BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
MÃ SỐ: 02.09.RDBS
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ
ĐẾN KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. NguyÔn V¨n LÞch
C¸c thµnh viªn tham gia:
TS. Tõ Thanh Thñy
CN. Vũ Thị Ngọc Anh
CN. Bùi Thanh Thủy
CN. Đỗ Quang
CN. Từ Quỳnh Châu
1.2.1.1.
Kinh tế Mỹ suy giảm
19
1.2.1.2.
Hệ thống tài chính Mỹ bị chao đảo .
20
1.2.1.3.
Làn sóng phá sản, quốc hữu hoá, mua lại gia tăng
20
1.2.2 Tác động đến kinh tế và thương mại các nước 25
1.3
NHỮNG BIỆN PHÁP ĐÃ ĐƯỢC CÁC NƯỚC SỬ DỤNG ĐỂ HẠN
CHẾ ẢNH HƯỞNG XẤU CỦA KHỦNG HOẢ
NG KINH TẾ THẾ
GIỚI.
28
1.3.1. Những biện pháp từ chính phủ Mỹ 28
1.3.2. Những biện pháp từ EU 30
1.3.3. Những biện pháp từ chính phủ Anh 31
1.3.4. Những biện pháp từ chính phủ Nhật Bản 31
1.3.5. Những biện pháp từ chính phủ Trung Quốc 33
1.3.6. Những biện pháp từ chính phủ Hàn Quốc 35
1.3.7. Đánh giá chung về những biện pháp này 36
1.3.7.1.
Cần hợp tác quốc tế để vượt qua khủng hoảng
36
1.3.7.2.
Những kết luận rút ra
36
1.3.7.3.
2.2.
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
MỸ ĐỐI VỚI KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2008
VÀ 2009
51
2.2.1 Tác động đến mức tăng trưởng kinh tế 52
2.2.2
Tác động tới xuất nhập khẩu
52
2.2.3.
Tác động của khủng hoảng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện
trợ chính thức ODA và kiều hối.
57
2.2.4.
Tác động của khủng hoảng đến thu, chi ngân sách nhà nước
59
2.2.5.
Tác động đến lao động và việc làm
61
2.2.6.
Khủng hoảng tác động đến lạm phát thấp trong năm 2009
62
2.3
NHỮNG BIỆN PHÁP VIỆT NAM ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ HẠN CHẾ
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
64
2.3.1
Những biện pháp đã thực hiện
3.2.1 Một số nhận định cho phát triển kinh tế 79
3.2.2 Những vấn đề đặt ra cho nền kinh tế nước ta 83
3.2.2.1.
Quan điểm và định hướng nhằm hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu
83
3.2.2.2.
Những cơ hội do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mang lại cho phát
triển kinh tế và thương mại Việt Nam
84
3.2.3.
Giả
i pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn
cầu
88
3.3
GIẢI PHÁP CHUNG
93
3.3.1 Giải pháp về kinh tế 93
3.3.2 Giải pháp về phát triển xuất khẩu hàng hóa 98
3.3.3. Giải pháp xây dựng và phát triển thị trường sau khủng
hoảng
99
3.3.4. Tái cơ cấu nền kinh tế 101
3.3.5. Hoàn thiện thể chế, môi trường kinh doanh 107
3.3.6.
Điều chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam phù hợp với yêu cầu phục hồi
và phát triển kinh tế sau khủng hoảng
113
Biểu đồ
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ thất nghiệp của các hãng trong ngành công nghiệp tại Mỹ
Biểu đồ 1.2. Lệ thuộc tín dụng vay mượn trong hoạt động thương mại và lao
động
Biểu đồ 2.1. Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam trong 24 tháng
(năm 2008 & 2009)
Biểu đồ 2.2. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chế tạo trong 24 tháng (2008-
2009)
Biểu
đồ 2.3. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng khoáng sản và nông sản trong 24
tháng ( 2008- 2009)
Bảng
Bảng 1.1. Hệ quả cuộc khủng hoảng tài chính và tỷ lệ thị trường lao động Mỹ
Bảng 1.2. Tăng trưởng thế giới so sánh với dự đoán của tháng 11/2008
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Mỹ giai đoạn 1995 – 2001
Bảng 2.2. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Mỹ giai đoạn 2002 – 2007
Bảng 2.3. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ năm 2008, 2009
Bảng 2.4. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu từ thị trường Mỹ năm 2008, 2009
Bảng 2.5. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ
Bảng 2.6. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các thị trường chủ yếu
Bảng 2.7. Kim ngạch nhập khẩu của Việt qua các thị trường chủ y
ếu
Bảng 2.8. Tăng trưởng xuất , nhập khẩu từ 2005- 2009
Bảng 2.9 Các nhóm lao động bị ảnh hưởng ở Việt Nam
3
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài:
Với kim ngạch nhập khẩu chiếm tới 20% toàn thế giới, GDP chiếm 25% cả
Sự phụ thuộc lớn vào thương mại quốc tế và đầu tư từ nước ngoài, bên
cạnh những tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng đem đến
nhiều khó khăn thách thức cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầ
u. Những ảnh hưởng trực tiếp mà Việt Nam
đã bắt đầu thấy rõ là từ tháng 7/2008 cho tới tháng 3/2009, kim ngạch xuất khẩu
hàng hoá của Việt Nam tháng sau luôn giảm so với tháng trước. Tình hình cũng
4
diễn biến theo xu hướng tương tự đối với thu hút FDI, FII và ODA, dẫu mức độ
có khác nhau
Do giảm nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chính là Mỹ, EU và Nhật
Bản (hiện chiếm khoảng 60% tổng trị giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam) đã
gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam trong việc tìm kiếm các thị trường xuất khẩu
mới để có thể bù đắp cho sự sụt giảm này
Trong khi
đó, việc thực hiện tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng và
vốn đầu tư ở các nước do khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động làm suy
giảm dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam Kết quả là, nền kinh tế
Việt Nam năm 2009 đứng trước những khó khăn thử thách rất lớn của suy giảm
tăng trưởng, nguy cơ thất nghiệp gia tăng, nguy cơ về những bất ổ
n kinh tế vĩ mô,
hạn chế những nỗ lực cuả Việt Nam trong thực hiện mục tiêu xóa đói giảm
nghèo…
Để có những bước đi đúng cho nền kinh tế của nước ta hiện nay, vấn đề
đặt ra là cần có những nghiên cứu cũng như những đo lường để đánh giá tác động
của cuộc khủng hoảng này đến Việt Nam như thế nào? Sự ảnh hưở
ng này tác
động đến đâu và việc đo lường, định lượng được sẽ giúp cho các nhà hoạch định
chính sách đưa ra những giải pháp mang tính tình thế cũng như có những biện
pháp điều chỉnh kịp thời trong chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của đất nước
tiền một cách cực kỳ tham lam của chế
độ tư bản coi thường mọi định chế kiểm
soát kinh tế và đã gây hậu quả to lớn về phát triển nền kinh tế.
- Một số phát biểu trên trang ViệtNamnet của TS Võ Trí Thành - Trưởng
ban Nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế (Viện Nghiên cứu quản lý
kinh tế Trung ương) trong bài bình luận về “Tài chính Mỹ khủng hoảng, Việt
Nam càng cần giữ niềm tin" đã cho rằng một số d
ấu hiệu có tính khả quan như
cần phải kỳ vọng là CPI sẽ giảm và kinh tế vĩ mô sẽ dần bình ổn. Đồng thời, Việt
Nam cũng phải tính sẵn các kịch bản để có phản ứng kịp thời nếu tình huống
tương tự xảy ra.
- Trong một báo cáo của Phạm Ngọc Quang - Trung tâm Nghiên cứu các
chính sách và phát triển Việt Nam vào 27/02/2009 về “Tác động của khủng
hoảng kinh tế tài chính toàn cầu t
ới Việt Nam”, đã thực hiện đánh giá tổng quan
tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến lạm phát, tỷ giá ngoại tệ và một
số lĩnh vực công nghiệp khác cũng như hệ quả của những tác động này đến lao
động, hoạt động doanh nghiệp ….
Ngoài ra, trong một số bài viết khác như bài “Điểm khác biệt của khủng
hoảng tài chính Mỹ ” (Economic vào tháng 9/2008); bài “Phép so sánh giữa
kh
ủng hoảng tài chính Mỹ - Nhật”( Economic ngày 13/02/2009) … đã phân tích
gốc rễ của cuộc khủng hoảng, từ đó có đưa ra những nhận định về cuộc giải cứu
thị trường hiện nay của chính phủ Mỹ và những vấn đề đặt ra để ngăn chặn đợt
khủng hoảng này lại là tái cơ cấu lại các nền kinh tế .
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến chủ
đề này. Nhiều cuộc hội thảo về chủ đề khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác
động đến NSNN, hay tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế
giới - chính sách ứng phó của ViệtNam. Nhìn chung, những nghiên cứu nói trên
pháp nhằm khôi phục kinh tế Việt Nam thời kỳ đến 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu, số liệu
- Phương pháp tổng hợp nghiên cứ
u liên quan đến chủ đề nghiên cứu và kế
thừa những kết quả nghiên cứu trước đây
7
- Phương pháp phân tích và so sánh
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia, hội thảo khoa học
6. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài nghiên cứu được chia
thành 3 chương :
Chương I. Tổng quan và ảnh hưởng về khủng hoảng tài chính Mỹ đối với
kinh tế thương mại toàn cầu.
Chương II. Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đối với kinh
tế và thương mại Việt Nam.
Chương III. Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế thương mại nước ta
giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu. 8
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VÀ ẢNH HƯỞNG VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
Centro Properties đ
ã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney.
- Ngày 11/1/2008, Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền
gửi và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial
9
sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản
cho vay khó đòi quá lớn.
- Ngày 30/1/2008, Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự
phòng 4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những
thất thoát liên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố.
- Ngày 17/2/2008, Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
- Ngày 28/2/2008, Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách
các nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổ
ng giá trị tài sản
mất giá là 1,36 tỷ euro.
- Ngày 16-17/3/2008, Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP
Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
- Ngày 29/4/2008, Deutsche Bank lần đầu tiên trong 5 năm công bố một
khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các
khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế chấp bất động
sản.
- Ngày 11/7/2008, Chính quyền liên bang Mỹ đo
ạt quyền kiểm soát Ngân
hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất
từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong
vòng 11 ngày.
- Ngày 31/7/2008, Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp
theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD.
Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng
tín dụng toàn cầu.
Phố Wall.
- Ngày 22/9/2008, Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD
để thâu tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại
Lehman tạ
i châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20%
cổ phần Morgan Stanley.
- Ngày 23/9/2008, Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman
Sachs; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman
vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
- Ngày 25/9/2008, Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những
ngân hàng lớn nhất Mỹ sụp đổ do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế
chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát
WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho
JPMorgan Chase & Co.với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu
đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
- Ngày 29/9/2008, Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị
trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công
11
nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất
từ trước tới nay.
- Ngày 1/10/2008, Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700
tỷ USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo
luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách
thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn m
ức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền
gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.
- Ngày 3/10/2008, sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã
bỏ phiếu lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171. Không
đầy 2 giờ sau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch
thành đạo luật.
cầu, ông cũng là người chỉ trích kịch liệt Chính phủ của Tổng thống Bush, và là
người vạch ra những hiểm họa của tự do thị
trường thiếu sự giám sát của Chính
phủ.
- Ngày 14/10/1008, Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải
cứu 700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu
ưu đãi của các ngân hàng này. Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải
cứu, vì trong kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ
xấu ngân hàng, không mua cổ phần.
- Ngày 17-11- 2008, Ngân hàng Citigroup sa thải b
ớt 50.000 ngân viên
cộng với 23.000 nhân viên đã sa thải năm 2007.
- Ngày 21-11- 2008, Cổ phiếu Citigroup giảm chỉ còn 4 USD (năm 2007
cổ phiếu này là 50 USD).
- Ngày 23-11- 2008, Chính phủ hỗ trợ 300 tỉ USD cho Citigroup - Ngân
hàng lớn thứ hai tại 100 quốc gia, gồm 25 tỉ USD tiền mặt cộng với tiền bảo lãnh
nợ và tiền ký gửi tại ngân hàng (hơn 300 tỉ USD), Trong khi đó tại Washington
D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những đ
iều khoản
chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỉ USD.
- Ngày 25-11-2008, FED công bố kế hoạch bơm 800 tỷ USD vào nền kinh
tế Mỹ nhằm ổn định hệ thống tài chính.
- Ngày 1-12-2008, Mỹ thừa nhận đã suy thoái kinh tế từ cuối năm 2007.
- Ngày 21-12-2008, Chính phủ Mỹ gửi cứu tợ khẩn cấp trị giá 17,4 tỷ USD
cho ngành chế tạo ô tô của nước này.
- Ngày 11-12-2008,vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff vỡ
lở, gây
chấn động cả nước Mỹ.
Đến thời điểm này, chưa có một con số thống kê chính xác, có bao nhiêu
ngân hàng, tập đoàn, doanh nghiệp…bị phá sản, bị mua lại, bị quốc hữu hoá trên
trả nợ thế nào. Nhưng khi giá nhà giảm mạnh, khách hàng không trả nợ được dẫn
đến nợ xấu tăng nhanh và ngân hàng bị mất khả năng thanh toán.
+ Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu được bắt
nguồn từ khủng hoảng tín dụng và khủng nhà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động
sản càng phình to đã khiến thị trường nhà đất, thị tr
ường tín dụng Mỹ và nhiều
quốc gia khác rơi vào tình trạng nguy kịch. Thị trường bất động sản Mỹ sụp đổ
được coi là nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính.Cho vay cầm cố
dưới chuẩn được xem là nguyên nhân gây ra những rối loạn trong hệ thống ngân
hàng Mỹ, lây lan theo hệ thống dây chuyền và từ đó bùng phát thành khủng
14
hoảng tài chính. Nhiều ngân hàng lớn ở Mỹ đã sụp đổ, một số bị sáp nhập, một số
có nguy cơ thiếu hụt thanh khoản, một số phải xin viện trợ của Chính phủ.
Cho vay dưới chuẩn là hình thức cho vay phổ biến tại Mỹ, là khoản cho
vay chất lượng thấp, mức độ tủi ro cao. Để bù đắp rủi ro, các khoản vay chuẩn là
những khoản vay có lãi suất cao hoặc ng
ười đi vay phải chấp nhận vay theo lãi
suất ARM (Adjus table Rate Morttage) với lãi suất ban đầu thấp sau được điều
chỉnh lên ở những mức cao hơn. Vì vậy các khoản vay dưới chuẩn có lãi cao hơn
lãi suất thị trường và mức bù rủi ro này làm tăng thêm khó khăn tài chính cho
người vay, đặc biệt là khi lãi suất thị trường tăng.
Cho vay cầm cố dưới chuẩn là loại hình cho vay dưới chuẩn. Từ năm 2004
đến 2006, cho vay cầm c
ố phát triển rất nhanh, chiếm khoảng 21% tổng các
khoản cho vay cầm cố. Năm 2006, cho vay cầm cố dưới chuẩn đã lên đến 600 tỷ
USD (bằng1/5 thị trường cho vay mua nhà ở Mỹ).
Lý do giải thích cho sự phát triển nhanh của cho vay cầm cố dưới chuẩn là
việc giá nhà tăng khiến nhà đất trở thành mảnh đất béo bở. Các nhà đầu cơ địa ốc
đổ vốn vào thị trường này để thu lợi. Giá nhà càng tă
ng cao, nhu cầu vay tiền
cố bất độ
ng sản tăng từ 160 tỷ USD năm 2001 lên 540 tỉ USD năm 2004 và nhảy
vọt lên 1.300tỷ USD năm 2007. Đến hết năm 2008, hơn một nửa giá thị trường
nhà đất ở Mỹ là tiền đi vay, với 1/3 các khoản này là nợ khó đòi.
Sự phục hồi kinh tế cùng với xu hướng lạm phát gia tăng đã buộc FED
tăng lãi suất trở lại, từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006.
Chính lãi suấ
t tăng đã trở thành áp lực lớn cho người vay mua nhà. Vì vậy, thị
trường bất động sản bắt đầu có dấu hiệu đóng băng và sụt giảm.
Bong bóng nhà đất bắt đầu xì hơi, các chủ nhà đất rơi vào cảnh khó khăn
tài chính do lãi suất tăng làm tăng giá trị hoá đơn thanh toán cho khoản vay cầm
cố hàng tháng. Bên cạnh đó, giá nhà giảm làm giá trị tài sản cầm cố giảm xuống
thấp hơ
n mức tiền vay gốc để mua nhà. Tỷ lệ vỡ nợ của người vay tăng lên nhất
là những người vay dưới chuẩn. Trong hoàn cảnh đó, các công ty cho vay lại đẩy
nhanh hoạt động xiết nợ.
Giá nhà đất giảm quá nhanh nên bán nhà thu hồi vốn là rất khó khăn. Lãi
suất tiếp tục tăng làm cho giá nhà đất suy giảm hơn nữa và đã ảnh hưởng tiêu cực
đến cả lĩnh vực cho vay đủ tiêu chuẩn. N
ăm 2007 có gồm 1,3 triệu bất động sản ở
Mỹ bị tịch thu để thế nợ. Cứ 519 hộ thì có một hộ nhận được hồ sơ tịch thu tài
sản để thế nợ trong tháng 4/2008. Nhiều ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính
khác trên thế giới đã báo cáo lỗ khoảng 435 tỷ USD tại thời điểm 17/7/2008.
Cuối năm 2008 có 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản.
Tóm l
ại. Nguyên nhân tạo nên bong bóng bất động sản là :
16
+ Chính sách hạ thấp lãi suất của FED bắt đầu từ 2001nhằm giúp kinh tế
Mỹ thoát khỏi trì trệ.
+ Chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và dân da màu
các ngân hàng đầu t
ư sinh lời lớn, do đó các ngân hàng đầu tư lại càng lao vào.
Vì thế mà thị trường bất động sản đã trở thành sân chơi mới cho các nhà đầu tư
kể cả trong và ngoài nước.
17
Việc kinh doanh MBS rất phức tạp nên đã diễn ra gần như ngoài tầm kiểm
soát của Chính Phủ và lòng tham, tính mạo hiểm đã làm nhiều nhà đầu tư mù
quáng. Còn các ngân hàng thương mại, có thể bán lại, phần lớn các khoản vay để
các công ty khác biến chúng thành MBS nên các ngân hàng thương mại cũng
mạo hiểm hơn trong việc cho vay mà rất coi nhẹ khả năng trả nợ của người vay.
Các MBS không chỉ được tạo ra và lưu hành ở Mỹ
mà rất nhiều nước khác
cũng phát hành các trái phiếu loại này trên thị trường tài chính nước mình. Hơn
nữa, vì tin tưởng vào các sản phẩm phát sinh này, các nước cũng tham gia mua
MBS của Mỹ. Theo tính toán của ISDA (International Swafs and Derivatives
Assocition) thì con số MBS đã là 12.000 tỷ USD, trong đó 4.000 tỷ USD là nợ
xấu.
Bên cạnh đó, còn xuất hiện một loại hợp đồng có tên “Hợp đồng bảo lãnh
nợ khó đòi” (Credit Default Swap - CDS). Loại này ra đời với mục đích chủ yếu
để
tự bảo hiểm rủi ro. Trường hợp bên mua không trả được nợ thì bên bán CDS
sẽ bảo đảm hoàn trả nợ vay cho bên mua CDS. Theo ISDA, tính đến 30/6/2008
tổng các khoản CDS tại Mỹ vào khoảng 3.500 tỷ USD và trên thế giới khoảng
54.600 tỷ USD. Các công ty bảo hiểm như AIG cũng tham gia bán bảo hiểm cho
các nhà đầu tư MBS, tức các CDS, với mục đích bảo đảm cho các nhà đầu tư
MBS sẽ được bồi thường trong trường hợp ngườ
i đi vay không trả được nợ nợ và
làm cho MBS mất giá.
Khi bong bóng bất động sản bị vỡ, các hợp đồng cho vay dưới chuẩn
không có khả năng thanh toán, giá trị bất động sản trượt dốc thảm hại, thấp hơn
thúc đẩy với lãi suất thấp, sự dồi dào của thanh khoản và thiếu vắng các tiêu
chuẩ
n cho vay. Các tổ chức điều tiết như Uỷ ban chứng khoán Mỹ (SEC)đã bị chỉ
trích vì đã không giám sát tốt các ngân hàng đầu tư, các quỹ đầu cơ và các công
ty môi giới.
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, những yêu cầu về minh bạch hoá, năng
lực kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước đã không bắt kịp với những biến
đổi sâu rộng của thị trường. Các sản phẩm chứng khoán hoá có tác dụng t
ăng
nguồn tài chính và phân tán rủi ro, tạo điều kiện cho việc đi vay dễ dàng hơn lại
thực hiện qua nhiều lần phức tạp, khó có một cơ quan nào có thể kiểm soát nổi.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, các ngân hàng thương mại trả tiền cho các tổ
chức định mức tín nhiệm thực hiện các tài sản thế chấp sự buông lỏng quản lý và
giám sát của các cơ quan chức năng đối với ho
ạt động tài chính, đặc biệt là đối
với hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cùng với việc không tuân
thủ kỷ luật thị trường là nguyên nhân rây ra khủng khoảng.
Như Giáo sư kinh tế đoạt giải thưởng Nobel năm 2001 Joseph E.Stiglitz
nói: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính
của mình, đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn. Cả hệ thống tài chính Mỹ đã
không làm nhữ
ng gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm
19
để góp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình,
như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà sụt
giảm mạnh”.
Việc thay thế đạo luật Glass-steagall bằng đạo luật Glamm-Leach – Bliley
đã cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vào kinh doanh các lĩnh
vực mạo hiểm nhờ nghiệp vụ chứng khoán hoá và bản các khoản vay bất động
sản. Đạo luật mới này cho phép tái h
ế.
20
Do sức cầu yếu, thâm hụt thương mại của Mỹ cũng đã tăng lên. Trong
tháng 4/2009, thâm hụt thương mại Mỹ đã tăng lên 29,2 tỷ USD chủ yếu do hoạt
động xuất khẩu bị suy giảm vì nhu cầu toàn cầu bị đóng băng. Theo số liệu của
Bộ Thương mại Mỹ, tổng kim ngạch xuất khẩu giảm 8 tháng liên tiếp, tới mức
thấp nhất kể
từ giữa năm 2006, xuống còn 121,1 tỷ USD, tương đương 2,3%.
Cũng trong tháng 4/2009 nhập khẩu giảm tháng thứ 9 liên tiếp nhưng với mức độ
thấp hơn so với xuất khẩu (1,4%). Giá trị nhập khẩu thấp nhất kể từ tháng
9/2004. Do Mỹ chiếm 20% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm của thế giới nên
sự biến động của nền kinh tế Mỹ có tác động đến nhi
ều nước xuất khẩu trên thế
giới.
1.2.1.2. Hệ thống tài chính Mỹ bị chao đảo .
Khởi đầu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là sự đổ vỡ thị trường
tín dụng dưới chuẩn của Mỹ vào tháng 7/2007. Có 3 ngân hàng tại Mỹ bị sụp đổ
năm 2007. Đến năm 2008 con số này đã lên đến 25 ngân hàng và nửa đầu năm
2009 hơn 40 ngân hàng tiếp tục ra đi. Đặc biệ
t sự sụp đổ điêu đứng của các
ngân hàng tên tuổi lớn Lehman Brothers, Washington Mutual Inc hay AIG,
Fannte Mae, Freddie Mac, Northern Rock khiến cả thế giới chao đảo. Toàn cầu
hoá giúp liên thông thị trường tài chính thế giới nên ảnh hưởng xấu lan truyền
trong hệ thống tài chính thế giới thêm nghiêm trọng.
Tháng 12/2008 vụ lừa đảo lớn 50 tỷ USD chưa từng có do nhà đầu tư kỳ
cựu trên thị trường chứng khoán và là cựu chủ tịch sàn Nasdaq – Benard Madoff
bị phanh phui.Lợi dụ
ng ảnh hưởng và uy tín của Madoff tại phố Wall, quỹ đầu tư
của Madoff đã thu hút hơn 50 tỷ USD từ các nhà đầu tư (trong đó có nhiều ngân
hàng lớn Châu Âu). Vụ lừa đảo này đặt ra câu hỏi quanh vai trò của hệ thống
2.700 tỷ USD.
Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ - America International Group
(AIG) có tổng vốn 1,05 ngàn tỷ USD, hoạt động ở
130 nước, 74 triệu khách hàng
trên toán cầu, bên bờ phá sản. Nếu để AIG sụp đổ thì thị trường tài chính chao
đảo mạnh hơn, chính phủ Mỹ đã bơm 85 tỷ USD vốn của FED để cứu AIG và
đổi lại chính phủ nắm giữ 80% cố phần và thay thế ban lãnh đạo của tập đoàn
này.
Do tin đồn Washington Mutual Inc sắp bị vỡ nợ, chỉ trong vòng 10 ngày,
hàng loạt khách hàng ồ ạt rút 16 tỷ USD tiền gửi đã làm ngân hàng này g
ục ngã.
WaMu có tổng tài sản 307 tỷ USD, là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất nước Mỹ lâm
vào tình trạng thua lỗ do các khoản nợ xấu liên quan đến vay cầm cố địa ốc, phần
do sự tháo chạy của khách hàng gửi tiết kiệm. Chính phủ Mỹ đã đóng cửa WaMu
và chuyển nhượng lại cho JP Morgan Motors Corporation (GM) ngày 1/6/2009 là
vụ phá sản lớn thứ 4 của Mỹ và là vụ phá sản lớn nhất trong ngành công nghiệp.
GM là hãng sản xuấ
t ô tô lớn thứ 2 thế giới, sau Toyota. Chính phủ Mỹ sẽ bơm
tiền cho GM và chuyển 50 tỷ USD tiền nợ tháng 60% cổ phần tại hãng xe mới
hình thành sau phá sản.
Trên đây là một số vụ phá sản, sáp nhập, mua lại điển hình ở Mỹ do hậu
quả của cuộc khủng tài chính.