B CễNG THNG
VIN NGHIấN CU THNG MI
TI KHOA HC CP B
M S: 077.10.RD BO CO TNG HP
Nghiên cứu đánh giá tác động khủng hoảng
tài chính toàn cầu và đề xuất các giảI pháp
nhằm khôI phục và phát triển kinh tế thơng
mại việt nam thời kỳ hậu khủng hoảng Ch nhim ti: PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch
8529
CN. T Qunh Chõu
CN. Tiờu Hi Võn
H NI, 12 2010
Môc lôc
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI KINH TẾ
THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI
6
1.1. TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 6
1.1.1. Một số lý thuyết chống khủng hoảng kinh tế 6
1.1.2. Diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của chúng
đến nền kinh tế thế giới
9
1.1.3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 17
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 22
Tác động đến đầu tư
42
2.1.4.
Tác động tới các lĩnh vực khác
45
2.2.
TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
TỚI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
54
2.2.1
Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu
54
2.2.2
Tác động đến thị trường nội địa
59
2.3 NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ TRONG GIẢI QUYẾT
CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
60
2.3.1 Các chương trình chống suy giảm kinh tế 60
2.3.2 Chính sách và biện pháp xúc tiến xuất khẩu 66
2.3.3. Chính sách và biện pháp xúc tiến thị trường và thương mại trong
nước
68
2.4. ĐÁNH GIÁ VỀ KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ TRONG GIAI ĐOẠN
PHỤC HỒI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN
QUA
3.4.1 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu 91
3.4.2 Phối hợp các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề thương mại
sau khủng hoảng
93
3.4.3 Giải pháp điều chỉnh cơ cấu đầu tư 98
3.4.4.
Giải pháp cải cách doanh nghiệp
104
3.4.5.
Giải pháp ưu tiên phát triển thị trường nội địa
105
3.5. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 109
3.5.1. Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm 109
3.5.2. Xây dựng và bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm 112
3.5.3. Thúc đẩy xuất khẩu thong qua việc tăng cường khả năng tham gia
vào các chuỗi giá trị toàn cầu
113
3.5.4. Kết nối phát huy lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt
trong lĩnh vực công nghệ và phát triển thị trường.
114
3.5.5. Tăng c
ường vai trò của các hiệp hội 114
KẾT LUẬN
117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
121
thị trường xuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột, nền kinh tế Việt
Nam đã lập tức rơi vào tình trạng suy giảm, từ mức tăng trưởng trên 7% năm
2008 xuống còn 3,1% vào quý I-2009. Từ cuối năm 2007, kinh tế và đời sống
nhân dân gặp nhiều khó khăn do lạm phát tăng cao và suy giảm kinh tế. Trong
năm 2009 và 2010, thiên tai, dịch bệnh lại liên tiếp xảy ra v
ới cường độ và
mức độ lớn hơn những năm trước. Do vậy, khi cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu nổ ra đã gây tác động làm tình hình đã khó khăn trở nên khó khăn
hơn cho Việt Nam.
Cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, nền kinh tế Việt Nam
hiện nay phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu và vốn đầu tư từ nước ngoài. Trong
những năm 2005 -2009, tổ
ng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
luôn ở mức từ 62% - 70% (từ năm 2005 - 2009) trong so sánh với GDP; Đối
với dòng vốn đầu tư từ nước ngoài cũng vậy, trong năm 2008, không tính đến
đầu tư gián tiếp và các khoản chuyển giao ngoại tệ khác, chỉ riêng vốn FDI
thực hiện đã chiếm tới gần 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam …
2
Sự phụ thuộc lớn vào thương mại quốc tế và đầu tư từ nước ngoài, bên
cạnh những tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng đem đến
nhiều khó khăn thách thức cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Do giảm nhu cầu nhập khẩu từ
các thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật Bản (hiện chiếm kho
ảng 60% tổng trị
giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam) đã gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam
trong việc tìm kiếm các thị trường xuất khẩu mới để có thể bù đắp cho sự sụt
giảm này Tuy vậy, trong năm 2009 tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam
nhích dần qua mỗi quý, đưa cả năm lên 5,32%, cao hơn kế hoạch đề ra. Như
vậy kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai
khu vực xuất hiện nhiều quốc gia có sức mạnh kinh tế lớn hơ
n nhờ thực hiện
thành công điều chỉnh cơ cấu kinh tế và đề xuất một số gợi ý chính sách.
3
- Cuốn sách “Đại khủng hoàng tài chính toàn cầu 2008 - Dưới con mắt
của các nhà báo và các chuyên gia kinh tế quốc tế” - Nxb Tri thức, Nguyễn
Văn Nhã tổng hợp và biên dịch. Mục đích của cuốn sách là giúp cho mọi
người trên thế giới hiểu nguyên nhân và tác động của nó để rút ra bài học cho
con đường phát triển trong thời kỳ hậu khủng hoảng.
Bên cạnh đó, nhiều cuộc hội thảo xoay quanh chủ đề này cũng được tổ
ch
ức bởi các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước. Đó là :
- Hội thảo “Khả năng phục hồi và triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam
hậu khủng hoảng” do Công ty APAVE Việt Nam & Đông Nam Á đã phối hợp
cùng Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 27/10/2009 tại
Huế. Cuộc hội thảo được tổ chức với mục đích chia sẻ cùng các doanh nghiệp
miền Trung mộ
t số giải pháp thiết yếu nhằm khôi phục, phát triển thời kỳ hậu
suy thoái kinh tế.
- Hội thảo “Hướng tới các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu” do Văn phòng Chính phủ phối hợp
với các Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng
Quốc hội với sự hỗ trợ của dự án EU-Việt Nam MUTRAP III t
ổ chức ngày
10/07/2009. Để đón bắt những cơ hội và thách thức “hậu khủng hoảng”, tại
Hội thảo, các nhà lãnh đạo, chuyên gia kinh tế tập trung bàn thảo, hiến kế về
những giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm giải pháp về thương mại,
chính sách công nghiệp, nguồn nhân lực, thu hút đầu tư nước ngoài… cũng
như kinh nghiệm quý báu của các quốc gia.
3. Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu đánh giá tác động của khủng hoảng tài
chính toàn cầu nhằm đề xuất các giải pháp để khôi phục và thúc đẩy phát triển
kinh tế thương mại Việt Nam đến năm 2015
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượ
ng nghiên cứu : những tác động của khủng hoảng tài chính
toàn cầu đối với kinh tế thương mại Việt Nam, tác động của những giải pháp
chống khủng hoảng.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung : đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính
toàn cầu đối với kinh tế thương mại Việt Nam và đánh giá tác động do những
giải pháp chống khủng hoảng mà Việ
t Nam đã thực hiện.
- Phạm vi không gian : trên toàn lãnh thổ Việt Nam
- Phạm vi thời gian: đánh giá tác động của khủng hoảng toàn cầu đối
với kinh tế thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian 2008-2010; đề xuất
giải pháp nhằm khôi phục kinh tế Việt Nam thời kỳ đến 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận : đề tài sẽ được đi từ việc nghiên cứu tổng quan về các
hệ luỵ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu; đánh giá tác động tích cực và tiêu
cực của khủng hoảng tải chính toàn cầu đến hoạt động kinh tế thương mại Việt
Nam; từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế
thương mại Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng.
- Phương pháp thực hiện :
+ Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu, số li
ệu : về thực trạng phát
triển kinh tế thương mại Việt Nam thời kỳ trước và trong khủng hoảng tài
chính toàn cầu.
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích : được sử dụng để đánh giá tác động
6
CHƯƠNG I
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG
CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI KINH TẾ
THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
1.1.1. Một số lý thuyết về chống khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là hiện tượng không mới, dường như nó gắn liền với
nền kinh tế hàng hoá. Xung quanh khái niệm khủng hoảng có nhiều cách diễn
đạt khác nhau. Nh
ưng có thể hiểu khủng hoảng là một giai đoạn hay một trạng
thái không ổn định, có những thay đổi nghiêm trọng ngoài mong đợi hay
n xuất và sự giảm sút tương đối của sức
mua biểu hiện ra một cách mạnh mẽ. Trong giai đoạn này hàng hóa sản xuất
ra không tiêu thụ được, giá cả hàng hóa tụt xuống dẫn đến giảm lợi nhuận, do
7
đó các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất. Từ đó làm cho thất nghiệp tăng lên
và tiền công hạ xuống.
- Tiêu điều là giai đoạn thứ 2 của chu kỳ kinh tế, trong giai đoạn này sản
xuất bị đình trệ, vật giá thấp, thương nghiệp bị đình đốn, tư bản để rỗi chồng
chất. Trong giai đoạn này, nhà tư bản tìm cách giảm bớt chi phí bằ
ng cách hạ
tiền công, nâng cao cường độ lao động, cải tiến kỹ thuật, đổi mới tư bản cố
định làm cho sản xuất vẫn có lợi trong tình trạng giá cả giảm sút. Nhưng việc
đổi mới tư bản cố định đã thúc đẩy nhiều ngành sản xuất phát triển. Giai đoạn
tiêu điều kết thúc chuyển sang phục hồi, K.Marx cho rằng, đổi mới tư bản c
ố
định là nguyên nhân của tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế.
- Phục hồi là giai đoạn các xí nghiệp khôi phục và mở rộng sản xuất, mức
sản xuất dần dần đạt đến qui mô cũ, vật giá cao lên, lợi nhuận nâng cao lên,
người lao động có việc làm nhiều hơn.
- Hưng thịnh là giai đoạn thứ 4 của chu kỳ kinh tế, là giai đoạn sản xuất
vượt quá đi
ểm cao nhất mà chu kỳ trước, khi chưa xảy ra khủng hoảng đã đạt
được. Giai đoạn này, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng thêm. Vật giá cao
lên đầu cơ phát triển và ngân hàng tung tiền ra cho vay. Vì vậy, đã làm cho
quy mô sản xuất và thương mại có thể mở rộng quá phạm vi sức mua. Đây là
điểm bắt đầu cho việc tạo ra điều kiện của một cuộc khủng hoảng sả
n xuất
thừa mới bắt đầu.
Theo K.Marx, nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư
lạm phát có điều tiết” để giảm lãi suất qua đó khuyến khích doanh nhân vay tư
bản để mở rộng quy mô đầu tư. Sử dụng công trái để vay tiền trong dân, đảm
bảo cho ngân sách nhà nước thực hiện đầu tư. Sử dụng công cụ thuế để điều
tiết thu nhập và khuyến khích đầu tư. Đối với người lao động, phả
i tăng thuế
để giảm tiết kiệm, đưa phần này vào ngân sách để đảm bảo đầu tư của nhà
nước và đối với doanh nhân phải giảm thuế để nâng cao hiệu quả của tư bản
nhằm khuyến khích đầu tư.
- Khuyến khích tạo ra nhiều việc làm, thu hút lao động.
- Khuyến khích tiêu dùng tất cả mọi thành viên trong xã hội, từ người giàu
đến người nghèo.
Lần đầu tiên trong khoa học kinh tế
, học thuyết kinh tế của Keynes đã đưa
ra một hệ thống các công cụ để chống suy thoái, khủng hoảng kinh tế và thất
nghiệp.
M. Friedman, nhà kinh tế học tiêu biểu cho phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ
thì cho rằng mức cầu về tiền có tính ổn định bởi động lực duy nhất của việc
giữ tiền là việc đưa hàng hóa ra thị trường, mà khối lượng hàng hóa có tính ổ
n
định. Trong khi đó, mức cung tiền không ổn định vì nó phụ thuộc vào quyết
định của các cơ quan quản lý tiền. Ở Mỹ là hệ thống dự trữ liên bang FED.
Nếu FED phát hành quá nhiều sẽ dẫn đến lạm phát, nếu phát hành quá ít sẽ
làm cho dân chúng không có tiền mua hàng sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế. Do
đó, để chống suy thoái kinh tế nên tăng khối lượng tiền vào lưu thông.
Các nhà kinh tế phái trọng cung thì cho rằng, khối lượng sản xuấ
t là kết
quả của chi phí mà chi phí này mang lại kích thích kinh tế. Vì vậy nhiệm vụ
của nhà nước là xây dựng các điều kiện để các yếu tố kích thích kinh tế xuất
hiện và những kích thích kinh tế này sẽ làm tăng chi phí và như vậy sẽ tăng
cung. Cung mới sẽ tạo ra cầu mới. Như vậy nền kinh tế sẽ đạt được trạng thái
ất.
Như vậy có thể tóm lược các biện pháp để chống suy thoái kinh tế như
sau:
- Trong suy thoái kinh tế, vì sự sống còn của mình các doanh nghiệp phải
đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất để giảm chi phí để bán được hàng
nhanh chóng và tăng lợi nhuận.
- Phải kích thích tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
- Phải sử dụng một hệ thống các biện pháp để chống suy thoái kinh tế như
chi tiêu nhà nước, chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng, kích thích t
ạo việc
làm và tăng tiêu dùng của các dân cư trong xã hội.
Như trên đã trình bày, bốn giai đoạn của chu kỳ kinh tế mà K.Marx đưa ra,
các nhà kinh tế học ngày nay gọi chúng là suy thoái, đáy, mở rộng và đỉnh.
Trong thời kỳ “suy thoái” và “đáy” nhà nước thường tăng thêm khối lượng
tiền tệ vào lưu thông, giảm lãi suất cho vay, khuyến khích nhà kinh doanh mở
rộng qui mô vay vốn, mở rộng đầu tư. Chính phủ các nước thường sử dụ
ng cả
chính sách tài chính và tín dụng thông qua các gói “kích cầu”. Vấn đề này
chúng tôi này chúng tôi đã nghiên cứu ở đề tài trước. Ở đây chúng tôi sẽ tập
trung nghiên cứu thời kỳ “mở rộng” hay còn gọi là “phục hồi” hay “hậu”
khủng hoảng.
1.1.2. Diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của chúng
đến nền kinh tế thế giới
10
Mặc dù chủ yếu cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra tại Mỹ, nhưng là
trung tâm tài chính lớn của thế giới nên cuộc khủng hoảng này đã nhanh
chóng lan rộng ra toàn thế giới và đã trở thành khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Có thể tóm tắt diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như sau:
- Ngay từ đầu năm 2006, Bộ trưởng tài chính Mỹ, ông Paulson đã nhận
11
- Ngày 30/1/2008, Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập
dự phòng 4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do
những thất thoát liên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố.
- Ngày 17/2/2008, Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
- Ngày 28/2/2008, Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh
sách các nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị
tài sản mất giá là 1,36 tỷ euro.
- Ngày 16-17/3/2008, Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư
Mỹ
JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
- Ngày 29/4/2008, Deutsche Bank lần đầu tiên trong 5 năm công bố một
khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho
các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế chấp
bất động sản.
- Ngày 11/7/2008, Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát
Ngân hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cử
a ngân hàng
lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ
USD trong vòng 11 ngày.
- Ngày 31/7/2008, Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng
tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD.
Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng
hoảng tín dụng toàn cầu.
- Ngày 7/9/2008, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt
quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay th
ế chấp Fannie Mae và Freddie
Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.
- Ngày 11/9/2008, Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối
mua 20% cổ phần Morgan Stanley.
- Ngày 23/9/2008, Warren Buffett trả 5 tỷ
USD mua 9% cổ phần
Goldman Sachs; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie,
AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính
tại Mỹ.
- Ngày 25/9/2008, Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những
ngân hàng lớn nhất Mỹ sụp đổ do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay
thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm
soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho
JPMorgan Chase & Co.với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản,
WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
- Ngày 29/9/2008, Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu
thị trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số
13
công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày
mạnh nhất từ trước tới nay.
- Ngày 29/9/2008, Chính phủ Anh đã phải quốc hữu hoá Tập đoàn cho
vay kinh doanh bất động sản lớn nhất của Anh là Bradforg & Bingley Plc.
- Ngày 1/10/2008, Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu
700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay
đổi, bao gồm: gia hạn
đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân
sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo
hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.
- Ngày 3/10/2008, sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ
đã bỏ phiếu lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171.
Không
đầy 2 giờ sau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế
ng thương
mại toàn cầu, ông cũng là người chỉ trích kịch liệt Chính phủ của Tổng thống
Bush, và là người vạch ra những hiểm họa của tự do thị trường thiếu sự giám
sát của Chính phủ.
- Ngày 14/10/2008, Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói
giải cứu 700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ
phiếu ưu đãi của các ngân hàng này. Đây là bước thay đổ
i lớn trong chiến lược
giải cứu, vì trong kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua
lại nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần.
- Ngày 21-11- 2008, Cổ phiếu Citigroup giảm chỉ còn 4 USD (năm 2007
cổ phiếu này là 50 USD).
- Ngày 23-11- 2008, Chính phủ hỗ trợ 300 tỉ USD cho Citigroup - Ngân
hàng lớn thứ hai tại 100 quốc gia, gồm 25 tỉ USD tiền mặt cộng với tiền bảo
lãnh nợ và tiền ký gửi tại ngân hàng (h
ơn 300 tỉ USD), Trong khi đó tại
Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những
điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỉ USD.
- Ngày 25-11-2008, FED công bố kế hoạch bơm 800 tỷ USD vào nền
kinh tế Mỹ nhằm ổn định hệ thống tài chính.
- Ngày 1-12-2008, Mỹ thừa nhận đã suy thoái kinh tế từ cuối năm 2007.
- Ngày 21-12-2008, Chính phủ Mỹ gửi cứu t
ợ khẩn cấp trị giá 17,4 tỷ
USD cho ngành chế tạo ô tô của nước này.
- Ngày 11-12-2008,vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff vỡ lở,
gây chấn động cả nước Mỹ.
- Tháng 1/2009, Tập đoàn Citygroup, từng là ngân hàng lớn nhất thế
giới có chi nhánh tại hơn 100 quốc gia đã công bố thua lỗ 18,72 tỷ USD trong
năm 2008 và giá cổ phiếu giảm 87% giá trị trong năm 2008. Tập đoàn đã cắt
gi
phát triển kinh tế vĩ mô trong những tháng vừa qua trong năm 2010 đã khẳng
định cho sự kỳ vọng về quá trình hồi phục khiêm tốn nhưng mới chỉ từ từ ở
hầ
u hết các nền kinh tế phát triển và có sự hồi phục mạnh mẽ hơn đối với các
nền kinh tế mới và đang phát triển.
Tuy nhiên, những bất ổn gần đây trên thị trường tài chính – phán ánh sự
giảm sút niềm tin đối với một nền tài chính bền vững, các chính sách phản
ứng, và một triển vọng tăng trưởng tương lai đã phủ bóng đen lên toàn cảnh.
Mấu chốt, những v
ấn đề đối với sự bền vững trong tài chính của các nền kinh
tế phát triển đã xuất hiện bắt đầu từ tháng 5/2010, và khởi đầu của mối lo này
là vấn đề tài chính của Hy Lạp, gần đây là Ailen và các nền kinh tế dễ bị tổn
thương khác như Tây Ban Nha, Italia trong khu vực đồng euro.
Về nguyên tắc, sự bất ổn mới trong thị trường tài chính có thể tràn qua
các nước và khu vực thông qua mộ
t số kênh, đó là tạo ra những thay đổi về
nhu cầu nội địa và nhu cầu thị trường xuất khẩu và tỷ giá hối đoái cũng thay
16
đổi.
Nếu các nước đang phát triển tăng trưởng mạnh mẽ hơn và nợ công thấp
đi làm cho một số thị trường mới nổi lên trở thành điểm đầu tư hấp dẫn hơn so
với một số nền kinh tế tiên tiến.
- Sự hồi phục trên toàn thế giới đã được tiếp tục trong năm 2010, bất
chấp những bất ổn trong tài chính
Nhìn chung, sản lượng của các nền kinh tế phát triển gia tăng khoảng
2.5% trong năm 2010, phần lớn do sự tăng trưởng mạnh hơn mong đợi trong
suốt quý đầu tiên của năm 2010, đặc biệt tại các nền kinh tế phát triển ở Châu
Á.
Các nền kinh tế mới nổi ở Châu Á và ở Mỹ La Tinh tiếp tục dẫn đầu
khả năng cạnh tranh. Ngoài ra, những nỗ lực cải cách thuế nên dành ưu tiên cho
các biện pháp khuyến khích đầu tư, bởi vì chính sách này ít có khả năng làm
17
giảm nhu cầu trong nước trong thời gian tới.
Tóm lại, nỗ lực của chính sách tham vọng và bổ sung là cần thiết để thúc
đẩy sự tăng trưởng toàn cầu trong trung hạn một cách bền vững, mạnh mẽ và
cân bằng là xu hướng chủ yếu trong nền kinh tế toàn cầu trong năm 2011 và
những năm tiếp theo.
1.1.3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Việc tìm ra đúng nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm vượt qua cuộc khủng hoảng. Tuy
có nhiều quan điểm khác nhau về nhận định nguyên nhân của cuộc khủng
hoảng nhưng tựu trung lại đều xoay quanh các nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân thứ nhất, do chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách
mua nhà cho người có thu nhập thấp được duy trì quá lâu.
Cuối năm 2001, FED đã liên tục cắt giảm lãi suất xuống còn 1,75% và
đế
n năm 2002 xuống còn mức 1% và kéo dài suốt hai năm 2003 và 2004. Với
mức lãi suất thấp như vậy đã thúc đẩy việc mở rộng cho vay mua bất động
sản. Bên cạnh đó Luật tái đầu tư công cộng được chính quyền Bill Clinton sửa
đổi đã tập trung vào mục tiêu xã hội tức là giải quyết nhà cho người có thu
nhập thấp. Chính sách này đã khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo,
dân da màu được vay tiền một cách d
ễ dàng hơn. Điều luật này đã tăng sức ép
lên các ngân hàng, tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền
mua nhà. Vậy là cầu về nhà đã tăng lên.
Chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách mua nhà cho người có thu
nhập thấp đã thúc đẩy mở rộng cho vay bất động sản. Cũng vì lãi suất cho vay
thấp, điều kiện cho vay dễ dàng hơn nên nhu cầu nhà tăng lên rất cao vì vậy
địa ốc đổ vốn vào thị trường này để thu lợi. Giá nhà càng tă
ng cao, nhu cầu
vay tiền ngân hàng để mua nhà càng tăng cao, các ngân hàng cũng đẩy mạnh
cho vay mua nhà bởi nếu người vay không trả được nợ thì có thể bán nhà thế
chấp để thu hồi vốn và kiếm lời từ hoạt động cho vay. Sự phát triển của cho
vay dưới chuẩn cùng với sự bùng nổ thị trường nhà đất ở Mỹ là hệ quả của
việc giảm lãi suất xuống mức kỷ lục, các tiêu chuẩ
n cho vay nới lỏng và hội
chứng thích mua nhà của người dân Mỹ.
Cuộc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ, trong đó những người đi vay cầm cố
dưới chuẩn bị phá sản với số lượng lớn đã gây thiệt hại cho người cho vay cầm
cố và làm giá nhà đất sụt giảm, đồng thời gây ra thất thoát khổng lồ cho những
định chế tài chính có dính đến cho vay cầm cố dưới chu
ẩn.
Khi lãi suất tăng lên và giá cả bất động sản giảm nhanh đã gây ra khó
khăn cho hoạt động cho vay cầm cố dưới chuẩn. Khủng hoảng trên thị trường
cho vay cầm cố dưới chuẩn đã xảy ra khi một loạt các vụ tịch thu tài sản trên
thị trường gia tăng ở Mỹ vào năm 2006 và lây lan thành khủng hoảng tài chính
toàn cầu vào tháng 7 năm 2007.
Những sai lầm của hệ thống ngân hàng Mỹ trong việ
c cấp tín dụng quá
dễ dãi, nhất là cấp tín dụng cho kinh doanh nhà đất đã châm ngòi nổ cho một
19
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong thời đại toàn cầu hoá, khi mà định
chế tài chính toàn cầu có mối quan hệ tín dụng đan xem nhau thì cuộc khủng
hoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất thế giới đã nhanh chóng lây lan sang
các nước khác.
Nguyên nhân thứ hai, do chứng khoán hoá các khoản vay trên thị
trường cho vay thế chấp bất động sản.
Khi bong bóng bất động sản bị vỡ, các hợp đồng cho vay dưới chuẩn
không có khả năng thanh toán, giá trị bất động sản trượt dốc thảm hại, thấp
hơn các khoản nợ vay phải trả. Thị trường bất động sản hạ nhiệt một cách liên
20
tục, làm cho người đi vay vốn đã khó có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó
bán bất động sản để trả nợ hoặc phải bán với giá rất thấp. Hậu quả là một số
lớn các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để đảm bảo cho các MBS là nợ
khó đòi. Điều đó làm cho MBS mất giá trên thị trường thứ cấp, thậm chí
không còn mua bán
được, gây ảnh hưởng dây chuyền đến giá trị và tính thanh
khoản cho toàn bộ các MBS. Các ngân hàng, các nhà đầu tư đang nắm giữ các
MBS bị lỗ nặng, thậm chí mất khả năng thanh toán. Chính các công ty bảo
hiểm đã lao vào bảo hiểm quá nhiều cho các khoản vay được hình thành từ nợ
xấu nên việc bồi thường đã trở thành gánh nặng quá mức, làm cho tình hình
tài chính bị rối loạn.
Nhiều thị trường tài chính khác trên thế giới cũng bị
rung động theo bởi
nhiều định chế tài chính lớn trên thế giới cũng đã đầu tư vào MBS.
Tóm lại, căn nguyên của khủng hoảng bắt nguồn từ sự vỡ nợ các khoản
cho vay cầm cố mua nhà dưới chuẩn của các ngân hàng Mỹ, sau đó đã lan ra
các tổ chức tài chính khác. Chính tính chất phức tạp của quá trình chứng
khoán hoá đã làm cho việc đánh giá các khoản nợ dưới chuẩn cùng quy mô bất
ổ
n đã trở thành một thách thức lớn, tạo ra một đặc tính chưa có tiền lệ trong
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Nguyên nhân thứ ba, theo chúng tôi, đây là nguyên nhân cơ bản đó là
do việc buông lỏng quản lý, giám sát đối với hoạt động tài chính sự không
tách bạch của ngân hàng thương mại chuyên thực hiện những hoạt động cho
vay an toàn với ngân hàng đầu tư chuyên thực hiện những nghiệp vụ rủi ro cao