Mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên tại sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HOÀNG THỊ THU HOÀI

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT VÀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRÊN BÁO CÁO THƢỜNG NIÊN TẠI SÀN GIAO
DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VÕ VĂN NHỊ

TP. Hồ Chí Minh – năm 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu đƣợc sử dụng
trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc thống kê, tổng hợp và phân tích từ kết
quả khảo sát thực tiễn. Những kết luận của luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất cứ
công trình nào.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2014
( Ký tên và ghi rõ họ tên)

HOÀNG THỊ THU HOÀI




2.1.1. Khái niệm ............................................................................................... 10
2.1.2. Lý do cho việc lựa chọn Báo cáo thƣờng niên ....................................... 11
2.1.3. Yêu cầu về CBTT đối với các doanh nghiệp niêm yết........................... 13
2.1.4. Đo lƣờng mức độ CBTT ......................................................................... 14
2.2. Các lý thuyết về CBTT ..................................................................................... 16
2.2.1. Lý thuyết ngƣời đại diện (agency theory) ................................................ 17
2.2.2. Lý thuyết tín hiệu (signaling theory) ...................................................... 18
2.3. Các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hƣởng đến mức độ CBTT ...................... 18
2.3.1. Loại ngành................................................................................................ 19
2.3.2. Công ty kiểm toán .................................................................................... 20
2.3.3. Tính thanh khoản ..................................................................................... 21
2.3.4. Lợi nhuận ................................................................................................. 21
2.3.5. Thành phần HĐQT................................................................................... 22
2.3.6. Tỷ lệ sở hữu của HĐQT ........................................................................... 23
2.3.7. Quy mô ..................................................................................................... 23
2.3.8. Đòn bẩy tài chính ..................................................................................... 24
2.3.9. Tỷ lệ sở hữu nƣớc ngoài .......................................................................... 24
Kết luận chƣơng 2: ...................................................................................................26
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................................27
3.1. Quy trình nghiên cứu ........................................................................................ 27
3.2. Giả thuyết nghiên cứu....................................................................................... 28
3.2.2. Công ty kiểm toán................................................................................... 29
3.2.3. Tính thanh khoản .................................................................................... 29
3.2.3. Lợi nhuận ................................................................................................ 29
3.2.5. Thành phần HĐQT ................................................................................. 29
3.2.6. Tỷ lệ sở hữu của HĐQT ......................................................................... 30
3.2.7. Quy mô ................................................................................................... 30
3.2.8. Đòn bẩy tài chính .................................................................................... 30

5.2.1. Các kiến nghị nhằm tăng cƣờng mức độ CBTT .......................................... 61


5.2.2. Kiến nghị đối với nhà đầu tƣ ........................................................................ 65
5.2.3. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý NN ........................................................ 66
5.3. Hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo ................................................ 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................69
PHỤ LỤC .......................................................................................................................72


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AIMR:

Hiệp hội quản lý nghiên cứu và đầu tƣ quốc tế

BCTC :

Báo cáo tài chính

BCTN:

Báo cáo thƣờng niên

BTC:

Bộ Tài Chính

CBTT :


NN:

Nhà nƣớc

NQT:

Nhà quản trị

TTCK:

Thị trƣờng chứng khoán

QĐ:

Quyết định

VN :

Việt Nam

VNĐ:

Việt Nam đồng


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Error! Bookmark not defined. .............................................................................. 40
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả chỉ số CBTT các doanh nghiệp niêm yết trên sàn
giao dịch chứng khoán TP.HCM .............................................................................. 44

năm gần đây (nhƣ CTCP Kỹ nghệ Khoáng sản Quảng Nam, Tổng công ty xây lắp
Dầu khí Nghệ An…), nhu cầu về công bố thông tin của công ty niêm yết đã tăng
lên đồng thời đặt thêm áp lực trên các công ty niêm yết trong việc nâng cao chất
lƣợng báo cáo của mình. Điều này là do những lý do sau:
Thứ nhất, CBTT giống nhƣ “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều
đối tƣợng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, những thông tin
đƣợc trình bày trong các báo cáo thƣờng niên của công ty đóng một vai trò hết sức
quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho ngƣời sử dụng
thông tin ra quyết định.
Thứ hai, mức độ CBTT cao có thể giúp thu hút các cổ đông mới qua đó giúp
duy trì một nhu cầu tích cực đối với cổ phiếu và giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ hơn
giá trị nội tại của nó.
Thứ ba, báo cáo chất lƣợng cao là điều cần thiết để duy trì một hệ thống thị
trƣờng vốn hiệu quả. Một thị trƣờng vốn tính thanh khoản cao đòi hỏi sự sẵn có của
thông tin minh bạch và đầy đủ để tất cả những ngƣời tham gia có thể đƣa ra quyết
định khi họ phân bổ vốn giữa các lựa chọn thay thế cạnh tranh. Việc tăng cƣờng
CBTT giúp giảm bớt nguy cơ bất cân xứng thông tin và do đó làm giảm chi phí vốn


2
vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trƣờng đầu tƣ
cho công chúng, tạo môi trƣờng giúp Chính Phủ thực hiện chính sách vĩ mô.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu mối
quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin
trên báo cáo thƣờng niên tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung:
Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp và mức độ CBTT nhằm
đƣa ra các kiến nghị để nâng cao mức độ CBTT trên BCTN.
2.2. Mục tiêu cụ thể:

3
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Các DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM.
- Phạm vi thời gian: năm 2013.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp định tính:
Dựa vào các lý thuyết có liên quan, tác giả xác định các đặc điểm doanh
nghiệp ảnh hƣởng tới mức độ CBTT.
Thông qua việc tham khảo Bộ tiêu chí CBTT mà sàn giao dịch chứng khoán
Hà Nội dùng để xếp hạng CBTT các DN, tác giả tiến hành đánh giá lại thông qua
khảo sát, gửi bảng câu hỏi đến các đối tƣợng có liên quan để khẳng định lại Bộ tiêu
chí CBTT. Từ đó, sử dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT bằng cách dựa vào Bộ tiêu
chí để tính toán chỉ số CBTT của mỗi DN bằng phƣơng pháp đo lƣờng không trọng
số.
5.2. Phƣơng pháp định lƣợng:
Nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm DN
và mức độ CBTT, đƣợc thực hiện qua các giai đoạn:
-

Chọn mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán TP.HCM.

-

Thu thập báo cáo thƣờng niên của các doanh nghiệp theo mẫu đã chọn.

-

Đo lƣờng các biến đặc điểm DN dựa trên dữ liệu thu thập từ BCTN.



Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu



Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu



Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận



Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị


5

CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nội dung CBTT đã đƣợc nghiên cứu tại nhiều quốc gia trong đó có Việt
Nam với nhiều khía cạnh, thời điểm và các phạm vi khác nhau. Có thể kể đến các
nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc nhƣ sau:
1.1.

Các nghiên cứu thế giới

Hiện nay, một hạn chế lớn khi nghiên cứu về CBTT là cách tiếp cận để đo
lƣờng mức độ CBTT. Theo Francesca Citro (2013) với nghiên cứu “Disclosure
level evaluation and disclosure determinant analysis: a literature review” đã chỉ ra

comprehensiveness of corporate disclosure and firm characteristics in India”. Tác
giả nghiên cứu ảnh hƣởng của quy mô, lợi nhuận, cơ cấu sở hữu, công ty kiểm toán,
đòn bẩy tài chính tác động lên mức độ CBTT. Cũng áp dụng phƣơng pháp chỉ số
CBTT với đo lƣờng không trọng số, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có quy mô
lớn, lợi nhuận cao, đòn bẩy cao, đƣợc kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn có
xu hƣớng minh bạch thông tin hơn.


6
Nandi and Ghosh (2012) nghiên cứu về “Corporate governance attributes,
firm characteristics and the level of corporate disclosure: Evidence from the Indian
listed firms”. Bài nghiên cứu này cũng sử dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT nhƣng
dựa trên mô hình của Standard & Poor để đo lƣờng mức độ CBTT. Kết quả cho
thấy quy mô, lợi nhuận và tính thanh khoản ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT.
Tuy nhiên đòn bẩy và thành phần HĐQT lại ảnh hƣởng tiêu cực đến mức độ CBTT.
Yanesari et al. (2012) nghiên cứu về “Board Characteristics and Corporate
Voluntary Disclosure: An Iranian Perspective”. Cũng với phƣơng pháp chỉ số
CBTT, nghiên cứu dựa trên thực nghiệm để kiểm tra mối quan hệ giữa thành phần
HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với mức độ CBTT. Kết quả cho thấy công ty
có tỷ lệ thành viên HĐQT càng cao thì mức độ CBTT càng cao. Tuy nhiên, nghiên
cứu lại không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT và mức độ
CBTT.
Fathi (2013) với nghiên cứu “Corporate Governance and the Level of
Financial Disclosure by Tunisian Firm” đã phân tích mức độ CBTT của các công
ty ở Tunisian. Nghiên cứu cũng chọn cách tiếp cận thứ hai là chỉ số CBTT. Kết quả
nghiên cứu cho thấy các công ty có quy mô, lợi nhuận, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT
khác nhau thì điểm số CBTT cũng khác nhau.
Nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013) về “The assosiation between
firm characteristics and corporate financial disclosures: evidence from UAE
companies”. Tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT để nghiên cứu tác

sản cầm cố, hiệu quả sử dụng tài sản. Những đặc điểm về quản trị doanh nghiệp:
mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT. Và do giới hạn về
đề tài nên tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu về nhóm đặc điểm tài chính ảnh hƣởng đến
mức độ công bố thông tin.


Tƣơng tự nhƣ vậy, Huỳnh Thị Vân (2013) nghiên cứu “Mức độ CBTT

kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng yết giá tại sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội”. Tác giả cũng chỉ nghiên cứu tác động của các biến thuộc đặc điểm tài
chính lên việc CBTT bắt buộc nhƣ quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy, khả năng
thanh toán, tốc độ tăng trƣởng doanh thu và công ty kiểm toán đến mức độ CBTT.
Kết quả cho thấy chỉ có Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến mức độ
CBTT, các biến còn lại không có ý nghĩa.


Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thu Đông (2013)“Các nhân

tố tác động đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các DN niêm
yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”. Luận văn nghiên cứu tác động của bảy
biến tới mức độ công bố thông tin nhƣ quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả
năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động, tài sản cố định. Kết quả
nghiên cứu cho thấy có hai nhân tố là khả năng sinh lời và tài sản cố định có ảnh
hƣởng thuận chiều tới mức độ CBTT. Tuy nhiên, cũng nhƣ hai nghiên cứu trƣớc


8
đó, nghiên cứu cũng bỏ qua tác động của nhóm yếu tố thuộc đặc điểm quản trị DN.
1.3.



mức độ CBTT mà chƣa có một cái nhìn toàn diện trên đặc điểm của doanh nghiệp.


Tập trung nghiên cứu mức độ CBTT trên phạm vi báo cáo tài chính,

nghĩa là mới chỉ dừng lại ở các thông tin bắt buộc mà chƣa nghiên cứu trên phạm vi
các thông tin tự nguyện.
Do đó, dựa trên các nghiên cứu trƣớc đây, kết hợp với cơ sở các lý thuyết về
CBTT và các quy định hiện hành của Việt Nam sẽ làm cơ sở để hình thành luận văn
với đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và
mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên tại sở giao dịch chứng khoán
TPHCM”.


10

CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Tổng quan về CBTT
2.1.1. Khái niệm
Tính minh bạch và CBTT đại diện cho một trong những trụ cột của quản trị
doanh nghiệp. Các bên liên quan khác nhau sử dụng các thông tin công bố trong
BCTN của công ty trong quá trình ra quyết định của họ. Theo HNX (2014), CBTT
đƣợc hiểu là phƣơng thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm
đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tƣ có thể tiếp cận thông tin một cách công
bằng và đồng thời.
Theo Francesca Citro (2013), công bố thông tin bao gồm hai loại là công bố
thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện. Công bố thông tin bắt buộc
(Madatory disclosure) là những công bố thông tin kế toán theo yêu cầu bởi luật
pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố

cáo của công ty, trong khi đó tiết lộ tự nguyện là một điều khoản bổ sung thông tin
khi CBTT bắt buộc không thể cung cấp một bức tranh trung thực về giá trị của công
ty và hoạt động quản lý. CBTT bắt buộc và tự nguyện không nên đƣợc xem là các
mục khác nhau của báo cáo thƣờng niên, mà chúng tƣơng tác với nhau liên tục và
chúng ta cần hiểu rõ tầm quan trọng của mỗi khoản mục thông tin (Popova et al.,
2013). Khi yêu cầu CBTT bắt buộc là hạn chế hoặc quy định mơ hồ và khó khăn để
giải thích, các công ty có thể bổ sung bằng các thông tin tự nguyện. Một mối quan
hệ tích cực giữa CBTT tự nguyện và bắt buộc đã đƣợc tìm thấy bởi Naser et al.
(2003). Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu cả CBTT bắt buộc và tự
nguyện để có một cái nhìn toàn diện, bao quát nhất về mức độ minh bạch thông tin
trên thị trƣờng chứng khoán TP.HCM hiện nay.
2.1.2. Lý do cho việc lựa chọn Báo cáo thƣờng niên
Theo sổ tay CBTT mà Bộ tài chính ban hành, các công ty niêm yết có thể
CBTT trên hai phƣơng tiện:


Báo cáo thƣờng niên: là ấn phẩm thƣờng niên cung cấp thông tin toàn

diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm tài chính
liền trƣớc.


12


Trang thông tin điện tử (website): là kênh truyền thông hiệu quả và

kinh tế trong thời đại công nghệ cao nhƣ hiện nay. Đây đƣợc xem là một trong
những kênh thông tin chính thống của tổ chức niêm yết.
Hoặc là, có rất nhiều kênh khác nhau mà qua đó công ty có thể phổ biến




Bản giải trình báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán;



Các công ty con và công ty liên quan;



Tổ chức và nhân sự của công ty;



Thông tin cổ đông, thành viên góp vốn và Quản trị công ty;



Các thông tin khác;


13
2.1.3. Yêu cầu về CBTT đối với các doanh nghiệp niêm yết
Đối với các công ty niêm yết, nhu cầu tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp
không chỉ dừng ở các chủ sở hữu mà còn là các nhà đầu tƣ. Chính vì vậy, yêu cầu
công bố thông tin đặt ra cho các công ty niêm yết luôn nghiêm ngặt hơn so với các
công ty đại chúng. Các quy định chặt chẽ này nhằm ngăn chặn những ảnh hƣởng to
lớn từ các hành vi che giấu thông tin, gian lận có thể xảy ra và để duy trì cơ chế
giám sát hiệu quả từ các bên có liên quan và công chúng đầu tƣ đối với hoạt động

Đo lƣờng mức độ CBTT đóng một vai trò quan trọng trong các nghiên cứu.
Theo Francesca Citro (2013), cho đến nay, có hai cách tiếp cận chính để phát triển
một bảng chấm điểm mức độ CBTT của các công ty là: phân tích nội dung và chỉ
số CBTT.
2.1.4.1. Phương pháp phân tích nội dung:
Phân tích nội dung là phƣơng pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu suy
luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để mã hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT.
Phân tích nội dung bao gồm hai phạm vi là phân tích từng phần hoặc phân tích
toàn diện. Trong đó, phân tích từng phần chỉ tập trung phân tích một vài mục thông
tin cụ thể hoặc các từ khóa đƣợc lựa chọn, còn phân tích toàn diện xét trên toàn bộ
tài liệu. Sau khi lựa chọn đƣợc phạm vi phân tích, ngƣời nghiên cứu có thể tiến
hành phân tích cú pháp hoặc phân tích chuyên đề tùy theo mục tiêu và hƣớng
nghiên cứu của từng đề tài. Phân tích cú pháp tập trung nghiên cứu từng câu, từ mà
đƣợc sử dụng để mô tả một mục thông tin cụ thể nào đó, bên cạnh đó, phân tích
chuyên đề tập trung vào đặc điểm của văn bản và độ dài của mỗi câu.
Mặc dù mang lại độ tin cậy cao, nhƣng phân tích nội dung là phƣơng pháp
tốn rất nhiều công sức, do vậy số mẫu sẽ không đƣợc lớn. Để hạn chế điều này, việc
sử dụng phần mềm để phân tích nội dung một cách tự động đã đƣợc phát triển. Tuy
nhiên, việc phân tích tự động bằng phần mềm sẽ không lƣu ý đƣợc các cụm từ, từ
khóa đồng nghiã hoặc từ có nhiều ý nghĩa.
2.1.4.2. Phương pháp chỉ số CBTT:
Chỉ số CBTT là một công cụ nghiên cứu để đo lƣờng mức độ thông tin báo
cáo trong các tài liệu cụ thể theo một danh sách các mục thông tin đã đƣợc lựa
chọn. Danh sách này còn đƣợc gọi là bộ tiêu chí CBTT. Các loại thông tin đƣợc lựa
chọn có thể bao gồm thông tin bắt buộc hoặc thông tin tự nguyện. Số lƣợng các


15
khoản mục thông tin trong bộ tiêu chí có thể từ một vài khoản mục đến vài trăm
khoản mục tùy theo từng nghiên cứu. Ngƣời nghiên cứu có thể tự xây dựng các

-

0< Ij < 1


16
Theo đó các chỉ mục thông tin đƣợc theo dõi ở giác độ có đƣợc trình bày hay
không và việc tính chỉ số công bố là trên góc độ bình đẳng nhƣ nhau để tính ra giá
trị trung bình. Có thể kể đến các nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013), Fathi
(2013) sử dụng cách tiếp cận này.
b. Phƣơng pháp đo lƣờng có trọng số
Phƣơng pháp này yêu cầu các mục thông tin đƣợc chọn lọc đồng thời với
việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ mục theo các mức độ khác nhau từ thấp
lên cao, thông thƣờng là năm mức độ. Việc đo lƣờng đƣợc thực hiện nhƣ cách một,
nhƣng sau khi gán giá trị chúng đƣợc nhân với trọng số đã đƣợc xây dựng.
Ngoài ra, một cách tiếp cận có trọng số theo hƣớng khác đó là trong nghiên
cứu của Al-Janadi et al. (2012). Để mở rộng phƣơng pháp đo mức độ CBTT, ngƣời
nghiên cứu đã gán giá trị cho các mục thông tin theo ba mức độ, mức 1: nếu mục
thông tin không đƣợc công bố, mức 2: đƣợc trao cho các mục nếu đƣợc công bố
định tính hoặc định lƣợng và mức 3: đƣợc trao cho các mục nếu đƣợc công bố bằng
cả thông tin định tính và định lƣợng.
Tuy vậy, hạn chế lớn khi đo lƣờng mức độ CBTT theo phƣơng pháp có
trọng số là mỗi cá nhân nghiên cứu sẽ có những quan điểm khác nhau khi đánh giá
trọng số của mỗi khoản mục thông tin, dẫn đến kết quả nghiên cứu mang tính chủ
quan cao sẽ cho ra những kết quả khác biệt. Các nghiên cứu trƣớc đây cũng cho
thấy việc sử dụng phƣơng pháp đo lƣờng có trọng số hay không trọng số cho các
khoản mục trình bày trong báo cáo thƣờng niên của các công ty cũng cho ra kết quả
không khác biệt lắm (Hossain and hammami, 2009). Vì vậy, để đảm bảo tính khách
quan, nghiên cứu này chọn cách đo lƣờng chỉ số CBTT theo phƣơng pháp đo lƣờng
không trọng số.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status