MỤC LỤC
o0o
PHẦN 1: SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ GIÁN TIẾP
1. Khái niệm 2
2. Đặc trưng cơ bản của ĐTQTGT 2
3. Tác động hai mặt của ĐTQTGT đối với Việt Nam 4
4. Sự cần thiết thu hút FPI 8
5. So sánh FDI và FPI 9
PHẦN 2: CÁC QUY CHẾ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VN
1. Quy chế tổ chức và hoạt động của CT CK 13
2. Quy chế tổ chức và hoạt động của QĐT và CTQL QĐT 17
3. Quy chế về nhà ĐTNN được phép mua cổ phiếu của DN VN 20
PHẦN 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO VN
1. Các giai đoạn thu hút FDI 24
2. Quỹ đầu tư 25
3. Công ty chứng khoán 29
4. Nhà đầu tư nhỏ 36
PHẦN 4: NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP TẠI VN
1. Các rào cản 37
2. Các nhóm giải pháp 38
Kết luận 41
Page 1 of 41
Phần 1: NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI GIÁN TIẾP
TẠI VIỆT NAM
o0o
1. Khái niệm:
Định nghĩa của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): Đầu tư gián tiếp nước ngoài
(Foreign Portfolio Investment - FPI) là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái
phiếu) được phát hành bởi một công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác
TTTC trong nước hoặc nước ngoài.
Cũng như FDI, động thái dòng vốn ĐTGTNN chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của
các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hoà bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi
trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài;
mức độ tự do hoá và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận
tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự phát
triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị
trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư v.v Nhưng khác với FDI, vốn ĐTGTNN
chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ phía các nhân tố, như sự phát triển và độ mở cửa
của thị trường chứng khoán (TTCK), chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh
nghiệp và nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên
TTTC; sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước
hết là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ đầu tư đại
chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và chất lượng của hệ thống
thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và
dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán; Đặc biệt, dòng vốn
Page 3 of 41
ĐTGTNN sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự
gia tăng quá trình cổ phần hoá các DNNN, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới
rộng tỉ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó
3. Tác động hai mặt của đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với Việt Nam:
Cũng như dòng vốn FDI, dòng vốn ĐTGTNN đã, đang và sẽ có tác động hai mặt đến đời
sống kinh tế nước ta.
Những tác động tích cực:
•Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng
tổng vốn đầu tư trực tiếp của xã hội.
Dòng vốn ĐTGTNN khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng vốn đầu tư
gián tiếp trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng số
dòng vốn này. Hơn nữa, vốn ĐTGTNN gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng
dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài. Việc đầu tư này sẽ cho phép họ thu nhận được lợi nhuận từ sự
chênh lệch giá cả khi mua - bán chứng khoán, cũng như từ lãi suất và cổ tức các chứng
khoán mà họ sở hữu theo thoả thuận hoặc thực tế kết quả kinh doanh của cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cải
thiện thu nhập, mức sống của đông đảo các nhà đầu tư là người dân, tuỳ theo lượng vốn
và kỹ năng đầu tư chứng khoán mà họ có. Hơn nữa, thông qua quá trình tham gia đầu tư
gián tiếp này, các nhà đầu tư trong nước và người dân sẽ được dịp "cọ xát", rèn luyện và
bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, bản lĩnh đầu tư, nâng cao trình độ bản thân
nói riêng, chất lượng nguồn nhân lực nói chung, phù hợp yêu cầu và điều kiện kinh
doanh thị trường, hiện đại.
•Thứ tư, Góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các
nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.
Page 5 of 41
Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm
túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch hoá, cập
nhật hoá thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành.
Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ ưa lựa chọn đầu tư vào chứng khoán của các
doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai. Chính
điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển
các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những
doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định
hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp,
cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến
TTTC, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng
cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các
cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào TTTC, nhà nước sẽ đa dạng
hoá các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn
thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói
chung, TTTC nói riêng sẽ được cải thiện hơn.
Một số tác động tiêu cực:
gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển hoá thành tính trực tiếp. Nhà đầu tư gián
tiếp sẽ chuyển hoá thành nhà đầu tư trực tiếp. Thậm chí, về lôgíc, quá trình "diễn biến
hoà bình" này đạt tới quy mô và mức độ nào đó còn có thể làm chuyển đổi về chất quyền
sở hữu và tính chất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp và quốc gia.
•Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng
tội phạm kinh tế quốc tế
Đầu tư gián tiếp quốc tế không chỉ làm gia tăng các nguy cơ và tác hại của các
hoạt động đầu cơ, lũng đoạn kinh tế vi phạm các quy định pháp lý của nước tiếp nhận đầu
tư, mà còn là mảnh đất mầu mỡ sinh sôi và phát triển các loại tội phạm kinh tế có yếu tố
nước ngoài, thậm chí xuyên quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt
Page 7 of 41
động tiếp vốn cho các vụ kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố, cùng các loại tội
phạm và các đe doạ an ninh phi truyền thống khác.
Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của dòng vốn
ĐTGTNN kể trên, nhất là khi chúng diễn ra một cách "có tổ chức" của giới đầu cơ hay
lực lượng thù địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt và lâu
dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn thương của nền
kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay; Thậm chí trong một
số trường hợp, chúng còn làm mất uy tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các chính phủ
Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn ĐTGTNN vào Việt Nam còn đặt ra yêu cầu
Chính phủ và các cơ quan TW phải chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả các công
cụ quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc sử
dụng bảo lãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ
cũng như các công cụ khác của các định chế tài chính - tiền tệ quốc gia và địa
phương những điều cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các
tác động tích cực của dòng vốn ĐTGTNN.
4. Sự cần thiết thu hút FPI:
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu
tư gián tiếp (FPI). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì
1. KN:
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông
qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái
phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua
quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các
định chế tài chính trung gian khác mà nhà
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign
Direct Investment) là hình thức đầu tư dài
hạn của cá nhân hay công ty nước này vào
nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản
xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty
Page 9 of 41
đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý
hoạt động đầu tư.
nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở
sản xuất kinh doanh này.
2. Cơ chế quản lý vốn:
Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động đầu tư.
Chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp
tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và
quản lí đối tượng đầu tư
3. Đặc điểm:
a. FPI có đặc điểm là di chuyển (vào và
ra) rất nhanh nên nó sẽ khiến cho hệ thống
tài chính trong nước dễ bị tổn thương và
rơi vào khủng hoảng tài chính khi gặp
phải các cú sốc bên trong cũng như bên
ngoài nền kinh tế.
b. FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các
TIẾP TẠI VIỆT NAM
o0o
Hoạt động đầu tư quốc tế gián tiếp tại Việt Nam chịu chi phối của Luật chứng khoán
số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006. Luật này quy định về hoạt động chào bán chứng
khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về
chứng khoán và thị trường chứng khoán gồm 11 chương và 136 điều. Ngoài ra còn có các
văn bản pháp luật có liên quan:
Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/12/2003 của chính phủ về chứng khoán và thị
trường chứng khoán
Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 cảu thủ tướng chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán
Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 5 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 15/05/2007 của Bộ Trưởng Bộ Tài
chính về quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ
Quyết định 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/09/2004 về Quy chế tổ chức và hoạt động của
quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ.
Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và
hoạt động công ty chứng khoán
Quyết định 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ
chức và hoạt động công ty chứng khoán
Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 của chính phủ về việc nhà đầu tư nước
ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam
Quyết định 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Page 12 of 41
Quyết định 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/03/2003 về quy chế góp vốn, mua cổ phần của
nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Thông tư 73/2003/TT-BTC ngày 31/07/2003 của Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện
quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp VN.
xác nhận của ngân hàng. Đối với tài sản bằng chứng khoán, phải có xác nhận của công ty
chứng khoán hoặc của tổ chức phát hành về số chứng khoán đó. Đối với tài sản khác,
phải có tài liệu chứng minh quyền sở hữu và tài sản đó phải được định giá bởi tổ chức
định giá hợp pháp.
Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều
lệ thực góp ban đầu của công ty chứng khoán. Phần vốn góp ban đầu của cổ đông sáng
lập, thành viên sáng lập không được chuyển nhượng trong vòng ba (03) năm kể từ ngày
được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông
sáng lập, thành viên sáng lập khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Giám đốc hoặc tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Người hành nghề chứng khoán
phải tham gia các khoá tập huấn về văn bản pháp luật, hệ thống giao dịch, loại chứng
khoán mới do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm
giao dịch chứng khoán tổ chức.
Thủ tục cấp Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán:
Trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước xem xét chấp thuận nguyên tắc việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt
động công ty chứng khoán. Trong vòng sáu (06) tháng kể từ ngày được chấp thuận
nguyên tắc, tổ chức xin cấp phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán phải hoàn
tất việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và phong toả vốn pháp định. Tổ chức xin cấp phép
Page 14 of 41
được trích phần vốn góp của các cổ đông hoặc của các thành viên hoặc vốn góp của chủ
sở hữu để đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty.
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước kiểm tra cơ sở vật chất tại trụ sở công ty chứng khoán
trước khi chính thức cấp Giấy phép thành lập và hoạt động. Phần vốn góp còn lại của các
cổ đông hoặc của thành viên góp vốn hoặc của chủ sở hữu phải được gửi vào một tài
khoản phong toả tại ngân hàng do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ định và phải có
xác nhận của ngân hàng này về số vốn trên tài khoản phong toả. Số vốn này chỉ được giải
toả sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chính thức cấp Giấy phép thành lập và
hoạt động.
tối thiểu bằng 5%.
- Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán không được vượt quá
sáu lần. Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắn hạn.
- Công ty chứng khoán được mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình theo nguyên
tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không được vượt quá 50% vốn điều lệ của công ty
CK.
Hạn chế đầu tư của công ty chứng khoán:
Công ty chứng khoán không được: đầu tư vào cổ phiếu hoặc phần vốn góp của công
ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán, cùng với người có liên quan
đầu tư từ 5% trở lên vốn điều lệ của công ty chứng khoán khác, đầu tư từ 20% trở lên
tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết, đầu tư từ 15% trở lên tổng số
cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết, đầu tư hoặc góp vốn từ 15% trở
lên tổng số vốn góp của một công ty trách nhiệm hữu hạn.
Gần đây, UBCK vừa công bố Quyết định 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán với các điều
kiện khắc khe hơn để củng cố và lành mạnh hóa tình hình hoạt động của các CTCK hiện
Page 16 of 41
nay. Theo đó, cá nhân và cổ đông sáng lập chỉ được phép sử dụng vốn của mình để góp
vốn, không được sử dụng vốn vay, vốn ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân khác. Điều
kiện đối với pháp nhân khắc khe hơn, với yêu cầu có thời gian hoạt động tối thiểu là 5
năm.
Công ty chứng khoán được thành lập theo hình thức công ty cổ phần hoặc công ty
TNHH từ 2 thành viên trở lên phải có tối thiểu 2 cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là
tổ chức, trong đó phải có ít nhất 1 tổ chức là NHTM, công ty tài chính hoặc công ty bảo
hiểm. Tỷ lệ sở hữu cổ phần, vốn góp của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức
tối thiểu 65% vốn điều lệ, trong đó tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông sáng lập, thành viên
sáng lập là NHTM, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm tối thiểu phải đạt 30% vốn
điều lệ của CTCK. Đối với CTCK thành lập theo hình thức công ty TNHH một thành
viên chủ sở hữu phải là NHTM, công ty tài chính hoặc công ty bảo hiểm và đảm bảo giữ
tối thiểu 35% vốn điều lệ CTCK.
được chuyển vào tài khoản phong toả mở tại ngân hàng giám sát cho đến khi hoàn tất đợt
phát hành.
Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ phiên họp Đại hội người đầu tư đầu tiên sau
khi kết thúc đợt phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng, công ty quản lý quỹ gửi
UBCKNN hồ sơ xin đăng ký lập Quỹ công chúng và niêm yết chứng chỉ quỹ. Trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, UBCKNN cấp chứng nhận đăng ký lập Quỹ
công chúng và niêm yết chứng chỉ quỹ.
Việc đầu tư vốn và tài sản của Quỹ công chúng phải tuân thủ các hạn chế sau: một
Quỹ công chúng không được góp vốn hoặc đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính Quỹ công
chúng đó hoặc của một Quỹ khác, không được đầu tư vào quá 15% tổng giá trị chứng
khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành, không được đầu tư quá 20% tổng giá trị
Page 18 of 41
tài sản quỹ vào chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành, không được đầu
tư quá 10% tổng giá trị tài sản quỹ vào bất động sản, không được đầu tư quá 30% tổng
giá trị tài sản Quỹ vào các công ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có
quan hệ sở hữu lẫn nhau, vốn và tài sản của Quỹ công chúng không được dùng để cho
vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào; không được phép vay để tài trợ cho hoạt
động của Quỹ công chúng, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải các chi phí cần thiết
cho Quỹ công chúng, tổng giá trị các khoản vay của Quỹ công chúng không được vượt
quá 1% giá trị tài sản ròng của Quỹ công chúng tại mọi thời điểm, thời hạn vay tối đa
không được quá 30 ngày, quỹ công chúng không bị hạn chế đầu tư vào các loại trái phiếu
Chính phủ.
Ngoài ra, các giao dịch tài sản của Quỹ công chúng mà công ty quản lý quỹ hoặc
người có liên quan của công ty quản lý quỹ có tham gia dưới mọi hình thức không được
là bất động sản.
Quỹ thành viên là Quỹ được lập bằng vốn góp của tối đa 49 thành viên góp vốn và
không phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng.
Quỹ thành viên có số vốn điều lệ tối thiểu là 5 tỷ đồng. Thành viên góp vốn phải luôn
đáp ứng điều kiện: đầu tư tối thiểu 3 tỷ đồng Việt Nam, trường hợp thành viên là tổ chức;
đầu tư tối thiểu 1 tỷ đồng Việt Nam, trường hợp thành viên là cá nhân. Thời hạn cấp
của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu ) và người có
liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một
ngân hàng Việt Nam. Một cổ đông chiến lược không được nắm giữ quá 15% vốn điều lệ
một ngân hàng.
Trường hợp đặc biệt mức sở hữu vượt quá 15%, người quyết định tỷ lệ nắm giữ cụ thể
là Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tuy
nhiên, mức sở hữu của một nhà đầu tư chiến nước ngoài cũng không được vượt quá 20%
Page 20 of 41
vốn điều lệ của của một ngân hàng. Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chỉ được phép
chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình tối thiểu sau 5 năm kể từ khi trở thành
nhà đầu tư chiến lược. Và 3 năm đối với tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên
quan sỡ hữu 10% vốn điều lệ.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định, mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước
ngoài không phải là tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư
nước ngoài đó không vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam. Mức sở hữu
cổ phần của một tổ chức tín dụng nước ngoài không là cổ đông chiến lược không vượt
quá 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.
Để được bán cổ phần cho đối tác nước ngoài, các ngân hàng Việt Nam phải có vốn
điều lệ tối thiểu đạt 1.000 tỷ đồng, có tình hình tài chính lành mạnh và không bị cơ quan
có thẩm quyền xử phạt do vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng
trong thời gian 24 tháng.
Về phía đối tác nước ngoài mua cổ phần ngân hàng Việt Nam phải có tổng tài sản tối
thiểu tương đương 20 tỷ đô la Mỹ vào năm trước năm đăng ký mua cổ phần, được các tổ
chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài
chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo
chiều hướng không thuận lợi.
Riêng đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài còn phải có văn bản cam kết về việc
hỗ trợ ngân hàng Việt Nam trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, nâng cao
năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ hiện đại.
Hiện nay, đã có một số ngân hàng Việt Nam thực hiện bán cổ phần cho đối tác nước
khoán VN cũng chỉ được tối đa hóa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết, đăng ký
giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối
với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành. Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước
Page 22 of 41
ngoài được góp vốn, mua cổ phần, góp vốn liên doanh thành lập Cty chứng khoán hoặc
Cty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tối đa là 49% vốn điều lệ.
Page 23 of 41
Phần 3: THỰC TRẠNG
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
o0o
Theo quy định của luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì Nhà đầu
tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức:
a) Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;
b) Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;
c) Thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
I. CÁC GIAI ĐOẠN THU HÚT FDI TẠI VIỆT NAM
Thực tiễn 3 giai đoạn thu hút vốn ĐTGTNN ở nước ta thời gian qua cho thấy rõ sự tác
động quan trọng của những nhân tố sau cùng mà ta vừa đề cập ở trên:
Giai đoạn 1 (1988 – 1997): là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn ĐTGTNN để vào Việt
Nam theo xu hướng đổi mới và mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra trong phạm
vi cả nước và tạo động lực, hy vọng chung cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong giai
đoạn này, ở Việt Nam đã có 7 Quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn
được huy động khoảng 400 triệu USD.
Giai đoạn 2 (1998 – 2002): là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính –
tiền tệ châu Á khiến các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài đổ vào
châu Á bị chững lại và Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng chung của xu hướng này với
việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy mô thu hút cảu cả FDI và FPI. Trong số 7 Quỹ
đầu tư kể trên có 5 Quỹ rút khỏi Việt Nam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ
còn duy nhất Quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập 7/1995 với
quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong số 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay.
Ngoài ra, Quỹ Công nghiệp và Năng lượng Việt Nam cũng vừa mới được thành
Page 25 of 41