tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó - Pdf 24

Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Ngô thu giang Tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm
công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin
v hệ quả của nó
CHUYÊN NGNH: ti chính - ngân hng
Mã Số: 62340201

H nội, năm 2014

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:

phát triển. Với hơn 10 năm vận hành, thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động
ổn định với những tổ chức và các công cụ cơ bản nhất là cổ phiếu và trái phiếu. Tuy
vậy thực tế hoạt động thời gian gần đây cho thấy, còn nhiều hạn chế đối với thị
trường để hoạt động hiệu quả như: tâm lý bầy đàn, giao dịch nội gián, giao dịch
chứng khoán dựa theo tin đồn v.v… Với những tồn tại trên, Luận án lựa chọn
nghiên cứu tác động của đặc điểm thuộc CTNY tới hoạt động công bố thông tin
của CTNY trên TTCK Việt Nam và tác động của công bố thông tin này tới TTCK
Việt Nam và CTNY.
Mục đích nghiên cứu
Câu hỏi quản lý đặt ra đối với các nhà quản lý TTCK Việt Nam và các
CTNY là làm thế nào để cải thiện hiệu quả hoạt động thị trường thông qua minh
bạch thông tin công bố và lợi ích của hoạt động này tới các CTNY và tới giao dịch
trên TTCK Việt Nam. Để trả lời câu hỏi này, các nhà quản lý TTCK Việt nam
và CTNY cần hiểu rõ hoạt động CBTT, đo lường được mức độ CBTT, những
yếu tố nào có thể tác động đến CBTT của CTNY, và kết quả giao dịch thị
trường của các cổ phiếu niêm yết sẽ như thế nào khi thực hiện hoạt động CBTT
trên TTCK Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động CBTT của các CTNY chính
thức trên hai Sàn giao dịch chứng khoán của thị trường Chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động CBTT từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 tới ngày
31 tháng 12 năm 2013 của các công ty niêm yết có thời điểm niêm yết chính thức
trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh trên TTCK Việt
Nam trước ngày 1 tháng 1 năm 2010. 2
Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể được phát triển như sau:
• Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường

của CTNY; luận án cũng đánh giá hệ quả CBTT tổng quát và CBTT của từ
ng nhóm

3
thông tin tới biến động thị giá cổ phiếu. Chưa có nghiên cứu nào trước đây xem xét
đánh giá tác động vĩ mô và vi mô của hoạt động CBTT đến thị giá như vậy.
* Những đóng góp về thực tiễn
Các nghiên cứu trước đây về lĩnh vực này được thực hiện chủ yếu tại các
nước có trình độ phát triển cao và/hay thị trường Chứng khoán (TTCK) có tốc độ
phát triển nhanh và có qui mô lớn. Việc nghiên cứu tại TTCK Việt Nam là một
điểm mới về thực tiễn của nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cũng đem lại những phát
hiện mới về hoạt động CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam, cụ thể là:
(1) Thực trạng thực hiện CBTT của CTNY
(2) Những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực tới CBTT của CTNY
(3) Hệ quả tích cực của CBTT tới chi phí vốn chủ sở hữu và biến động thị
giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam
Dựa trên thực trạng đó, luận án đã xây dựng hệ thống kiến nghị với (1) Cơ
quan quản lý nhà nước để hoàn thiện nội dung, qui trình trong các qui định về
CBTT của CTNY; (2) CTNY để tăng cường nhận thức và hướng thông tin chủ đạo
cần cung cấp tới nhà đầu tư; và (3) hướng nghiên cứu sau này về CBTT của CTNY
trên TTCK Việt Nam.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên Thế giới
Hoạt động CBTT của các CTNY được nghiên cứu khá phổ biến trong hơn 10
năm tại các nước trên Thế giới. Các nghiên cứu của Thế giới tập trung vào ba nội
dung chính của hoạt động CBTT là:
• Xu thế công bố các nhóm thông tin: CBTT theo qui định và CBTT
tự nguyện

Các nghiên cứu đã đánh giá tác động của CBTT đến biến động giá trên thị
trường Chứng khoán và tới chi phí vốn, tính thanh khoản của CTNY và giá trị của
CTNY. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa hoạt động CBTT,
chi phí vốn và tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu gián tiếp về CBTT với
Ngân hàng Thế giới, 2006 về Quản trị Công ty, Lê Trung Thành, 2010 về giám sát
giao dịch chứng khoán, Vũ Thị Thu Ngà, 2011 về Quản lý nhà nước về Pháp luật
đối với CTNY trên TTCK Việt Nam, đã đánh giá rằng Việt Nam thiếu một cơ chế
quản lý hiệu quả về chất lượng thông tin công bố; kiểm soát việc lập; nhà đầ
u tư
không tiếp cận được với thông tin hoặc là phản ứng rất chậm với thông tin công bố,
CBTT chậm và sơ sài so với qui định.
Nghiên cứu tập trung trực tiếp vào hoạt động CBTT Kelly Anh Vu, 2011; Tạ
Quang Bình, 2012 nghiên cứu về tác động của ban giám đốc độc lập và cơ cấu vốn
chủ sở hữu tới CBTT tự nguyện., về khoảng cách về nhu cầu thông tin giữa các
chuyên gia phân tích tài chính và quan điểm của giám đốc tài chính tại CTNY về
thông tin công bố tự nguyện trong báo cáo thường niên, những yếu tố tác động tạo

5
nên khoảng cách đó và ảnh hưởng tới giá chứng khoán trên thị trường và chi phí vốn
của CTNY trong năm 2009 và 2010.
1.2 Công bố thông tin và vai trò của CBTT với CTNY trên TTCK
1.2.1 Công bố thông tin
Trên thị trường chứng khoán; CBTT được hiểu là một quá trình truyền tải
thông tin giữa CTNY với các chủ thể trên TTCK có mối quan tâm đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của CTNY.
1.2.2 Vai trò của công bố thông tin đối với doanh nghiệp
CBTT là phương pháp hiệu quả để giảm thiểu và giải quyết vấn đề thông tin
không cân xứng và vấn đề đại diện đó là CBTT.

1.5.1 Thông tin công bố
Khi ra quyết định liên quan đến hoạt động CBTT, các CTNY phải cân nhắc
và lựa chọn nhóm thông tin sẽ công bố. Hai nhóm thông tin công bố: (1) thông tin
công bố theo qui định (công bố định kỳ, bất thường và theo yêu cầu, và (2) thông tin
công bố tự nguyện.
1.5.2 Thời điểm CBTT
Thời điểm CBTT là thời điểm thông tin được truyền tải và xuất hiện trên TTCK.
1.5.3 Kênh CBTT
Kênh CBTT bao gồm: Đối thoại trực tiếp giữa ban lãnh đạo doanh nghiệp với
nhà đầu tư, Buổi giới thiệu thông tin về doanh nghiệp (Roadshow), Họp báo; Hội
thảo qua điện thoại; và Thông báo trên báo chí, Internet, tờ rơi.
1.6 Mức độ CBTT
Để đánh giá hoạt động CBTT, các nghiên cứu trước đây đã đưa ra các quan
điểm và các tiêu chí khác nhau để đánh giá hoạt động CBTT.
1.6.1 Quan điểm về “Minh bạch”
Tính minh bạch được xác định dựa trên số lượng mục thông tin công ty cung
cấp so với bộ thông tin yêu cầu của nhà đầu tư. Phương pháp đánh giá này chỉ đảm
bảo rằng thông tin đó được công bố chứ không đảm bảo rằng là đầy đủ.
1.6.2 Quan điểm về “Chất lượng”
Chất lượng thông tin được đánh giá theo sáu tiêu chí là tính giàu thông tin,
tính phù hợp, tính rõ ràng, tính đặc biệt, tần xuất xuất hiện, và tính ngoài kỳ vọng.
hay có thể đánh giá với ba tiêu chí: tính phù hợp; tính tin cậy và tính rõ ràng - dễ
hiểu. Nhược điểm của phương pháp này đó chính là tính khả thi khi thực hiện chỉ
tiêu đo lường tính tin cậy.
1.6.3 Quan điểm về “Hiệu quả”
Thông tin công bố được đánh giá là hiệu quả nếu thông tin đó được cung cấp
đầy đủ, chính xác và cập nhật. Quan điểm này đã bổ sung thêm đặc tính cập nhật
của thông tin mà hai quan điểm trên chưa thể hiện được.
1.6.4 Kết luận
Luận án cho rằng mức độ CBTT cần được đánh giá theo các tiêu chí cần thiết

giá trị niêm yết.
1.7.7 Chất lượng của Kiểm toán độc lập:
Vai trò của kiểm toán độc lập là nhằm kiểm tra tính tin cậy của TTCB. Tuy
nhiên, tác động của yếu tố chất lượng của kiểm toán độc lập tới mức độ CBTT là
không đáng kể.
1.7.8 Kết luận
Sau khi đánh giá tính khả thi trong áp dụng của các nhóm đặc điểm thuộc
CTNY, Luận án lựa chọn những nhóm đặc điểm sau:
(1) Ngành nghề kinh doanh: ngành nghề theo đăng ký kinh doanh của CTNY

8
(2) Đặc điểm Nguồn vốn chủ sở hữu: cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng sở hữu của
Nhà nước, tỷ trọng sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài, tỷ trọng sở hữu của
nhà đầu tư tổ chức
(3) Đặc điểm về Quản trị công ty: độc lập giữa HĐQT và vị trí Tổng Giám đốc/
Giám đốc; tỷ trọng thành viên HĐQT tham gia BGĐ
(4) Đặc điểm về Kết quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh tổng quát: ROA và tỷ
lệ dòng tiền thuần trên doanh thu và hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu: ROE,
tỷ lệ dòng tiền thuần trên lợi nhuận sau thuế và tăng trưởng lợi nhuận sau thuế
(5) Đặc điểm về niêm yết: số năm niêm yết, Sở GDCK niêm yết và tỷ lệ vốn hóa
trên một cổ phiếu
1.8 Hệ quả của hoạt động CBTT
Hoạt động thị trường được đánh giá là tốt khi : (1) Giá cả và khối lượng giao
dịch hàng hóa biến động để phản ánh thông tin công bố đến thị trường; (2) Tính
thanh khoản cao, và (3) Tối thiểu hóa chi phí giao dịch.
Theo góc độ chủ thể phát hành là các CTNY, hoạt động thị trường được đánh
giá là tốt khi tối thiểu hóa chi phí huy động vốn chủ sở hữu, nâng cao giá trị thị
trường của công ty. Tuy nhiên, mức độ và cấp độ tác động của CBTT còn hoàn toàn
phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường.


xây dựng và qui định chỉ số thông tin công bố theo luật định của Việt Nam khá toàn
diện với 21 nhóm thông tin lớn với mục tiêu là các CTNY phải CBTT đầy đủ.
Thông tin định kỳ:
Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên (26 mục thông tin) và báo cáo quản trị
Thông tin bất thường và theo yêu cầu: 19 nhóm thông tin
2.3.2. Thời gian công bố
Với các báo cáo định kỳ, thời gian qui định trong Thông tư 52/2012 ngắn hơn
10 ngày so với qui định trong Thông tư 09/2010. Đối với thông tin công bố bất
thường và theo yêu cầu thông thường như thông tin niêm yết, giao dịch, giám sát,
nghị quyết Đại hội Cổ đông, Nghị quyết Hội đồng Quản trị thời gian công bố yêu
cầu là trong 24 giờ kể từ khi thông tin đó được thiết lập.
2.3.3. Kênh công bố
Thông tin v
ề tổ chức niêm yết được công bố qua 4 kênh sau đây: (1) Báo cáo
thường niên, trang thông tin điện tử (Website) và các ấn phẩm khác của tổ chức
niêm yết; (2) Các phương tiện CBTT của Ủy ban Chứng khoán nhà nước
(UBCKNN); (3) Các phương tiện CBTT của Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK);
(4) Phương tiện thông tin đại chúng khác.
2.4. Vi phạm trong CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam
Vi phạm về CBTT là vi phạm phổ biến trong các vi phạm trong lĩnh vực
chứng khoán. Các lỗi vi phạm xếp theo m
ức độ phổ biến vi phạm như sau:
Về thông tin công bố:
• Vi phạm về chậm nộp hoặc thiếu trung thực khi công bố các báo cáo tài chính,
Công bố báo cáo thường niên, Công bố tình hình quản trị công ty, Công bố các
Nghị quyết Đại hội cổ đông và Nghị quyết Hội đồng quản trị, Công bố về việc
thay đổi nhân sự, báo cáo về giao dịch cổ phiếu quỹ, báo cáo tiến độ sử dụng

10
vốn, nộp hồ sơ lý lịch các thành phần chủ chốt và Công bố về thông tin bất

CÔNG TY NIÊM YẾT
CÔNG BỐ
THÔNG TIN
THỊ TRƯỜNG
NIÊM YẾT
CÔNG TY NIÊM YẾT
N
g
ành n
g
h


V

n chủ s

h

u
K
ế
t
q
uả kinh doanh
Q
uản t

d

ch của c


p
hi
ế
u
Chi phí
v

nch

s

h

u

11
Các giả thuyết về mối tương quan giữa đặc điểm CTNY với hoạt động
CBTT; và giữa hoạt động CBTT và kết quả giao dịch của cổ phiếu và tới CTNY dự
kiến như sau:
(1) Giả thuyết kiểm định tính phù hợp của mô hình đề xuất
H1. Đặc điểm thuộc công ty niêm yết có tác động có nghĩa tới mức độ công
bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường Chứng khoán
(2) Giả thuyết kiểm định tác động của từng nhóm yếu tố đặc điểm tới
mức độ công bố thông tin
H2. Các CTNY thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau có mức độ công

Tên
nhân
tố
Biến số
Định nghĩa
biến số
Đo lường
Nguồn thu thập

Đặc điểm thuộc công ty niêm yết
1.1
Ngành nghề
kinh doanh
Nhóm ngành
nghề
Sử dụng tiêu chí phân ngành –
VSIC2007 áp dụng phân
ngành đồng nhất cho hai Sở
GDCK.
Mục thông tin về
CTNY (trang thông
tin điện tử của Sở
Giao dịch)
1.2
Đặc điểm về
nguồn vốn
chủ sở hữu
Tỷ trọng sở hữu
của các chủ sở
hữu trong tổng

Mục thông tin
doanh nghiệp (trang
thông tin điện tử của
CTNY và của cộng
đồng nhà đầu tư)
1.4
Đặc điểm về
kết quả kinh
doanh
Các chỉ tiêu về
doanh thu, lợi
nhuận, tài sản,
nguồn vốn và
dòng tiền
Thu thập kết quả kinh doanh
của năm trước và năm hiện tại:
- ROA, ROE, Dòng tiền
SXKD/lợi nhuận; Dòng tiền
SXKD/ doanh thu; tăng trưởng
lợi nhuận.
Báo cáo thường
niên; Báo cáo tài
chính

13
1.5
Đặc điểm
niêm yết
Thời gian niêm
yết, Sở GDCK

công bố so với nội dung qui
định.
- Chấm điểm thông tin công
bố định kỳ khác: Báo cáo
quản trị, báo cáo tài chính
- Chấm điểm thông tin công
bố bất thường và theo yêu
cầu
Thông tin công
bố trong kỳ, và
thông tin công bố
chi tiết trong Báo
cáo định kỳ của
doanh nghiệp
Tính rõ ràng – dễ
hiểu: cách thức trình
bày thông tin công bố
(số liệu và diễn giải)
- Xác định tỷ trọng trình bày
bằng số và bằng chữ của các
mục CBTT trong báo cáo
thường niên.

Thu thập và phân
tích từ các báo
cáo thường niên
công bố của
CTNY.
Tính cập nhật Điểm số là 1 đối với thông
tin xuất hiện trước; tại thời

tới 3 ngày sau đó của từng
thông tin trong nhóm thông
tin
Thu thập dữ liệu
về giá giao dịch
trước, trong và
sau khi công bố
từng nhóm thông
tin. Nguồn thông
tin: Sở GD
Chứng khoán.

3.2 Hệ quả về chi
phí vốn chủ
sở hữu
Hệ số bê ta của
CTNY trong kỳ
nghiên cứu
Hệ số bê ta được xác định
thông qua phương pháp hồi
qui đơn giữa suất sinh lời
của cổ phiếu và suất sinh lời
của thị trường. Giá trị này
được so sánh lại với giá trị
xác định của các tổ chức
CBTT tới cộng đồng nhà
đầu tư
Thu thập và xử lý
dữ liệu giao dịch
ngày của cổ

nước ngoài chiếm trung bình trong mẫu nghiên cứu là 12,40%. Nhà đầu tư có tổ
chức lớn nhất chính là nhà nước.
4.1.1.3. Đặc điểm quản trị Công ty
Kết quả thống kê cho thấy, trên 75% công ty trong mẫu nghiên cứu có thành
viên của Hội đồng Qu
ản trị là Giám đốc/ Tổng Giám đốc. Khi xét tỷ lệ thành viên trong
Hội đồng Quản trị tham gia Ban Giám đốc, giá trị thống kê cho thấy trung bình thành
viên của HĐQT tham gia vào BGĐ là 52,37%, đặc biệt giá trị này có xu hướng tăng
lên từ năm 2011 là 41,47%.
4.1.1.4. Kết quả kinh doanh
Trong kỳ nghiên cứu, sức sinh lời bình quân của Tổng tài sản năm trước và
năm nghiên cứu tương ứng là 6,68% và 5,66%. Điểm đáng lưu ý là trong kỳ nghiên
cứu, tỷ l
ệ dòng tiền trên doanh thu của doanh nghiệp là rất nhỏ. Sức sinh lời bình
quân của Vốn chủ sở hữu năm trước và năm nghiên cứu là 15.8%và 12,5%.Trong
kỳ nghiên cứu, các công ty luôn phải đối mặt với tình trạng lợi nhuận giảm.
4.1.1.5. Đặc điểm về niêm yết
Các công ty trong mẫu nghiên cứu có thời gian niêm yết khá dài. Năm niêm
yết trung bình là 3,76 năm. Mẫu nghiên cứu chủ yếu là các CTNY trên Sở GDCK

16
TP Hà Nội.Các công ty nghiên cứu có tỷ lệ vốn hóa rất khả quan, với giá trị vốn hóa
trung bình là 2,45 lần so với mệnh giá của cổ phiếu niêm yết.
4.1.2. Mức độ công bố thông tin
4.1.2.1. Tính thông tin
• Thông tin công bố trên báo cáo thường niên
Đối với thông tin công bố trong báo cáo thường niên,lượng thông tin công bố năm
2010 – 2011 và 2012 tương ứng là 62,88%và 83,59% so với yêu cầu. Trong các
nhóm thông tin từ A đến G, thông tin thuộc nhóm A “Lịch sử hoạt động của công
ty” và D “Báo cáo tài chính” được công bố đầy đủ nhất, Tuy nhiên, thông tin về

được công bố chậm hơn so với qui định. Về tuân thủ thời gian đối với CBTT bất
thường và theo yêu cầu, Nhóm thông tin được đánh giá công bố đúng thời hạn nhất
là nhóm thông tin về niêm yết, giao dịch, chào mua công khai, thông tin bất thường.
Thông tin nhạy cảm liên quan tới tình hình quản trị của công ty, giải trình về chênh
lệch kết quả kinh doanh so với kỳ trước, cập nhật các thông tin liên quan đến hoạt
động kinh doanh của công ty thường được công bố chậm hơn so với qui định.
So sánh sự tuân thủ về thời gian CBTT trên hai Sở GDCK: Đối với tính cập nhật
của toàn bộ thông tin công bố và thông tin công bố định kỳ, không đủ cơ sở để
khẳng định có sự khác biệt về tính cập nhật trong CBTT giữa các công ty trên hai Sở
GDCK. Tuy nhiên, đối với thông tin công bố bất thường và theo yêu cầu, các
CTNY trên Sở GDCK TP HCM thực hiện thời gian công bố tốt hơn so với Sở
GDCK TP Hà Nội.
4.1.2.3. Tính rõ ràng – dễ hiểu
Tính rõ ràng dễ hiểu của báo cáo thường niên năm 2010 và 2011 không tốt, với
lượng số liệu và bảng biểu trung bình trong báo cáo thường niên chiếm tỷ lệ rất nhỏ
là 17,13%. Báo cáo thường niên năm 2012 có nội dung trình bày tốt hơn so với kỳ
trước Trong các nhóm thông tin của báo cáo thường niên, phần có nhiều bảng biểu
và số liệu nhất chính là phần trình bày các dữ liệu liên quan tới tỷ trọng sở hữu của
cổ đông. Nội dung là đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh năm trước và kế
hoạch kinh doanh năm kế tiếp có phần dữ liệu số và bảng biểu chiếm tỷ trọng rất ít
trong toàn bộ nội dung của báo cáo.
4.1.2.4. Mối quan hệ giữa các đo lường của Biến Mức độ CBTT
Dữ liệu cho thấy có mối quan hệ chặt có ý nghĩa thống kê và cùng chiều giữa tính
thông tin và tính cập nhật của từng hoạt động CBTT, có nghĩa là khi công ty công
bố nhiều thông tin thì cũng có ý thức tốt hơn về thời hạn công bố.
4.1.3. Hệ quả của hoạt động CBTT
4.1.3.1. Biến động giao dịch thị trường
Biến động trung bình của suất sinh lời của cổ phiếu trong toàn mẫu nghiên cứu là
3% và độ lệch chuẩn chỉ là 0.875%.Như vậy, các công ty trong kỳ nghiên cứu có xu
hướng biến động sức sinh lời là khá tương đồng với nhau.

Có đủ cơ sở để khẳng định rằng có mối quan hệ có nghĩa giữa đặc điểm của
CTNY với lượng thông tin và tính cập nhật của các thông tin công bố bất
thường và theo yêu cầu với độ tin cậy đạt tới 100%.
4.2.2.3. Kiểm định tác động của nhóm đặc điểm
Giả thuyết H2
Biến “Ngành nghề kinh doanh” được phân thành hai nhóm: Nhóm 1 bao gồm
các công ty trong mẫu thuộc ngành nghề C. “Công nghệ chế biến chế tạo” và
F. “Xây dựng”; và Nhóm 2 bao gồm các công ty trong mẫu thuộc các ngành
nghề còn lại. Kết quả kiểm định về mối quan hệ giữa ngành nghề kinh doanh

19
và hoạt động CBTT với kiểm định t-test cho thấy không có sự khác biệt về
mức độ CBTT do tác động của đặc điểm ngành nghề, ngoại trừ về đo lường
“tổng lượng thông tin công bố”.
Giả thuyết H3
Kết quả kiểm định cho thấy đặc điểm nguồn vốn chủ sở hữu có tác động có
nghĩa tới lượng thông tin công bố và tính cập nhật của thông tin.Yếu tố có tác
động mạnh nhất và cùng chiều tới lượng thông tin công bố là tỷ trọng vốn
của nhà đầu tư nước ngoài. Hai yếu tố vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
và vốn sở hữu của nhà nước có tác động ngược chiều nhau tới tính cập nhật
của thông tin công bố, và có xu hướng triệt tiêu nhau.
Về CBTT định kỳ, không đủ căn cứ để kết luận rằng đặc điểm nguồn vốn chủ
sở hữu có tác động tới mức độ CBTT này của CTNY. Trong đó, với báo cáo
thường niên, kết quả kiểm định cho thấy đặc điểm sở hữu, cụ thể là tỷ trọng
sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động cùng chiều tới lượng thông tin
công bố trong báo cáo. Với tính cập nhật, chỉ có tỷ trọng Nợ trên vốn chủ sở
hữu có tác động có nghĩa nhưng ngược chiều. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
không đủ căn cứ để kết luận đặc điểm vốn chủ sở hữu có tương quan tới tính
rõ ràng dễ hiểu trong báo cáo này.
Về CBTT bất thường và theo yêu cầu, đặc điểm vốn chủ sở hữu có tác động

nhật của các thông tin công bố bất thường và theo yêu cầu. Đặc tính rõ ràng
dễ hiểu trong báo cáo thường niên là không chịu tác động của biến đặc điểm
niêm yết. Tuy nhiên, “tỷ lệ vốn hóa trên một cổ phiếu” là chỉ tiêu chỉ có tác
động cùng chiều tới mức độ CBTT tổng hợp và CBTT bất thường và theo
yêu cầu.
4.2.2.4. So sánh mức độ tác động của các nhóm yếu tố tới mức độ CBTT
Đối với hoạt động công bố thông tin tổng hợp, yếu tố tác động tích cực
và lớn nhất từ chỉ
tiêu thể hiện năng lực sản xuất – suất sinh lời của tổng tài
sản (ROA) và suất sinh lời của vốn chủ sở hữu. Về tính cập nhật, trong khi
chỉ tiêu tỷ trọng vốn sở hữu nước ngoài có tác động tích cực và lớn nhất tới
tính cập nhật của CBTT tổng hợp; thì tỷ trọng vốn sở hữu nhà nước lại có tác
động ngược chiều và có mứ
c độ tác động tương đương.
Đối với hoạt động công bố thông tin định kỳ, yếu tố có tác động tích
cực và lớn nhất tới tính thông tin và tính cập nhật là sự độc lập giữa HĐQT
và BGĐ công ty. Yếu tố có tác dụng tiêu cực và mạnh mẽ nhất tới hoạt động
CBTT định kỳ trên cả hai mặt thông tin và cập nhật chính là Sở niêm yết.
Đối với hoạt động công bố thông tin bất thường và theo yêu cầu, ngoài
yếu tố sở hữu nhà nước, các yếu tố khác đều có tác động tích cực tới tính
thông tin và tính cập nhật của hoạt động CBTT. Yếu tố có tác động lớn nhất
là tỷ trọng sở hữu nước ngoài trong CTNY. Yếu tố có tác dụng tiêu cực duy

21
nhất tới hoạt động CBTT này trên cả hai mặt thông tin và cập nhật chính là tỷ
trọng sở hữu của nhà nước trong CTNY.
Đối với hoạt động công bố báo cáo thường niên, yếu tố có tác động lớn
nhất và tích cực nhất tới tính thông tin trong BCTN là tỷ trọng sở hữu nước
ngoài trong CTNY, sau đó là tới các yếu tố Sở niêm yết, sự độc lập giữa
HĐQT và BGĐ. Yếu tố có tác dụng tiêu cực duy nhất, làm giảm lượng số

CTNY; (2) CTNY để tăng cường nhận thức và hướng thông tin chủ đạo cần
cung cấp tới nhà đầu tư; và (3) hướng nghiên cứu sau này về CBTT của
CTNY trên TTCK Việt Nam.
5.3. Kiến nghị
5.3.1. Đối với Cơ quan Quản lý Nhà nước về thị trường Chứng khoán
5.3.1.1. Chính sách quản lý về CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam:
Chính sách CBTT đầy đủ hiện tại là cơ sở tốt để Cơ quan quản lý nhà nước
thực hiện chuyển đổi cơ chế phát hành của CTNY từ xin phép đăng ký sang
cơ chế phát hành dựa trên công bố thông tin đầy đủ. Luận án kiến nghị Cơ
quan Nhà nước tiếp tục giữ và kiện toàn hệ thống văn bản pháp lý hỗ trợ
Chính sách này được tiến hành đúng đắn.
5.3.1.2. Hệ thống văn bản pháp lý về CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam
Thông tin công bố
Với thông tin công bố định kỳ, VBPL nên bổ sung/ điều chỉnh các nội
dung sau trong qui định:
Về nội dung, trong báo cáo thường niên nên chia nhỏ thêm các mục
thông tin qui định. Về báo cáo quản trị, nên điều chỉnh nội dung của báo cáo,
tăng tính có nghĩa của báo cáo trong đánh giá của nhà đầu tư. Nội dung về
danh sách và giao dịch của cổ đông: nên chuyển thành thông tin về sở hữu
của các cổ đông; Về nội dung khác: nên chuyển nội dung này các hoạt động
quản trị doanh nghiệp của HDQT và BGD.
Về loại báo cáo, cần thiết phải bổ sung báo cáo về tình hình vốn chủ sở
hữu và báo cáo phát triển bền vững.
Về thông tin bất thường và theo yêu cầu, cơ quan Quản lý Nhà nước
cần lưu ý (1) điều chỉnh nhóm thông tin sau trong qui định hiện hành: Thông
tin về giao dịch của cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và người liên quan: kiến
nghị cơ quan Nhà nước b
ổ sung yêu cầu công bố về báo cáo tóm tắt tình
trạng sở hữu sau các giao dịch lớn, giao dịch của các cổ đông lớn, cổ đông
nội bộ và người có liên quan. (2) Bổ sung nhóm thông tin sau vào các qui

hữu của các Nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty niêm yết. Do đặc điểm
tỷ trọng sở hữu của nhà nước có tác động tiêu cực tới CBTT của CTNY trên
TTCK, Cơ quan quản lý nhà nước nên cân nhắc tỷ lệ sở hữu, Luận án kiến
nghị xem xét mức 25%.
(3) Về đặc điểm Quản trị công ty của CTNY:
Kiến nghị Cơ quan Quản lý Nhà nước hạn chế hiện tượng “vấn đề đại
diện” thông qua việc xem xét và hạn chế số lượng thành viên của Hội đồng
quản trị tham gia vào Ban Giám đốc. Theo phân tích, số lượng thành viên của
Hội đồng quản trị tham gia vào BGĐ không nên quá 50% tổng số thành viên.
(4) Về đặc điểm kết quả kinh doanh của CTNY:
Do chỉ tiêu ROA và ROE của kỳ trước hay kỳ báo cáo đều tác động
tích cực tới hoạt động CBTT của CTNY. Do đó, kiến nghị các báo cáo định
kỳ đều phải trình bày các dữ liệu về hai chỉ số này. Các chỉ tiêu này cần được
lập theo quý, bán niên và năm.
(5) Về đặc điểm niêm yết của CTNY:
Kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét việc hợp nhất vận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status