảm mạnh dẫn đến mất khả năng trả nợ. Điều này dẫn đến một số ngân hàng
sụp đổ và xuất hiện tình trạng đổ xô đến các ngân hàng, các “bong bóng” giá tài sản nổ
tung, sự sụt giá ban đầu trong các giá trị tài sản buộc các ngân hàng phải bán tiếp tài sản
và làm giá tài sản giảm mạnh hơn nữa. Các khoản tín dụng hình thành trong thời điểm
bùng nổ thì được mang ra bán tháo.
Thứ hai, toàn bộ bộ máy tài chính – tín dụng quốc gia lâm vào tình trạng tồi tệ: sự phá
vỡ hệ thống thanh toán, tài chính nhà nước; sự phá sản của các định chế tài chính trung
gian; phá giá đồng nội tệ, áp lực lạm phát.
Thứ ba, cán cân thanh toán, cán cân mậu dịch, ngân sách nhà nước bị mất cân bằng
nghiêm trọng.
Thứ tư, vay nợ nước ngoài tăng nhanh và có thể kéo tới suy thoái kinh tế trầm trọng.
Ngoài những biểu hiện trên khủng hoảng tài chính còn được thể hiện qua những tác
động tiêu cực khác đến nền kinh tế của các nước, gây ra tăng trưởng kinh tế chậm và có
thể kéo theo suy thoái kinh tế ở nhiều nơi. Bên cạnh đó dự báo quan trọng trước một cuộc
khủng hoảng tài chính là khi một nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và có một tỷ giá hối
đoái quá yếu hoặc quá mạnh. Điều này được lý giải là do đẩy sự đầu tư vào thị trường

thứ cấp là một phần của thị trường tài chính, là nơi mà các cổ phiếu/trái phiếu đã phát
hành lần đầu được mua đi bán lại.Thị trường sơ cấp không phổ biến, vì các chứng khoán
được phát hành lần đầu thường không công khai cho công chúng. Để cổ phiếu có thể
được phát hành trên thị trường sơ cấp, thì phải có sự tham gia của một định chế tài chính
có vai trò rất quan trọng, đó là ngân hàng đầu tư. Ngân hàng đầu tư sẽ bảo lãnh phát hành
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 3
chứng khoán: cam kết đảm bảo một mức giá tối thiểu cho cổ phiếu của công ty và bán cổ
phiếu ra công chúng.
Thị trường thứ cấp có 2 nhiệm vụ quan trọng.
• Thứ nhất, nó giúp các công ty dễ dàng và nhanh trong bán các sản phẩm tài chính
(cổ phiếu, trái phiếu…) của mình ra thị trường để thu về tiền mặt, tức là thị trường
thứ cấp tạo tính thanh khoản cho sản phẩm tài chính.
• Thứ hai, thị trường thứ cấp giúp xác định giá cả của các cổ phiếu mà công ty phát
hành trên thị trường sơ cấp. Giá cổ phiếu trên thị trường sơ cấp càng cao thì công
ty sẽ thu về được nhiều vốn hơn khi tiến hành phát hành thêm cổ phiếu.
1.1.3. Thế chấp dưới chuẩn
Một khoản thế chấp là một khoản cho vaydài hạn được đảm bảo bằng bất động sản. Các
khoản vay dưới chuẩn là những khoản cho vay dành cho những người vay không đủ điều
kiện vay mượn ở lãi suất thị trường thông thường – vì họ có xếp hạng tín dụng cá nhân
thấp và vì các khoản vay này vượt quá khả năng chi trả nếu căn cứ trên thu nhập của họ.
Vay dưới chuẩn cho mua xe, thẻ tín dụng là những ví dụ điển hình.
1.1.4. Chứng khoán hoá các khoản thế chấp
Chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp:
Các khoản cho vay thế chấp dưới chuẩn thường rất khó bán để thu hồi lại vốn vì chúng :
o nhỏ lẻ, khó kết hợp các khoản vay thế chấp lại với nhau
o yêu cầu thẩm định một khoản vay dưới chuẩn thường phức tạp
o luôn có biến động lớn về rủi ro
ví dụ: khoản vay thế chấp mua nhà 250000 USD ,
Do vậy, nhằm huy động vốn thì các định chế tài chính đã phát hành chứng khoán nợ mà
tài sản đảm bảo là các khoản vay thế chấp: các khoản vay thương mại, các khoản vay thế

Như vậy, có thể nói rằng những quyết sách sai lầm của Bill Clinton, Alan Greenspan, và
sự bất ổn kinh tế vĩ mô đã ươm mầm cho cuộc khủng hoảng 2007.
2.2. Những nguyên nhân cốt lõi của cuộc khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng 2007-2009 có thể truy ra từ 3 nguyên nhân cốt lõi: Do sự phát triển
của thị trường thế chấp, vấn đề chi phí đại diện và vai trò của sự bất cân xứng thông tin
trong việc đánh giá xếp hạng tín dụng.
Trong giai đoạn trước năm 2000, chỉ có những người có xếp hạng tín dụng tốt nhất mới
có thể tiếp cận các khoản vay thế chấp.Máy tính và những tiến bộ trong khoa học tài
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 5
chính đã giúp tiến hành tính toán và gộp các khoản vay nhỏ (các khoản vay thế chấp) này
lại với nhau để tạo thành các chứng khoán nợ đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS –
Mortgage Backed Securities). Nhờ việc có thể thu về dòng tiền từ các cổ phiếu MBS và
khả năng thanh khoản dồi dào, các ngân hàng đã cho vay dưới chuẩn nhiều hơn. Số lượng
các khoản vay dưới chuẩn tăng và rủi ro của chúng không đồng đều. Trong khi đó các
nhà đầu tư trên thị trường có xu hướng chấp nhận rủi ro không đồng đều, do vậy một
danh mục các khoản vay thế chấp đã được cấu trúc thành các trái phiếu được đảm bảo
bằng các khoản nợ có thế chấp (CMO – Collateralized Mortgage Obligations) với 3 gói
khác nhau: Gói siêu hạng (super trance) – xếp loại tốt nhất, gói cấp trung (mezzanine
tranche) và gói sở hữu (equity tranche) – xếp loại rủi ro nhất và nằm cuối cùng trong
chuỗi thanh toán, dưới 2 gói trên. Trong cùng thời gian này, các kỹ thuật tài chính tinh vi
phát triển hơn, cùng với các khoản nợ thế chấp, nhóm tài sản bảo đàm còn bao gồm thêm
một số lượng lớn những khoản vay công ty, vay mua ô tô, thẻ tín dụng… Và loại trái
phiếu được đảm bảo bằng các khoản nợ có bảo đảm (CDO – Collateralized Debt
Obligations). Các khoản bảo đảm của CDOs không đồng nhất và được chia theo tiêu
chuẩn thanh toán (CDO1, CDO2,…), mỗi gói CDO có các đặc điểm và rủi ro khác nhau.
Cấu trúc của các CMO, CDO này phức tạp đến nỗi chúng được tạo ra không phải bởi các
chuyên gia ngân hàng mà bởi các tiến sỹ toán học, thống kê học, và các nhà khoa học tài
chính. Sự phát minh ra chứng khoán hoá nợ dưới chuẩn và các kỹ thuật tài chính tinh vi
đã giúp ngân hàng đóng gói các khoản nợ, bán nó ra thị trường, thu về dòng tiền, dòng
tiền sau đó lại quay trở lại thị trường thế chấp dưới chuẩn, và làm phình to hơn bong

được không dựa trên thành quả dài hạn mà ảnh hưởng bởi giá cả (chứng chỉ quỹ) trên thị
trường chứng khoán, và giá chứng chỉ quỹ này thì lại phụ thuộc vào việc lợi nhuận hàng
quý có ở mức cao hay không. Có thể nói vấn đề đại diện cũng chính là nguyên nhân
khiến cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp lan rộng.
Với sự ưa thích rủi ro của mình, nhiều người dân xếp hàng đi vay thế chấp để mua nhà, vì
họ tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng giá nhà đất sẽ tăng liên tục, bất chấp việc họ biết rõ
nếu giá nhà đất giảm xuống, họ sẽ mất tất cả. Chính những quy định lỏng lẻo trong việc
thẩm định cho vay và vấn đề chi phí đại diện tạo điều kiện cho họ có thể dễ dàng tiếp cận
các khoản vay thế chấp, bất chấp họ không đủ khả năng thanh toán, hoặc có thể gian lận
thông tin để được chấp nhận cho vay. Mặt khác, các công ty bảo hiểm tài chính như AIG
cũng thu được rất nhiều phí bảo hiểm từ việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm trị giá hàng
trăm tỉ đô la hợp đồngCDS - Credit Default Swap (Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng).
Khi một CMO, CDO được kí một hợp đồng CDS, thì nó sẽ được đánh giá giảm rủi ro,
làm tăng xếp hạng tín dụng, như vậy những công ty bảo hiểm như AIG cũng chính là một
thủ phạm tiếp tay cho việc CMO, CDO lan rộng.
Nguyên nhân cốt lõi tiếp theo dẫn đến sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng là do sự bất cân
xứng thông tin của các tổ chức xếp hạng tín dụng với nhà đầu tư. Các tổ chức này là
người đánh giá rủi ro của các chứng khoán nợ, nhưng đồng thời cũng là người tư vấn cho
các khách hàng của họ trong việc làm thế nào để cấu trúc các công cụ tài chính (chẳng
hạn như CDOs) sao cho xếp hạng tín dụng tốt.Nếu như các cơ quan đánh giá tín dụng
làm đúng chức năng của mình, thì các tài sản thế chấp sẽ ít được bán cho các quỹ hưu trí,
và độ lớn của bong bóng có thể được hạ thấp đáng kể. Nhưng những công ty này, vì
muốn kiếm được khoản lợi nhuận rất lớn thu được từ việc tư vấn xếp hạng tín dụng và
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 7
việc xếp hạng tín dụng nên đã đánh giá và công bố không chính xác rủi ro của các chứng
khoán nợ, vànhững thông tin sai lệch này đã khiến nhà đầu tư không nhận thức chính xác
được rủi ro của chứng khoán nợ.
2.3. Lý do khiến cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp của Mỹ lan rộng
Như đã phân tích ở phần trên, chính sách tiền tệ nới lỏng, vấn đề chi phí đại diện khiến sự
bất cân xứng thông tin dẫn đến rủi ro không được nhận diện đúng đắn đã khiến cuộc

trước, họ buộc phải gia tăng tiết kiệm và chính phủ thực hiện chính sách “thắt lưng buộc
bụng”, cầu tiêu dùng tại Mỹ sụt giảm đã khiến nền kinh tế nhiều nước châu Á lao đao.
Kết luận: cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp bùng nổ và lan rộng có thể quy lại từ những
nguyên nhân sau:
- Do sai lầm trong việc nới lỏng các quy định dành cho ngân hàng (đạo luật
Gramm-leach-Bliey).
- Sai lầm trong việc điều hành chính sách tiền tệ (FED hạ lãi suất xuống 1%)
- Do sự phát triển của thị trường thế chấp và khoa học tài chính
- Vấn đề chi phí đại diện
- Sự bất cân xứng thông tin của các tổ chức xếp hạng tín dụng và các quy định lỏng
lẻo trong việc thẩm định cho vay.
- Sự xuất khẩu lý thuyết thị trường tự do của Mỹ
- Cầu tiêu dùng của thị trường Mỹ sụt giảm.
Phần 3: Diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu
3.1. Giai đoạn 1 từ năm 2001-2004: FED cắt giảm lãi suất -
giá bất động sảnhình thành bong bong
Cho đến năm 2001, khi những tàn dư của khủng hoảng Dot-com ở Mỹ còn chưa
chấm dứt thì ngày 11/9/2001 cả thế giới kinh hoàng chứng kiến vụ khủng bố ngay trong
lòng nước Mỹ làm tòa tháp đôi sụp đổ. Thời điểm đó đánh dấu sự hình thành của bong
bóng nhà đất trên thị trường Mỹ sau khi Cục dự trữ liên bang Mỹ 11 lần giảm lãi suất từ
mức 6.5% xuống mức 1.75%, nhằm vực dậy nền kinh tế đang suy thoái sau sự sụp đổ của
ngành công nghiệp Dot-com và cơn hoảng loạn sau vụ khủng bố.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 9
Biểu đồ 3.1.1 Lãi suất của Mỹ giai đoạn 01/2000 đến 03/2013 (Nguồn:
)
Từ năm 2002 đến 2004, được sự hỗ trợ của lãi suất thấp giá cả ở các bang Arizona,
California, Florida, Hawai và Nevada tăng trên 25% một năm. Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ
bắt đầu. Bong bóng nhà đất kéo dài suốt giai đoạn 2001-2005, lãi suất thấp đã khuyến
khích người dân mua nhà từ nguồn vay cầm cố, đẩy giá nhà liên tục leo thang, giá nhà
tăng 10% năm 2002 và tăng bình quân trên 25%/năm vào giai đoạn 2003-2005. Nhưng sự

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 11
Nguồn:
3.3 Giai đoạn 3 từ cuối năm 2007 đến 2009: khủng hoảng tài chính bùng phát
và lan nhanh trên diện rộng
Từ năm 2007-2009: cuộc khủng hoảng từ ngành bất động sản Mỹ bắt đầu lan rộng ra
các lĩnh vực khác của nền kinh tế và lan ra toàn câu. Hàng loạt thể chế tài chính Mỹ phải
chịu cảnh phá sản, kể cả những tổ chức có lịch sử lâu đời từng sống sót qua cuộc khủng
hoảng 1930-1933
Cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra hết sức tàn khốc ở Mỹ, cuộc đại khủng hoảng
2008 bắt đầu phát triển là và lan rộng ra các nước công nghiệp Châu Âu, làm nhiều công
ty phá sản. Những nạn nhân đáng kể đầu tiên đều liên quan trực tiếp tới hoạt động cho
vay dưới chuẩn như Northern Rock và Countrywide Financial vào tháng 8 và 9/2007.
Northern Rock, ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh, vào tháng 9/2007, sau khi mất thanh khoản
nghiêm trọng do hoạt động cho vay thế chấp bất động sản đã phải cầu cứu NHTW Anh.
Nhà đầu tư lũ lượt kéo đến rút tiền khiến Chính phủ buộc phải tiếp quản tập đoàn này.
Trước đó, Country Financial, tập đoàn tài chính chuyên cho vay thế chấp địa ốc Mỹ cũng
bị phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007. Đến tháng 1/2008, ngân hàng lớn nhất nước
Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã mua lại Country Financial với giá
trị 4 tỷ USD. Tiếp đến, vào ngày 17/02/2008, Northern Rock chính thức bị quốc hữu
hóa. Sự kiện Northern Rock và Financial là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đổ xuống thị
trường tài chính toàn cầu. Nhưng cơn địa chấn thực sự nổ ra vào ngày 7/9/2008 khi hai
nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được
chính phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản.Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ
đổ vỡ với những tên tuổi cỡ lớn khác. Vào ngày 15/09/2008, ngân hàng đầu tư lớn thứ 4
nước Mỹ, Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản. Đúng 10 ngày sau,
Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất lịch sử vởi tổng thiệt hại lên
tới 307 tỷ USD.Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, vào ngày 14/09/2008 ngân hàng đầu
tư số một nước Mỹ, Merill Lynch cũng bị thâu tóm bởi Bank of America. Tiếp đó,
17/09/2008, chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ USD cho AIG, tập đoàn bảo hiểm lớn
nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ hơn nữa.

ngân hàng của quốc gia từng có thu nhập trên đầu người cao nhất thế giới, chính phủ
Iceland đã phải đóng cửa thị trường chứng khoán và quốc hữu hóa những ngân hàng hàng
đầu. Tại Châu Á, kinh tế Hàn Quốc cũng báo động đỏ khi đồng won mất giá hơn 40% kể
từ đầu năm 2008, chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩn cấp như
cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính. Trước tình hình trên Quỹ tiền tệ
quốc tế đã phải can thiệp bằng cách bơm tiền vào Iceland, Hungary và Ukraine để ngăn
chặn những kết cục tồi tệ hơn có thể xảy ra. Nhiều nền kinh tế lớn như Nhật và EU tuyên
bố rơi vào suy thoái. Tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sự
giảm sút trong các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng như chi tiêu của người dân.
Hệ quả của tình trạng trên là nhiều doanh nghiệp phá sản và đẩy tỷ lệ thất nghiệp tại
nhiều quốc gia tăng cao, chi tiêu và chỉ số lòng tin của người tiêu dùng rơi xuống mức
thấp nhất trong nhiều năm. Trong ba tháng, tính tới cuối tháng 9/2008, đã có hơn 30.000
doanh nghiệp Mỹ phá sản. Chưa dừng lại ở đó, mọi chuyện còn có thể tồi tệ hơn nữa nếu
ba nhà sản xuất xe hơi hàng đầu là Ford, General Motors (GM), và Chrysler phá sản. Kể
từ đầu năm đến nay, ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ đã bị khủng hoảng tài chính
"quật" cho tơi tả.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 13
Bước sang năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tiếp tục tác động tiêu cực
đến nền kinh tế các nước trên toàn thế giới. Tăng trưởng kinh tế giảm, sản xuất công
nghiệp sụt giảm mạnh trong những tháng đầu năm 2009. Tiêu biểu là ngành công nghiệp
ô tô của Mỹ. Bên cạnh đó, ngành ngân hàng Mỹ tiếp tục gặp khó khăn khi số ngân hàng
bị giải thể từ tháng 1 đến tháng 12/2009 đã lên tới con số 140. Đây là con số kỷ lục về số
vụ giải thể ngân hàng tại Mỹ kể từ năm 1992. Năm ngoái, chỉ có 25 ngân hàng Mỹ đổ vỡ.
Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ cho hay, cơ quan này đã phải chi 30 tỷ USD để
giải quyết các vụ đóng cửa ngân hàng trong năm nay và dự kiến sẽ phải chi thêm khoảng
100 tỷ USD cho công tác này trong bốn năm tới. Mặt khác, đồng đô la Mỹ USD - đơn vị
tiền tệ thuộc loại mạnh nhất trên thế giới đã trải qua một năm tuột dốc không phanh.Bên
cạnh Mỹ, nền kinh tế Nhật Bản cũng bị suy giảm mạnh. Theo các số liệu được công bố
hôm 9/12/2009 từ Văn phòng nội các Nhật Bản, trong quý III/2009, GDP của Nhật giảm
0,3% so với quý II/2009. Văn phòng Nội các Nhật Bản cho hay, nguyên nhân chủ yếu

4.1. Những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến nền kinh tế
thế giới
4.1.1. Tác động tới thị trường chứng khoán
• Có thể nói những tác động đầu tiên và mạnh mẽ nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu là những tác động lên thị trường chứng khoán. Trong năm 2008, cũng do tác động của
cuộc khủng hoảng nên thị trường tài chính toàn cầu mất khoảng 17.000 tỷ USD. Thị trường
chứng khoán các nước mới nổi giảm 54,72%, thị trường các nước phát triển giảm 42,72%.
Mức sụt giảm cao nhất rơi vào các nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc khoản hơn
70%. Ma-rốc và Israel là những thị trường có diễn biến tốt nhất.
• Chứng khoán Chây Mỹ, Châu Âu, Châu Á sụt giảm kỷ lục
Ở châu Á, các thị trường đều mất điểm mạnh từ 40,7% đến 65,9% - cùng đó là hàng
nghìn tỷ USD đã bốc hơi khỏi thị trường này. Chỉ số KOSPI của Hàn Quốc có mức giảm
thấp nhất (-40,7%), trong khi chỉ số VN-Index của Việt Nam, chỉ số Shanghai Composite
của Trung Quốc giảm mạnh nhất với sự sụt giảm hơn 65% giá trị so với các thị trường
được đưa vào so sánh.Riêng chỉ số Nikkei 225 của Nhật đã giảm tới 42,1% - mức giảm
mạnh nhất kể từ năm 1990 (-39%).
Ở châu Âu, chỉ số CAC 40 của Pháp đã giảm mạnh nhất (-42%) và chỉ số FTSE 100 của
Anh giảm ít nhất (31,5%). Chỉ số DAX của Đức đã giảm 39,5%.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 16
Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy, ở hầu hết các thị trường, ngưỡng giá trị mở cửa năm
2008 cũng gần bằng với ngưỡng cao nhất trong năm, trong khi đó ngưỡng giá trị đóng
cửa ngày cuối năm đã cao hơn điểm thấp nhất trong năm một tỷ lệ % nhất định. Như vậy,
xu hướng tăng điểm phần nào đã diễn ra vào thời điểm cuối năm.
Trong khi đó, ở biểu đồ dưới đây, chúng ta có thể thấy rõ hơn về xu hướng đường biểu
diễn ngưỡng giá trị đầu năm của các chỉ số chứng khoán luôn bám sát ngưỡng giá trị cao
nhất trong năm 2008.
Cơn bão tài chính đã tác động mạnh tới thị trường chứng khoán toàn cầu khiến các chỉ số
chứng khoán có nhiều ngày giảm trên 10% và có ngày tăng trên 10%, điều được cho là
bất thường từ nhiều chục năm nay.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 17

Đến tháng 10/2009, thương mại thế giới có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn thấp hơn mức
tăng trưởng thương mại cùng kỳ giai đoạn trước khủng hoảng là 2,1%.
Bên cạnh đó, tổng giá trị nhập khẩu của những nước có thu nhập cao cũng sụt
giảm. Sự sụt giảm tổng giá trị nhập khẩu của toàn thế giới giảm 40% tốc độ hàng năm
vào quý I/2009, trong đó nhập khẩu của các nước có thu nhập cao trên thế giới giảm 24%
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 18
so với tháng 4/2008, nhập khẩu của các nước đang phát triển giảm 25%. Sự sụt giảm
thương mại này ít rõ rệt hơn ở các nước Châu Á, một phần vì kích thích tài chính ở Trung
Quốc. Hầu hết các đối tác thương mại của Trung Quốc được hưởng lợi từ việc tăng nhập
khẩu trở lại của Trung Quốc. Trong quý III/2009, nhu cầu nhập khẩu đều tăng giữa hầu
hết các nước (EC 2010).
Bên cạnh đó, sự thay đổi số liệu xuất khẩu theo từng tháng cho thấy rõ hơn mức độ suy
giảm của thương mại. Ngân Hàng Thế Giới (WB) đã ước tính rằng, trong tháng 10/2008
giá trị xuất khẩu của 44 nền kinh tế lớn trên thế giới (hiện chiếm khoảng 3/4 giá trị
thương mại toàn cầu) giảm khoảng 7,4% và tiếp tục giảm 15,4% trong tháng tiếp theo
trước khi được giữ vững trong tháng 12/2008 rồi tiếp tục giảm 12,2% vào tháng 01/2009.
Tuy nhiên, tính chung cả năm 2008, xuất khẩu trên toàn thế giới vẫn tăng 2%, song đã
thấp hơn nhiều tốc độ tăng trưởng 6% của năm 2007.Ở Châu Á, ảnh hưởng rõ rệt và thấy
rõ nhất là Trung Quốc. Quốc gia đông dân nhất thế giới này hiện là thị trường xuất khẩu
khổng lồ và đang phải chịu nhiều khó khăn khi các đối tác xuất khẩu chính như Châu Âu
(đối tác chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc) cũng đang chìm sâu
trong khủng hoảng. Trong tháng 2/2009, xuất khẩu của Trung Quốc giảm 26% so với
cùng kỳ năm ngoái và 28% so với tháng 1/2009.
4.1.4. Tác động tới đầu tư quốc tế
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 dẫn đến suy thoái xảy ra ở hầu hết các
nước trên thế giới. Những nền kinh tế lớn của thế giới như Mỹ, Nhật, EU cũng không
phải là ngoại lệ, do vậy như một kết quả tất yếu lượng đầu tư quốc tế giảm rõ rệt: trong
năm 2008 chỉ tăng 3,5% - thấp hơn nhiều so với mức 13,2% của năm 2007, dự đoán giảm
9,7% vào năm 2009 và sẽ tăng 4,9% trong năm 2010. Đặc biệt do tác động kéo dài của
cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính lớn nhất trong vòng 80 năm qua, đầu tư trực tiếp ra

Bảng: Tăng trưởng một số nước trên thế giới (Đơn vị: %)
Quốc gia 2008 2009 2010 2011
Argentina 6.8 0.9 9.2 8.9
Australia 3.8 1.4 2.3 1.9
Brazil 5.2 -0.3 7.5 2.7
Canada 0.7 -2.8 3.2 2.5
Trung Quốc 9.6 9.2 10.4 9.3
Pháp -0.1 -3.1 1.7 1.7
Đức 1.1 -5.1 4.2 3
Hồng Kong 2.1 -2.5 6.8 4.9
Ai-len 1.2 -6.6 -4 2.6
Ấn Độ 3.9 8.2 9.6 6.9
Indonesia 6 4.6 6.2 6.5
Italy -1.2 -5.5 1.8 0.4
Nhật -1 -5.5 4.4 -0.7
Hàn Quốc 2.3 0.3 6.3 3.6
Luxembourg -0.7 -4.1 2.9 1.7
Malaysia 4.8 -1.5 7.2 5.1
Mexico 1.2 -6 5.5 3.9
Bồ Đào Nha 0 -2.9 1.4 -1.7
Nga 5.2 -7.8 4.3 4.3
Singapore 1.7 -1 14.8 4.9
Thái Lan 2.5 -2.3 7.8 0.1
Anh -1 -4 1.8 0.8
Mỹ -0.4 -3.5 3 1.7
Việt Nam 6.3 5.3 6.8 5.9
Nguồn: www.worldbank.org
Bên cạnh đó, GDP của nhiều nước tăng trưởng âm liên tiếp, từ những nước có nền
kinh tế phát triển cao như: Mỹ, Pháp, Anh, Đức đến những nước kinh tế mới nổi như:
Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Cụ thể Bộ thống kê quốc gia Trung Quốc cho biết, tăng

giới có dấu hiệu đi xuống, tháng 2/2009, sản xuất công nghiệp toàn cầu giảm 23,7%.
Bảng 4.1.6 Sự tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp giai đoạn 2002-2011. Đơn vị: %
Quốc gia 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Thế giới 1.37 3.14 5.37 2.93 4.49 4.66 0.09 -6.04 8.43
Argentina -13.81 16.49 13.37 9.20 10.05 7.48 4.03 -1.19 7.80 9.23
Australia 3.54 5.50 1.31 2.13 2.71 4.56 3.96 -0.18 2.56 1.95
Brazil 2.13 1.31 7.85 2.08 2.17 5.31 4.08 -5.67
10.4
1
1.52
Canada 2.18 0.58 2.52 2.43 0.28 0.23 -2.79 -10.68 6.29
Trung Quốc 9.80 12.70 11.10 12.10 13.40
15.1
0
9.90 9.90
12.2
5
10.30
Pháp 0.03 1.10 1.23 1.78 0.64 2.50 -1.39 -8.65
Đức -1.77 -0.44 3.39 0.53 4.92 3.30 -3.11 -14.84 9.04
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 22
Quốc gia 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Ấn Độ 7.21 7.32 9.81 9.72 12.17 9.67 4.44 8.40 7.16 3.38
Indonesia 4.26 3.76 3.94 4.70 4.49 4.72 3.74 3.59 4.86 5.32
Italya 0.21 -1.63 1.07 0.33 2.83 1.58 -3.31 -13.87 2.88
Nhật Bản -1.94 2.30 3.68 0.30 3.76 3.47 -0.25 -15.05
13.5
6
Hàn Quốc 7.41 6.03 7.92 4.85 6.58 6.00 2.03 -0.59
10.7

xuất lớn này đều đang đứng một chân bên bờ vực phá sản và phải chờ sự trợ giúp của
chính phủ nước này. Lĩnh vực sản xuất máy móc cũng suy giảm mạnh, khi các nhà máy ở
Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đã hầu như đóng cửa. Các công ty sản xuất đã ngừng
sản xuất ra các mặt hàng mới và thu hẹp quy mô nhằm bù lại tốc độ chậm chạm của các
hoạt động do tác động của khủng hoảng kéo dài.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 23
Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 04-05/2009, sản xuất công nghiệp của toàn thế giới có
dấu hiệu phục hồi, ban đầu do tăng trưởng ở Trung Quốc sau gói kích thích kinh tế trọng
tâm vào chính sách tài khóa trị giá 575 tỷ USD. Nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc tăng
lan rộng ra những nước khác với sản xuất công nghiệp tăng trưởng dương ở những nước
kinh tế mới nổi (trừ Trung Quốc) vào tháng 03/2009 và các nước thu nhập cao vào tháng
05/2009.
Thứ hai là những tác động đến ngành dịch vụ. Theo thống kê của WB, từ năm 2000 trở
lại đây, đóng góp tới gần 70% giá trị trong tổng GDP, có thể nói dịch vụ là một ngành có
một vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu (WTO 2010). Dịch vụ bao gồm
những lĩnh vực chính như dịch vụ ngân hàng, tài chính, vận tải, bảo hiểm, du lịch. Cuộc
khủng hoảng tài chính xảy ra tác động không nhỏ đến ngành dịch vụ toàn cầu. Nhiều lĩnh
vực dịch vụ bị sụt giảm đáng kể. Tiêu biểu là ngành du lịch thế giới, theo báo cáo của tổ
chức Du lịch thế giới, lượng khách du lịch giảm 7% trong 6 tháng đầu năm 2009, trong
đó những nước Trung Âu và Đông Âu có mức giảm lớn nhất – 11%, trong khi những
nước Châu Phi lượng khách du lịch tăng nhẹ. Ngành du lịch Mexico cũng gặp khó khăn –
giảm 19% trong quý II/2009.
Tuy nhiên thời gian gần đây, du lịch thế giới đã xuất hiện những dấu hiệu khả quan
với lượt khách theo thống kê tháng 07/2009 chỉ giảm 4% so với cùng kỳ năm trước. Bằng
những nỗ lực nhằm hỗ trợ du lịch thông qua các khoản khuyến mãi, khấu trừ đặc biệt,
giảm các hạn chế trong việc cấp visa và những kế hoạch đầu tư đang được chuẩn bị.
Nguồn:www.worldbank.org
Bên cạnh đó, thương mại dịch vụ cũng bị những tác động đáng kể từ cuộc khủng hoảng
này. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong năm 2008, xuất khẩu
thương mại dịch vụ toàn thế giới đạt 3.730 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2007. Trong đó,

kinh tế và khủng hoảng tài chính làm cho các quỹ đầu cơ rút tiền khỏi các hoạt động đầu
tư dẫn đến giảm cầu tức thời trên các thị trường kỳ hạn, làm cho giá giảm đột ngột, đây
cũng chính là nguyên nhân chính tác động đến sự giảm sút tức thời của thị trường hàng
nông sản thế giới. Đối với các mặt hàng lương thực thiết yếu như lúa gạo do các yếu tố
cung cầu cơ bản về sản lượng, tồn kho và tiêu dùng quyết định. Ngoài ra, cũng do tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính làm đồng USD gần đây lại mạnh, gây áp lực giảm
giá xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Hoa Kỳ như thịt, dầu ăn, lúa gạo. Trong khi đó,
đồng Euro giảm mạnh so với USD làm cho nhu cầu tiêu thụ các nước châu Âu giảm, gây
áp lực giảm giá hàng nhập khẩu vào thị trường châu Âu trong đó có nông sản. Các quỹ
đầu tư chuyển sang nắm giữ đô la thay vì đầu tư vào hàng hóa trong đó có nông sản gây
áp lực giảm giá (Phạm Quang Diệu 2008).
Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra tác động mạnh mẽ đến hầu hết các
khía cạnh của nền kinh tế các nước. Đặc biệt những nước chịu tác động nặng nề hơn từ
cuộc khủng hoảng như Mỹ, Brazil hay khu vực Châu Âu lại là những khu vực sản xuất
lớn của thế giới. Điều này dẫn đấn việc sản lượng nông nghiệp toàn cầu giảm.Bên cạnh
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status