Lời nói đầu
Trớc tháng 7- 97, tức là trớc thời điểm xẩy ra cơn bão tài chính tiền tệ ở
Châu á mà tâm điểm là khu vực Đông Nam á, nhiều nớc thành viên ASEAN
đã kỳ vọng đến việc rút ngắn thời hạn hoàn thành AFTA vào năm 2000. Đối
với Việt Nam, nhiều ngời cũng hy vọng sẽ rút ngắn tiến trình thực hiện
AFTA vào năm 2003 thay cho mốc thời gian dự kiến ban đầu là 2006. Lý do
căn bản là Việt nam và các nớc ASEAN đều muốn đẩy nhanh tiến trình AFTA
nhằm nhanh chóng biến khu vực ASEAN thành một khu vực kinh tế mở có
năng lực thích ứng cao nhất với các xu thế do hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra
hết sức nhanh chóng của nền kinh tế thế giới.
Tuy vậy, sau khi cơ bão tài chính tiền tệ xảy ra vào tháng 7 năm 1997 và
lan truyền ra toàn khu vực theo hiệu ứng Đôminô với những tác động hết
sức nghiêm trọng đến nền kinh tế các nớc ASEAN và nền kinh tế toàn cầu đã
khiến không ít ngời nghi ngờ về tính khả thi của AFTA theo lịch trình đã cam
kết của các nớc.
Vì vậy đối với Việt nam tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
đến tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là điều không tránh khỏi.
Trong một nỗ lực tổng hợp và phân tích, nghiên cứu và đánh giá, bài viết
xin trình bày một số những vấn đề về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở
Đông Nam á.Cụ thể là :
Phần I : Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á và tác động đến Nội dung
của đề tài sẽ đi sâu phân tích những nguyên nhân, tác động của cuộc khủng
hoảng, từ đó so sánh với hiện trạng của nền kinh tế Việt nam trên các lĩnh vực:
đầu t, xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, thị trờng chứng khoán... trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp chống đỡ và thoát khỏi cuộc khủng hoảng nhằm thực
hiện tiến trình cải cách nền kinh tế, đạt đợc những mục tiêu đã đề ra: phát triển
nhanh và bền vững, thúc đẩy tiến trình hội nhập nền kinh tế Việt nam với các
1
nớc trong khu vực và trên. thế giới, đa nớc ta thành một nớc công nghiệp vào
năm 2020
Nội dung
cửa.
Ngày 11-8 : Hội nghị tài trợ đa phơng quốc tế tại Tokyo đa ra một cam
kết viện trợ cả gói 16,7 tỷ USD cho Thái lan kèm theo hàng loạt cac điều kiện
yêu cầu Thái lan phải thực hiện.
Ngày 15-10 : So với trớc khi đợc thả nổi, đồng Baht đã bị mất giá hơn
40% và đạt mức 36,72 Baht/1USD.
Ngay sau khi sự kiện thả nổi tỷ giá ở Thái lan một phản ứng dây truyền
đã xảy ra tại các nớc trong khu vực, nhất là các nớc đang có sẵn nhiều vấn đề
nội tại trong phát triển kinh tế nh Philippines, Malaysia, Indonexia, và tác
động đến cả nền kinh tế khoẻ mạnh của Singapore.
Ngày 11-7 : Chính phủ Philippines tuyên bố thả nổi đồng peso. Đồng này
sụt giá ngay trong ngày đến 11,6% so với đôla Mỹ (29,45peso/1USD)
Trong vòng 10 ngày sau đó, Ngân hàng trung ơng Philippines phải đa vào
thị trờng 1,58 tỷ USD để chống đỡ cho đồng peso trớc sự tấn công của các nhà
đầu cơ tiền tệ, khiến cho dự trữ ngoại tệ của ngân hàng này xuống còn 9,7 tỷ
USD.
Ngày 18-7 : Đồng đôla Singapore giảm giá nhẹ : 1,4680đôla
Singapore/1USD.
Ngày 21-7 : Inđonesia buộc phải cho đồng Rupiah rớt giá còn 2,640
rupiah/1USD.
Ngày 11-8 : Đồng Ringgit tại Malaysia sụt giá nhanh : 2, 7060 runggit
đổi đợcv 1USD so với 2,6505 của ngày 8-8. Đây là mức thấp nhất kể từ 40
tháng qua.
3
Ngày 14-8 : chính phủ Inđonesia quyết định thả nổi đồng rupiah (đồng
tiền này bị mất giá tới 19% so với đồng đôla Mỹ, trên 3000 rupiah/1USD).
Ngày 14-9 : Đồng ringgit của Malaysia lại xuống giá nhanh, sau khi có
các lời chỉ trích lẫn nhau giữa thủ tớng Mahathir và nhà tài chính George
Soros.
Ngày 3-11 : Chính phủ Inđonesia dới sức ép của IMF (xem nh một trong
Indonesia
Rupiah
Singapore
Dollar
Philipine
Peso
Thailand
Bath
4/97
5
6
7
8
9
10
11
12
1/98
2
3
0
-1
-2
-3
-7
-15
-29
-26
-30
-37
-9
-14
-24
-25
-25
-35
-40
-35
0
0
+3
+3
-19
-23
-27
-35
-37
-44
-53
-42
Bảng 2 : Tỷ giá các đồng tiền ASEAN trớc khi bị khủng hoảng so với USD
Thời điểm đầu tháng 4/97
Nguồn : Tin tham khảo hàng ngày
Malaysia
Ringgit
Indonesia
Rupiah
Singapore
Dollar
Philippines
Lumpur
Composite
Singapore
ST Indl
2/97
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
1/98
2
3
0
-8
-5
-20
-30
-20
-13
-40
-40
-47
-49
-55
0
-1
-6
-7
-7
-11
-14
-20
-34
-35
-45
-55
-60
-42
0
0
-7
-10
-10
-10
-12
-15
-14
-29
-23
-30
-43
-31
Nguồn : ASIA Week March 6,1998
Nh vậy rõ ràng theo nh số liệu bảng trên thì luận điểm cho rằng sự phá
7
nhiều vào xuất khẩu . Chẳng hạn ở Malaysia kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm
tới 90% GDP . Trong khi đó các nớc này lại tập trung quá mức vào một số mặt
hàng chủ chốt nh điện tử , may mặc.. làm cơ cấu các mặt hàng sản xuất nghèo
nàn, mất cân đối. Bình quân từ năm 1994 , 1995 và đầu năm 1996 khoảng 70%
kim ngạch xuất khẩu của Singapore là hàng điện tử chiếm gần 50% GDP, đối
với Malaysia tỷ lệ này là 50% GDP và Hàn Quốc là 33,3% GDP, Thái lan
21,2% GDP và Philipin là 43,5% GDP. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều nớc
cũng tập trung vào các mặt hàng này dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng lớn , thị
trờng có xu hớng bão hoà . Đặc biệt phải kể đến Trung quốc , sau những năm
80 Trung quốc tiến hành giảm giá NDT . Trong vòng 10 năm từ năm 1980 trở
lại đây Trung quốc đã 4 lần giảm giá NDT , so với USD mức mất giá lên tới
212,6% trong vòng 6 năm ( từ 1981-1987) vì vậy hàng hoá xuất khẩu của
Trung quốc tăng nhanh và cạnh tranh mạnh mẽ với hàng hoá của Thailand và
các nớc ASEAN do giá rẻ . Năm 1996 xuất khẩu của Trung quốc đã đạt tới
150 tỷ USD gần bằng tổng giá trị xuất khẩu của cả 4 nớc Malaysia. Thailand,
Indonexia. Philipine cộng lại. Đầu năm 1997 xuất khẩu của Trung Quốc tăng
25% trong khi đó xu thế đối với các nớc ASEAN lại giảm. Nhịp độ tăng xuất
khẩu của cả khu vực ASEAN đã giảm từ 20% năm 1995 xuống còn cha đầy
10% năm 1996, hầu hết các nớc phải gánh chịu những tổn thất to lớn khi tổng
cầu đối với các sản phẩm điện tử giảm mạnh , tổng thu nhập tính theo USD từ
xuất khẩu đồ điện tử chỉ tính từ 12/1995 đến tháng 7/1996 giảm 10% trong đó
Hàn quốc giảm 22,5%, Singapo giảm 6,5%, đài loan giảm 13%
2
. Xuất khẩu
giảm dẫn tới thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai tại các nớc này ngày càng
lớn . Khoản thâm hụt này năm 96 của cả Malaysia và Thái lan đều đạt mức
13,5 tỷ USD tơng ứng chiếm 5,5% và 7,9% so với GDP , đối với Indonesia vào
khoảng 8,7 tỷ USD chiếm 3,4% GDP .
Thứ hai : Vay nợ nớc ngoài đặc biệt là nợ ngắn hạn của các doanh
của các nớc có nền kinh tế có dấu hiệu chững lại hoặc đi xuống, trong khi nền
kinh tế của Mỹ đang phát triển đã khiến cho các nớc này thay vì để đồng tiền
của mình sụt giảm theo đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD
9
để cố gắng duy trì mức cân bằng giả tạo tới mức không thể kiềm giữ đợc nữa.
Đặc biệt là Thái lan, việc 13 năm liền Chính phủ Thái lan duy trì tỷ giá cố định
giữa đồng Baht và USD ( khoảng 25 Baht/1USD) là hết sức phi kinh tế, bởi
trong khoảng thời gian này, các quá trình kinh tế thế giới và khu vực diễn ra
rất mạnh mẽ, đồng đôla Mỹ ngày càng mạnh lên, đồng Baht yếu dần, cho đến
trớc thời điểm xảy ra khủng hoảng, đồng Baht đã giảm xuống còn 30,27
Baht/1USD. Lợi dụng điều này, các nhà đầu t đã tạo ra mức bán khổng lồ hàng
chục tỷ Baht để mua vài tỷ USD. Sức mạnh theo kiểu bán khống đã nâng cầu
USD lên 100 lần so với bình thờng và đẩy tỷ giá vợt xa tỷ giá thực. Kết quả
đồng Baht bị bẻ gãy.
Thứ t : Hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém, công tác quản lý ngoại
hối lỏng lẻo : Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ ở cả Đông Nam á, Hàn quốc
và Nhật đã dẫn đến một số lợng nợ lòng vòng khổng lồ mà không kịp phát
hiện kịp thời. Các nớc có thị trờng tiền tệ khủng hoảng đều có mức nhập siêu
quá lớn, trong khi tỷ lệ dữ trữ ngoại tệ trên nợ nớc ngoài là quá thấp. Trong
năm 1996, tỷ lệ này của Hàn quốc là 31%, Inđonesia chỉ khoảng 12% và Thái
lan là 43,1%...
Bảng 8 : Dự trữ ngoại tệ của các nớc ASEAN .
dự trữ ngoại tệ các nớc ASEAN
Năm Indonexia Malaysia Philippines Xingapore Thailan
Tháng 1
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
80,54
81,85
79,51
78,05
38,20
37,20
37,10
36,30
32,20
31,40
30,40
25,90
10
Nguồn : Viện Phatra. Thái lan , tháng 9/1997
Cuối cùng chính sách tỷ giá cố định cứng nhắc tại các nớc này đặc biệt mâu
thuẫn với cơ chế tự do di chuyển vốn trong nền kinh tế các nớc từ đó làm hạn
chế và sai lệch khả năng kiểm soát các dòng vốn của Chính phủ .
***Thứ t : Hệ thống ngân hàng - tài chính yếu kém, công tác quản lí ngoại
hối lỏng lẻo .
Nhìn chung hệ thống ngân hàng - tài chính tại các nớc bị khủng hoảng
cha đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao . Trong một
thời gian dài sự yếu kém của hệ thống ngân hàng tài chính tại các nớc này đợc
che dậy bởi những thành tựu kinh tế của các nớc dẫn đến các thông tin phản
ánh bị lệch lạc , méo mó. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng do nhiều
nguyên nhân đem lại song theo chúng tôi có thể do một số nguyên nhân chính
nh :
Thứ nhất : Chính phủ các nớc có sự can thiệp ( mức độ khác nhau ) vào hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng và các công ty tài chính nhằm hớng các
hoạt động ngân hàng vào hỗ trợ cho chính sách phát triển kinh tế . Điều này
dẫn đến việc quản lí tín dụng lỏng lẻo và mở rộng đầu t quá mức khiến cho
Thực phẩm
Luyện kim
Hoá chất
Sx đồ dùng gia đình
Dệt
SXVL xây dựng
Sx máy móc
Dầu khí
Xây dựng
Thơng mại
Đầu t chứng khoán
60,0
53,9
47,2
52,1
32,5
24,5
24,0
2,0
22,9
147,9
66,4
7,2
6,4
5,6
6,1
3,8
2,9
2,8
0,2
78,8
18,6
36,5
45,9
153,6
226,1
4,5
10,1
10,3
4,6
4,5
6,5
1,5
3,0
3,8
17,6
18,5
12
Khai thác mỏ
Dịch vụ
Bất động sản
Những ngành khác
0,7
55,3
116,4
140,4
0,1
6,5
13,7
16,6
lãi suất trong nớc cao hơn nhiều so với lãi suất bên ngoài nên càng khuyến
khích hàng loạt các công ty vay nợ từ nớc ngoài để hởng chi phí vốn thấp.
Chẳng hạn, tại Thái lan 9/10 công ty do Viện Pharta Thankit thống kê đã vay
nợ tại nớc ngoài với lãi suất là 8,5% năm thấp hơn rất nhiều so với lãi suất
trong nớc là 13,5% / năm.
Đồng thời hệ thống ngân hàng tại các nớc này đã không điều chỉnh hợp lí
tỷ lệ vay nợ ngắn hạn và dài hạn. Khoản vay ngắn hạn ngày càng gia tăng. Chỉ
tính riêng ở Thái lan đã tăng gần 42% trong vòng 2 năm từ 29,3 tỷ USD năm
1994 lên đến 41,5 tỷ USD năm 1996. Còn đối với Indonesia theo ớc tính số nợ
nớc ngoài ngắn hạn chiếm 34,3 tỷ USD trong tổng số 120,5 tỷ vay nợ nớc
13
ngoài. Trong khi đó các nớc đều duy trì tỷ giá cố định theo USD vì vậy khi nền
kinh tế các nớc bị lâm vào tình trạng sa sút về xuất khẩu , tăng trởng chậm kéo
theo tình trạng thiếu ngoại tệ để thanh toán nợ nớc ngoài đã đến hạn. Tình
hình đó dẫn đến sức ép về phá giá đồng bản tệ ngày càng mạnh. Điều này càng
xấu thêm khi những lời đồn đại về khả năng phá giá đồng bản tệ đã thúc dục
các công ty và cá nhân đổ xô đi mua ngoại tệ nhằm trang trải các khoản nợ.
Hành động này cộng hởng với sự gia tăng đầu cơ càng làm tăng sức ép đối với
đồng bản tệ vốn đợc coi là bị đánh giá quá cao trong bối cảnh nền kinh tế đình
đốn của các nớc.
Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng các nớc này còn thể hiện trong việc
chậm trễ có các giải pháp đối phó với tình trạng di chuyển vốn ngoại tệ một
cách khá tự do. Chính sách quản lí ngoại hối quá lỏng lẻo đã tạo điều kiện cho
sự chuyển đổi dễ dàng giữa đồng bản tệ và ngoại tệ dẫn đến không kiểm soát
đợc sự rời đi của các dòng vốn do sự bán tháo đồng nội tệ để lấy USD khi xuất
hiện các dấu hiệu bất ổn định trên thị trờng tiền tệ .
Tóm lại, theo chúng tôi khủng hoảng tiền tệ tại các nớc Châu á năm 1997
là kết quả của một nền kinh tế hớng ngoại bị lệ thuộc nặng nề vào một số
ngành công nghiệp xuất khẩu và vào các khoản vay nợ, đặc biệt là các khoản
vay ngắn hạn bên ngoài không đợc kiểm soát. Trong khi đó các nớc lại duy trì