BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---- K ---
NGUYỄN NGỌC HOÀI
CÁC GIẢI PHÁP VỀ TÀI CHÍNH NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG MHB TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN VĂN SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................4
CHƯƠNG I:
LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG...............................6
1. LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG................................................... 6
1.1. Lý thuyết cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ................................ 6
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh............................................................................. 6
1.1.2. Các loại hình cạnh tranh chính trong kinh tế thị trường.................... 7
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh............................................................................. 9
1.2 Năng lực cạnh tranh ........................................................................................... 10
1.3 Các mô hình và phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh doanh
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành hệ thống ngân hàng MHB................... 28
2.1.2. Cơ cấu tổ chức trong hệ thống MHB hiện nay ................................... 29
2.2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MHB............................. 30
2.2.1. Đánh giá năng lực tài chính của MHB.................................................. 30
2.2.1.1. Đánh giá thực trạng quy mô vốn ....................................................... 30
2.2.1.2. Đánh giá khả năng sinh lời................................................................. 32
2.2.1.3. Đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng ................................. 33
2.2.1.4. Đánh giá chất lượng tín dụng của MHB............................................ 35
2.2.1.5 Đánh giá chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào ................................. 35
2.2.2. Đánh giá năng lực hoạt động và hiệu quả kinh doanh của MHB ...... 37
2.2.2.1. Đánh giá năng lực hoạt động............................................................. 37
2.2.2.2. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của MHB........................................... 38
2.2.3. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của MHB........................................ 40
2.2.3.1. Thực trạng và kết quả phát triển các sản phẩm dịch vụ của MHB 40
2.2.3.1.1. Đối với dịch vụ huy động tiền gửi ....................................................... 40
2.2.3.1.3. Về thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ và bảo lãnh ................... 41
2.2.3.1.4. Hoạt động kinh doanh thẻ .................................................................. 42
2.2.4. Đánh giá trình độ công nghệ................................................................. 42
2.2.4.1.Tình hình triển khai và ứng dụng công nghệ của MHB.................... 42
2.2.4.1.1 Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật ................................................................... 42
2.2.4.1.2 Về phát triển các phần mềm ứng dụng ............................................... 43
2.2.4.1.3. Đánh giá chung về tình hình phát triển và ứng dụng công nghệ ....... 43
2.2.5. Đánh giá nguồn nhân lực ...................................................................... 44
2.2.5.1. Thực trạng về nguồn nhân của MHB ................................................ 44
2.2.5.2. Một số tồn tại về nguồn nhân lực tại MHB ....................................... 44
2.2.6. Đánh giá hiệu quả hoạt động tổ chức, quản trị và điều hành ........... 45
2.2.7. Thực trạng về mạng lưới chi nhánh cung cấp dịch vụ:..................... 46
2.3. PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG HỘI NHẬP ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
3.3.1 Về cơ chế chính sách.............................................................................. 62
3.3.2 Về quản l. điều hành ............................................................................... 63
Kết luận Chương III.......................................................................................... 64
KẾT LUẬN ............................................................. 65
1
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Các giải pháp về tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
Hàng MHB trong thời kỳ hội nhập” là đề tài do chính tác giả thực hiện.
Tác giả dựa trên việc vận dụng các kiến thức đã được học, các tài liệu
tham khảo, kết hợp với quá trình nghiên cứu thực tiễn, thông qua việc tìm hiểu,
trao đổi với Giáo viên hướng dẫn khoa học, bạn bè, người thân và các đối tượng
nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình.
Luận văn này không sao chép từ bất kỳ một nghiên cứu nào khác. Tác giả xin
cam đoan những lời nêu trên là hoàn toàn đúng sự thật.
TP.HCM, ngày 09 tháng 09 năm 2009
Người thực hiện đề tài
NGUYỄN NGỌC HOÀI
2
: Tổ chức tín dụng
VND
: Đồng Việt Nam
USD
: Đô la Mỹ
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
CAR
: Capital Adequacy Ratio = hệ số an toàn vốn
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Mục lục
Tên bảng – biểu – đồ thị
Trang
32
Bảng 3
2.2.1.2
Số liệu bình quân ROE, ROA của MHB giai đoạn 2004-2008
33
Bảng 4
2.2.1.3
Hệ số an toàn vốn (CAR)
34
Bảng 5
2.2.1.4
Chất lượng hoạt động tín dụng của MHB
34
Bảng 6
2.2.1.5
2.2.3.1
Cơ Cấu Hoạt động thanh toán QT và Bảo Lãnh
42
Hình 2
2.2.5.1
Thống kê về lao động
44
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Trong môi trường nước ta đang mở cửa nền kinh tế, hội nhập với kinh tế thế
giới, hệ thống ngân hàng ngày nay được coi như xương sống của nền kinh tế cũng
đang từng bước được hoàn thiện và phát triển. Trong điều kiện thị trường chứng
khoán và thị trường tiền tệ chưa phát triển như Việt Nam, hệ thống ngân hàng giữ vai
trò chủ lực trong việc làm trung gian giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tác nhân thừa vốn
và tác nhân thiếu vốn.
Nằm trong hệ thống các NHTM quốc doanh nhưng được ra đời khá muộn,
MHB cũng đã và đang nỗ lực không ngừng để khẳng định vị thế của mình trong mọi
hoạt động để nâng cao khả năng cạnh tranh với các NHTM Việt Nam. Bằng những
giải pháp cụ thể, MHB đã liên tục có những bước tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm
2008 trên các mặt: năng lực nhân lực, năng lực tài chính, năng lực công nghệ, năng
lực về huy động vốn, năng lực về tín dụng, năng lực về marketing, năng lực về quản
trị Ngân hàng...
-
Thông qua việc đáng giá đề xuất các giải pháp về tài chính nâng cao năng
lực cạnh tranh của Ngân hàng MHB.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của luận văn được nghiên cứu theo phương pháp định tính: Khảo sát
ý kiến chuyên gia, thu thập số liệu và sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp,
phân tích và so sánh sự biến động về số liệu của MHB trong giai đoạn .
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
-
Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
NHTM.
-
Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của MHB để tìm ra những nhược
điểm cần khắc phục.
-
Đề xuất các giải pháp về tài chính nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh
cho MHB.
6. Bố cục của luận văn:
để đi đến cái đích cuối cùng là tồn tại và phát triển ít nhất ngang bằng với đối thủ của
mình. Tùy cách tiếp cận mà ta có thể đưa ra những khái niệm về cạnh tranh dưới
những khía cạnh khác nhau. Các nhà kinh tế học xác định cạnh tranh là sự ganh đua,
tranh đấu giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng trên thị trường, nhằm tranh giành
những lợi ích kinh tế sao cho mình có lợi nhất. Theo đó, khi với tư cách là người bán
cạnh tranh là quá trình chiếm lĩnh thị phần cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách
hàng; với tư cách là người mua cạnh tranh lại là quá trình đấu tranh để mua được các
yếu tố đầu vào của sản xuất với giá rẻ và điều kiện cung cấp thuận lợi, cạnh tranh giữa
người mua và người bán về giá cả và công dụng sản phẩm, cạnh tranh giữa người mua
với nhau. Nhìn chung cạnh tranh xoay quanh chất lượng hàng hóa, sản phẩm dịch vụ
và giá cả.
Từ sự phân tích trên có thể thấy cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể
kinh tế với nhau thông qua các hành động và sự phấn đấu cùng những biện pháp để
giành được lợi thế trên thương trường sao cho có thể có được ưu thế về thị phần, lợi
7
nhuận, danh tiếng ... so với đối thủ. Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát
về cạnh tranh:
Cạnh tranh là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể kinh tế huy
động tổng lực (nội lực và ngoại lực) của mình trên cơ sở sử dụng các phương thức
nhằm dành được ưu thế trên thương trường để đạt mục tiêu kinh tế (thường là thị
phần, khách hàng, lợi nhuận, tiện ích …) là thu được nhiều lợi nhuận trong sự phát
triển ổn định và bền vững.
1.1.2. Các loại hình cạnh tranh chính trong kinh tế thị trường.
Tùy cách tiếp cận các nhà kinh tế học chia ra các loại hình cạnh tranh chính
như sau:
1.1.2.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
có:
và cạnh tranh ngang.
1.1.2.5. Tiếp cận dưới giác độ phạm vi lãnh thổ có: Cạnh tranh trong nước và
cạnh tranh quốc tế. Cũng cần lưu ý, trong cạnh tranh quốc tế ngày nay diễn ra ngay
trong thị trường từng nước riêng biệt.
1.1.2.6. Xét trên phương diện chuẩn mực theo các hiệp định giữa các nước
mang tính chất quốc tế trong nền kinh tế tri thức có cạnh tranh theo quy chế. Cạnh
tranh theo quy chế là sự chuyển từ chỗ dựa chủ yếu vào lợi thế so sánh sang dựa vào
quy chế. Các quy chế chứa đựng những chuẩn mực của thương mại quốc tế chủ yếu
lại do các nước phát triển xây dựng nhắm tới khả năng tăng cường sức cạnh tranh của
nền kinh tế nước họ trên thương trường quốc tế.
Ngoài ra, căn cứ vào mục đích và tính chất của cạnh tranh các nhà kinh tế còn
đề cập đến cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành
mạnh là loại cạnh tranh mà chủ thể kinh tế sử dụng những tiềm năng vốn có của bản
thân để cạnh tranh trên thương trường trong khuôn khổ luật lệ cho phép. Cạnh tranh
không lành mạnh là loại hình cạnh tranh trái với luật pháp và thông lệ xã hội.
Đến nay, các nhà kinh tế xác định các yếu tố chính cấu thành sức mạnh cạnh
tranh gồm có: Chất lượng hàng hóa tốt; giá cả thấp; thời gian cung cấp sản phẩm phù
hợp; các dịch vụ trước, trong, sau bán hàng tốt.
9
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện đại là sự cạnh tranh trên cơ sở liên
hệ giữa các chủ thể kinh tế với nhau, không nhằm hủy diệt lẫn nhau, mà liên kết thúc
đẩy lẫn nhau. Cạnh tranh trong sự hợp tác cùng nhau phát triển, trong đó các chủ thể
luôn vươn lên nhằm dẫn đầu trong việc nắm được những lợi thế hơn đối thủ.
Với thực tế như vậy, cùng tính đặc thù trong hoạt động ngân hàng, tính hệ
thống của các ngân hàng đòi hỏi phải được duy trì và nâng cao. Tính hệ thống ngân
hàng có thể được coi là một trong những điểm tựa vững chắc phòng ngừa những bất
trắc rủi ro cũng như là điểm tựa để các ngân hàng cùng phát triển an toàn, ổn định và
•
Dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật
hay bất chấp pháp luật.
Vì lý do trên, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định
chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.“Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy cạnh tranh từ
10
đối đầu sang hợp tác cùng có lợi. Hãy xem Trung Quốc, khi Tập đoàn Wall Mart vào
Trung Quốc giành thị phần, các doanh nghiệp Trung Quốc đành là người cung cấp
đầu vào, tuy nhiên đến nay chiếm trên 60% sản phẩm hàng hoá của Wall Mart ở các
siêu thị trên thế giới là hàng Trung Quốc, như vậy Trung Quốc đã lợi dụng Tập đoàn
Wall Mart để "cõng" hàng hoá của Trung Quốc ra bên ngoài… Vì vậy, bài học ở đây
là Việt Nam phải vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, trong hợp tác có cạnh tranh, trong cạnh
tranh có hợp tác, đó là cách ứng xử thông minh”1
1.2 Năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng đã
được nghiên cứu từ rất lâu. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng
lực cạnh tranh một cách có hệ thống lại bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm
1980 đến nay.
Còn M. E. Porter một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại
chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đúng
đắn, đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất.
Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tập trung lại 3 cách tiếp cận sau: lý thuyết
thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và trường phái quản lý chiếc
lược.
giá cả. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không chú trọng đúng mức tới lý luận về
năng lực cạnh tranh, chưa chú ý tới các yếu tố tác động năng lực cạnh tranh như
vai trò của Nhà nước hay chính sách.
-
Trường phái quản lý chiến lược được coi là mô hình khá mạnh nghiên cứu về
năng lực cạnh tranh, làm rõ nguồn lực bảo đảm cho năng lực cạnh tranh.
Một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu công phu về năng lực
cạnh tranh đã hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp theo 3 loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng
lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh theo quá
trình.
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh chú
trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt dộng kinh doanh trên thực tế như: thị
phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ tiêu này, doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu hoạt động kinh
doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí sản xuất
thấp…
Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình
thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công nghệ,
lao động. Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh
nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động, công nghệ,
đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này.
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh
như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh. Các quá trình bao
gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp (sản xuất,
chất lượng…).
Như vậy, cho đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trên thế
Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa
các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả
năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm,
khả năng sáng tạo sản phẩm mới.
Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức
cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức
hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào
quy chế.
13
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp như sau:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế
cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử
dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính
tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh
nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.
1.3 Các mô hình và phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác. Như vậy, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các
tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách
riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên
cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên
năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác
của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của
khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
1.3.1 Mô hình “Kim cương” của M. Porter
Mô hình “Kim cương”, một lý thuyết về cạnh tranh nổi tiếng của M. Porter,
được ông nêu trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (1990), đã nêu lên các
yếu tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia trong thương mại quốc tế. Theo
ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng
tạo và sự năng động của ngành, của quốc gia đó. Khi thế giới cạnh tranh mang tính
chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay
lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo
ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc
tế.
Mô hình Kim cương của Porter đưa ra khuôn khổ phân tích để hiểu bản chất và
đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (hình 1.1)
15
Hình 1.1: Mô hình kim cưong của M. Porter, 1990
Nguồn: Năng lực cạnh tranh quốc gia, M. Porter, 1990.
Mô hình này đã lý giải những lực lượng thúc đẩy sự đổi mới và năng động của
các doanh nghiệp và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên
thị trường. Bốn nhóm nhân tố trong mô hình viên kim cương của M.Porter phát triển
trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và
duy trì năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp trong một ngành kinh tế - kỹ
thuật nào đó. Sự sẵn có cả về số lượng và chất lượng các nguồn lực cần thiết cho việc
phát triển một ngành có khả năng cạnh tranh; thông tin thông suốt về những cơ hội
kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể tiếp cận; chiến lược của các doanh nghiệp
trong khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực; quan điểm, triết lý kinh doanh của
chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trong doanh nghiệp,… đều có thể “cộng
hưởng” thúc đẩy các doanh nghiệp trong một ngành phải hoạt động hiệu quả hơn,
- Các chiến lược điểm yếu – nguy cơ (W – T): Cải thiện điểm yếu bên trong để
tránh hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài.
Hình 1.2: Mô hình ma trận SWOT
1.4. Cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trong môi trường hội nhập
1.4.1. Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh NHTM:
Đối với NHTM thì năng lực cạnh tranh mang tính đặc thù. Các sản phẩm của
ngân hàng mang tính đặc thù bởi sự quy định tính chất đặc biệt của hàng hóa mà ngân
17
hàng kinh doanh là tiền tệ nên cạnh tranh của NHTM có những đặc trưng cơ bản như
sau:
Một là, các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác với
nhau trong một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm
Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh,
tránh xảy ra khả năng rủi ro hệ thống
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của Ngân hàng TW của mỗi quốc gia hoặc của khu vực.
Bốn là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài
ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ
tầng cơ sở...
Năm là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên của
thị trường tài chính thế giới.
1.4.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tự duy trì một lâu cách lâu dài, có ý
thức các lợi thế của mình trên thị trường để đạt được mức lợi nhuận và thị phần trên cơ sở
đa dạng và nâng cao chất lượng, tiện ích các dịnh vụ tài chính ngân hàng.
1.4.2. Các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Đa dạng hóa các dịch vụ tài chính ngân hàng là một trong những sự tranh đua
gay gắt giữa các NHTM. Nhu cầu đòi hỏi được thoả mãn các tiện ích, an toàn các dịch
vụ tài chính từ ngân hàng của khách hàng ngày càng gia tăng. Khách hàng sẽ có được
quyền lựa chọn một khi có nhiều dịch vụ từ ngân hàng. Những tiện ích có chất lượng
cao từ dịch vụ tài chính ngân hàng cho phép ngân hàng tạo được sự cuốn hút đối với
khách hàng.
- Giá cả các sản phẩm dịch vụ tài chính.
Giá cả trong kinh tế thị trường luôn là một trong những vũ khí được các doanh
nghiệp cũng như NHTM sử dụng trong cạnh tranh. Lãi suất huy động và cho vay cũng
như các khoản phí dịch vụ về tài chính được các ngân hàng tính toán kỹ trong chiến
lược để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Tuy có nhiều người có quan
điểm cho rằng các NHTM không nên cạnh tranh bằng lãi suất, song giá cả trên thị
trường vẫn là giá cả thị trường dưới sự tác động của các quy luật của thị trường thì
khó có thể nói rằng cạnh tranh bằng lãi suất đối với các NHTM là không quan trọng.
19
Trong xu thế toàn cầu hóa cạnh tranh về giá cả không những không giảm mà còn
được sử dụng nhiều hơn với các hình thức phong phú hơn.
- Thông tin, công nghệ mới và mạng lưới ngân hàng.
Năng lực cạnh tranh của các NHTM còn thể hiện ở khả năng mở rộng mạng
lưới trên cơ sở thành lập các chi nhánh con hữu ích của mình. Mạng lưới với các chi
nhánh hữu ích sẽ tạo ra nhiều cơ hội thu hút khách hàng trên một không gian rộng.
Việc ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động kinh doanh của các NHTM có
vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính ngân
hàng. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp các NHTM có thể phát triển đa dạng hóa
danh mục sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Các NHTM hướng tới xây dựng chiến lược quảng bá thông tin một cách đầy
đủ nhất đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thông tin đa chiều cho phép tăng cường
hàm cả sự đánh giá về yếu tố lòng tin, uy tín, về độ an toàn trong hoạt động của ngân
hàng. Thông thường người ta chia các nhóm để đánh giá năng lực cạnh tranh của một
NHTM như:
- Các năng lực riêng biệt và hoạt động cốt lõi của ngân hàng. Trong đó đề cập
đến quản trị rủi ro và quản trị các kênh phân phối; xây dựng hệ thống thông tin và xây
dựng quảng bá thương hiệu.
- Đánh giá các yếu tố bên trong. Trong đó đề cập đến hoạt động quản trị; tài
chính – kế toán; tác nghiệp; marketing; nghiên cứu phát triển; hệ thống thông tin quản
lý; hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Đánh giá các yếu tố bên ngoài. Trong đó đề cập đến các yếu tố việc tăng
thêm đối thủ cạnh tranh mới; các yếu tố về chính sách, môi trường; văn hóa, xã hội,
tâm lý, địa lý, …
- Đánh giá các lợi thế thường xuyên như nguồn nhân lực, công nghệ.
Tuy nhiên, để xác định sự độc lập tương đối của từng chỉ tiêu đề tài sẽ đề cập
một số nội dung chính trong đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM, cụ thể như sau:
1.4.3.1 Khả năng thu hút nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực .
Một NHTM được đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao khi nó có khả năng
cạnh tranh trong thu hút được những lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao,
có phẩm chất đạo đức tốt về làm việc cho ngân hàng.
Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đối với năng
lực cạnh tranh của một NHTM. Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh
21
tranh trong quá khứ đồng thời lại chính là năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong
tương lai. Có một đội ngũ cán bộ thừa hành và nhân viên giỏi có khả năng sáng tạo,
có khả năng thực thi chiến lược và có khả năng tham gia hoạch định chiến lược, … sẽ
mang lại cho ngân hàng một sự hoạt động ổn định và bền vững. Có thể khẳng định
nguồn nhân lực có chất lượng cao là biểu hiện của năng lực cạnh tranh cao.