BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ HỒNG LONG
GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã Số
:
:
TÀI CHÍNH, LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ TÍN DỤNG
5.02.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : TS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2003
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG MỘT - TỔNG QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ------ 7
1.1. Những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài -------------------------- 7
1.1.1. Đònh nghóa -------------------------------------------------------------------------------- 7
2.3. Những hạn chế trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 1997
đến nay -----------------------------------------------------------------------------------------34
2.3.1. Sự giảm sút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 1997 đến nay ----------------------- 34
2.3.2. Những hạn chế về cơ chế - chính sách tài chính ---------------------------------- 35
2.3.2.1. Chính sách thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài ----------------- 35
2.3.2.2. Về chính sách thuế ----------------------------------------------------------------- 36
2.3.2.3. Chính sách tiền tệ và thò trường tài chính -------------------------------------- 37
2.3.2.4. Về chính sách đất đai -------------------------------------------------------------- 39
2.3.2.5. Về cơ chế giám sát tài chính ----------------------------------------------------- 39
2.3.2.6. Về chi phí đầu tư ------------------------------------------------------------------- 40
2.3.3. Một số hạn chế khác ------------------------------------------------------------------ 41
2.3.3.1. Thò trường tiêu thụ còn ở mức thấp ---------------------------------------------- 41
2.3.3.2. Buôn lậu, làm hàng giả và sự kém phát triển của những ngành công nghiệpdòch vụ hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế hàng nhập khẩu ------------- 41
2.3.3.3. Môi trường pháp lý ---------------------------------------------------------------- 42
2.3.3.4. Cơ sở hạ tầng ----------------------------------------------------------------------- 43
2.3.3.5. Rào cản hành chính ---------------------------------------------------------------- 44
CHƯƠNG BA - MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM ----------------------------------------47
3.1. Đònh hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ------------------------------47
3.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế và nhu cầu đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời
gian tới ----------------------------------------------------------------------------------------- 47
3.1.2. Quan điểm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài -------------------------------- 48
3.1.2.1. Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ---------------------------------- 48
3.1.2.2. Các quan điểm chính cần quán triệt trong xây dựng chính sách thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001 – 2010 --------------------------------------------- 49
3.2. Giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt nam ----------------------------------------------------------------------------------52
3.3.4.2. Xây dựng hệ thống thông tin thống kê thò trường lao động ------------------ 77
3.3.4.3. Nâng cao chất lượng hệ thống dòch vụ việc làm ------------------------------ 77
3.3.5. Khuyến khích loại hình dòch vụ tư vấn – kế toán – kiểm toán ----------------- 78
3.3.6. Phát triển cơ sở hạ tầng -------------------------------------------------------------- 79
3.3.6.1. Huy động tối đa các nguồn vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng -------------------- 79
3.3.6.2. Nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng các nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng 80
3.3.7. Triệt để cải cách hành chính -------------------------------------------------------- 81
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trong những xu thế chủ yếu của quan
hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học, kỹ thuật cùng
với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
chuyên môn hóa, hợp tác giữa các quốc gia và làm cho việc sản xuất được quốc tế hóa
cao độ. Hầu hết các nước đều điều chỉnh chính sách của mình theo hướng mở cửa,
giảm và tiến tới tháo bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, khiến cho việc trao đổi
hàng hóa và luân chuyển các nhân tố sản xuất như vốn, lao động và kỹ thuật trên thế
giới ngày càng thông thoáng hơn. Để tránh ở ngoài lề sự phát triển, các nước đang
phát triển phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung và tăng cường sức cạnh tranh kinh tế.
Việt nam đã tham gia tích cực vào hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực bằng việc thiết
lập mối quan hệ ở những mức độ khác nhau với hầu hết các nước. Trước hết, đó là sự
tham gia vào các diễn đàn quốc tế phát triển vùng, tiểu vùng, khu vực và toàn cầu, gia
nhập ASEAN, APEC, ký hiệp đònh khung với Liên minh Châu u, là quan sát viên của
WTO - một quá trình hội nhập để đi đến sự thống nhất trong đa dạng.
Hội nhập quốc tế được đặc trưng bởi sự tự do hóa thương mại và dòng vốn đầu tư.
Trong đo,ù vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận hữu cơ của
United Nation Development Program – Chương trình phát triển Liên
Hiệp Quốc
UNCTAD
United Nation Conference on Trade and Development - Tổ chức
Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc
OECD
The Organization of Economic and Cooperation Development – Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
USD
Đồng đô la Mỹ
GTGT
Giá trò gia tăng
TTĐB
Tiêu thụ đặc biệt
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Đònh nghóa
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) ngày càng có vai trò
quan trọng trong việc phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới, nhất là các nước đang
phát triển. Đối với nhiều quốc gia, FDI được xem là nguồn ngoại lực tài trợ chính cho
quá trình phát triển kinh tế.
Có khá nhiều đònh nghóa về FDI, chẳng hạn:
+ Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund - IMF), với mục đích
thống kê, FDI là hình thức đầu tư mà người chủ sở hữu của nó (người nước ngoài) trực
tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp nơi ông ta đầu tư. Việc đầu tư chỉ được xem là
trực tiếp khi nhà đầu tư nắm giữ tối thiểu 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, bởi
vì đây là một tỷ lệ đủ để nhà đầu tư có được tiếng nói trong công tác điều hành, quản
lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, đôi khi họ có thể làm được điều này chỉ với tỷ lệ vốn góp
ít hơn và ngược lại.
+ Theo Tổ Chức Thương Mại và Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nation
Conference on Trade and Development - UNCTAD), FDI xảy ra khi công dân của
một nước, gọi là nước chủ đầu tư (home nation) dành được quyền kiểm soát một số
thực thể kinh tế ở một nước khác, gọi là nước nhận đầu tư (host nation).
+ Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam (ban hành năm 1987), FDI là
việc các tổ chức và cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vốn vào Việt nam bằng hình thức
tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt nam chấp nhận để hợp
tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập các công ty liên doanh hay công ty
100% vốn nước ngoài.
Như vậy có thể khái quát về FDI với hai đặc điểm chính như sau:
o FDI là một hình thức dòch chuyển vốn đầu tư mang tính quốc tế từ quốc gia này
sang quốc gia khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận từ hoạt động đầu tư.
dẫn; do vậy công nghệ mới có thể du nhập và được sử dụng có hiệu quả trong nước.
Một chính sách hướng nội và bảo hộ thái quá sản xuất trong nước sẽ buộc người dân
tiêu thụ sản phẩm nội đòa với giá cao và chất lượng tồi.
Trang 9
Trong các dòng vốn du nhập vào nước ta, FDI có khả năng đem theo các công nghệ
mới và sử dụng chúng có hiệu quả hơn cả. Lý do là các công ty đa quốc gia đầu tư trực
tiếp vào Việt nam hiện đang nắm giữ tới 90% công nghệ của thế giới, có mạng lưới
chi nhánh khắp thế giới. Họ có khả năng di chuyển công nghệ từ nước hết lợi thế cạnh
tranh sang các nước có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn, trong khi một quốc gia kém phát
triển như nước ta không có khả năng đó.
Một đặc trưng nữa là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thường không muốn sử dụng
công nghệ kỹ thuật sẳn có tại nước tiếp nhận đầu tư khi hợp tác, liên doanh trừ phi họ
nắm được quyền kiểm soát ở mức độ nhất đònh – mà điều này lại thuộc về bản chất
của FDI. Không những thế, nhà đầu tư nước ngoài luôn trực tiếp điều hành doanh
nghiệp, họ thường đem áp dụng các kỹ thuật quản lý hiện đại nhằm tối đa hóa hiệu
quả công việc. Rõ ràng, đây là con đường ngắn nhất và cũng hiệu quả nhất giúp các
nước đang phát triển học hỏi và vận dụng những kỹ năng kinh doanh của thế giới.
c) Tạo điều kiện cho các nước đang phát triển tiếp cận thò trường quốc tế, từng bước
hội nhập kinh tế quốc tế.
Một điểm lý thú là ở một số doanh nghiệp FDI, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài kiêm
luôn vai trò người tiêu thụ sản phẩm. Với kinh nghiệm từ môi trường cạnh tranh cao,
họ mang theo các cơ hội mở rộng xuất khẩu (do đã thiết lập sẳn những mối quan hệ
làm ăn trước khi vào Việt nam) hay các kỹ năng marketing ở cấp độ chuyên nghiệp.
Điều này đặc biệt đúng đối với nhà đầu tư là các công ty đa quốc gia. Điều này cũng
là một thuận lợi giúp các đối tác Việt nam làm quen với việc tiếp cận thò trường nước
ngoài, từng bước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
d) Tạo điều kiện cho các nước đang phát triển khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh
Mục tiêu lợi nhuận có thể đạt được thông qua việc khai thác thò trường nội đòa của các
nước tiếp nhận đầu tư, thúc đẩy gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp FDI
và doanh nghiệp nội đòa. Đôi khi sự cạnh tranh không bình đẳng gây ra tác động xấu
đến nước tiếp nhận đầu tư.
1.1.2.2. Mặt tiêu cực
Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, FDI cũng tạo ra một số tiêu cực nhất đònh
cho nước tiếp nhận đầu tư như :
o Cơ cấu ngành nghề phát triển không đồng đều: do mục tiêu chạy theo lợi
nhuận, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chỉ tập trung đầu tư vào một số
ngành và vùng có nhiều thuận lợi. Thậm chí, ở một số ngành nghề, nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài sẳn sàng đẩy các nhà đầu tư trong nước đến chỗ phá sản để
độc chiếm thò trường.
o Nguồn tài nguyên và lao động bò khai thác quá mức.
o Nước tiếp nhận đầu tư trở thành “bãi rác kỹ thuật” do phải đón nhận công nghệ
lạc hậu đã bò thải hồi từ các nước đầu tư phát triển.
o Hứng chòu nhiều hậu quả nghiêm trọng từ hoạt động “chuyển giá” do thiếu một
cơ chế giám sát chặt chẽ về tài chính, thuế và Hải quan, tiêu biểu như thất thu
Trang 11
thuế, sản phẩm nội đòa mất thò trường hay bên đối tác Việt nam buộc phải rời
liên doanh do liên doanh bò thua lỗ quá nặng.
Chính vì vậy, Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc - UNDP đã khuyến cáo các nước
đang phát triển không nên quá kỳ vọng vào FDI, nhất là trong dài hạn mà chỉ nên xem
đây là một yếu tố quan trọng góp phần vào năng lực sản xuất dài hạn của quốc gia mà
thôi. Nói cách khác, giữa cái được và cái mất do FDI mang lại, các nước này cần xây
dựng một chính sách đúng đắn nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của
FDI cho mục tiêu tăng trưởng bền vững.
Tóm lại, xét về lý thuyết, FDI mang lại nhiều lợi ích cho cả nhà đầu tư lẫn nước tiếp
Một trong những đặc trưng của dòng FDI toàn cầu gần đây là xu hướng phân bổ không
đồng đều giữa các khu vực và quốc gia. Nguyên nhân là do mỗi khu vực và quốc gia
có những đặc điểm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài khác biệt nhau. Cụ thể:
- Quy mô thò trường và mức độ tăng trưởng của thò trường: Quốc gia nào có thò
trường nội đòa lớn hơn và có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn sẽ hấp dẫn hơn dưới mắt
Trang 12
nhà đầu tư, bởi lẽ một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và thò trừơng lớn sẽ đảm bảo hơn
tính sinh lợi của đồng vốn. Có thể khẳng đònh đây yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc
hấp dẫn FDI. Điều này có thể nhận thấy qua bảng tóm lược lưu lượng FDI tại các nước
NICs, ASEAN trước khủng hoảng và Trung Quốc hiện nay.
Bảng 1.1 : Quy mô dòng FDI đổ vào một số nước đang phát triển ở Châu Á trung bình
năm, giai đoạn 1984-1999
Đơn vò tính: Triệu USD
QUỐC GIA
1984-1987
1988-1991
1992-1997
1999
1.777
3.610
970
5.238
Thái Lan
295
1.868
1.815
4.916
Châu - Thái Bình Dương (A)
9.841
21.306
58.657
99.224
Châu Á
9.716
21.077
1.594
3.812
NICs
4.764
9.422
14.029
29.358
ASEAN 10
3.027
10.237
18.247
23.047
Tây Á
1.612
1.484
599.034
_ ASEAN 10/Châu -Thái Bình Dương
31
48
31
23
_ ASEAN 10/Các nước đang phát triển
16
29
21
13
Trung Quốc
Thái Bình Dương
So sánh (%)
Nguồn: UNCTAD 2000
Ghi chú: (A) : Chỉ tính các nước đang phát triển
Bảng dưới đây:
Trang 14
Bảng 1.2 : Hệ thống khuyến khích của chính phủ và tác động kỳ vọng của chúng
Công cụ
Tác động kỳ vọng
a. Các khuyến khích đầu vào
- Miễn, giảm thuế nhập khẩu
- Trợ cấp cho các đầu vào nhập khẩu
- Miễn thuế cho các thiết bò sản xuất
- Trợ cấp cho các đầu vào
- Chính sách khấu hao nhanh
- Trợ cấp đối với tài sản cố đònh
- Trợ cấp đầu tư
- Trợ cấp đối với tài sản cố đònh
- Chính sách tín dụng đào tạo
- Trợ cấp cho việc hình thành vốn con người
trong việc thu hút FDI, nhất là trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và sự mở để hội
nhập của mỗi quốc gia. Một vò trí đòa lý thuận lợi, một nền văn hóa và ngôn ngữ phù
hợp với các chuẩn mực thông dụng của thế giới rõ ràng là một lợi thế thu hút FDI.
Xét ở cách tiếp cận khác, môi trường đầu tư có thể hiểu là sự tổng hòa các yếu tố pháp
luật, kinh tế, chính trò, xã hội có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại nước tiếp nhận. Các yếu tố này tác động hỗ tương và mang
đặc thù của nền kinh tế ở nơi tiếp nhận. Quan hệ giữa yếu tố cấu thành môi trường đầu
tư và hiệu quả đầu tư là rất chặt chẽ, có thể nhìn ở khía cạnh này để đánh giá khía
cạnh kia và ngược lại.
Trang 15
Hình 1. Các yếu tố cơ bản của môi trường đầu tư
Yếu tố
pháp lý
Yếu tố thò
trường
Yếu tố
chính sách
Cơ sở
hạ tầng
Lợi thế
so sánh
Văn hóaXã hội
50%
Trung quốc
I
30%
Nước đang
phát triển
Khác
50%
Các công ty đa quốc gia (MNC) chi phối tuyệt đối trong việc cung cấp FDI. Trong khi
các MNC ở những quốc gia phát triển thống trò ở những lónh vực như sản xuất ô tô,
điện tử, thiết bò điện, dầu khí, hóa chất và dược phẩm thì MNC ở các nước đang phát
triển lại có vò trí ngày càng quan trọng trong các ngành chế biến thực phẩm, nước giải
khát và xây dựng. Số MNC khác phát triển theo hướng đa dạng hóa ngày càng nhiều.
Chính sách đối xử với dòng FDI ở các quốc gia đang phát triển có xu hướng tự do hơn.
Luật lệ về FDI ở hầu hết các nước gần đây đều được xây dựng hay sửa đổi theo hướng
tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đặc biệt, các
hiệp đònh về đầu tư và thương mại song phương không ngừng được ký kết giữa các
nước đang phát triển.
Sản lượng thành phẩm đã qua chế biến tại các doanh nghiệp FDI ngày một tăng nhưng
đồng thời sản lượng khai thác đã giảm; các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao
cũng như các dòch vụ tài chính như ngân hàng, môi giới chứng khoán, bảo hiểm .v.v..
ngày càng chiếm tỷ lệ quan trọng. Ngoài ra, các hoạt động nghiên cứu và phát triển
(Research & Development – R&D) cũng được quan tâm không chỉ dừng ở các MNC
mà ở tất cả doanh nghiệp tuy với mức độ ít hơn. Điều này tạo sự chuyển biến lớn trong
mậu dòch quốc tế và có khuynh hướng đi sâu vào chất lượng.
trực tiếp nước ngoài, vừa tranh thủ được lợi ích cho đất nước mình. Có thể chia các
chính sách với FDI thành hai loại:
Loại 1: Chính sách khuyến khích
Điểm nổi bật của chính sách này là tạo ra sự ưu đãi hơn hẳn giữa các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài so với các doanh nghiệp nội đòa. Loại chính sách này
khá thònh hành. Ngoài các ưu đãi chung, khi nhà đầu tư đáp ứng được một số yêu cầu
về xuất khẩu, tỷ lệ nội đòa hóa v.v … hay đầu tư vào vùng sâu, vùng xa còn được hưởng
thêm các ưu đãi khác. Tuy hướng được dòng FDI theo những yêu cầu của nền kinh tế
đặt ra trong từng giai đoạn khác nhau nhưng trong một chừng mực nào đó, nó vẫn bò
phê phán là không hiệu quả. Nguyên nhân có thể liệt kê như sau:
Sự khuyến khích và ưu đãi (nhất là khuyến khích về tài chính) thường
gây thiệt thòi cho nền kinh tế của nước tiếp nhận.
Trang 18
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài với ý đònh làm ăn lâu dài và nghiêm
túc thường không quan tâm lắm đến các ưu đãi ban đầu mà nước tiếp
nhận đầu tư dành cho họ.
USD và năm 2002 tiếp tục gia tăng lên 55 tỷ USD, trở thành nước thu hút FDI đứng
đầu thế giới. Với chính sách ”cải cách và mở cửa”, bắt đầu từ năm 1979, Trung quốc
đã dành cho nhà đầu tư nhiều ưu đãi về thuế. Cụ thể:
Trang 19
- Thuế lợi tức: dù mức thuế suất chuẩn là 30% nhưng thuế suất này giảm đến mức còn
15% ở các đặc khu kinh tế và một số khu vực khác. Trong thời kỳ ưu đãi về thuế, các
doanh nghiệp FDI được hưởng mức phổ biến là “miễn 2 giảm 3”, có nghóa là được
miễn 100% trong hai năm đầu tiên kể từ khi hoạt động có lãi và được giảm 50% trong
3 năm tiếp theo. Đối với những ngành nghề cần khuyến khích, mức ưu đãi còn nhiều
hơn như: các dự án xây dựng cảng, công trình hạ tầng tại các đặc khu kinh tế được
hưởng ưu đãi cao nhất là miễn cho 5 năm đầu và giảm 50% cho 5 năm tiếp theo. Các
dự án trong lónh vực nông nghiệp, trồng rừng, chăn nuôi được giảm từ 15-30% trong
thời gian 10 năm tiếp theo thời gian miễn thuế bình thường.
- Thuế nhập khẩu: các doanh nghiệp FDI sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế
nhập khẩu đầu vào. Bên cạnh đó, việc giảm thuế thu nhập theo tỷ lệ xuất khẩu sản
phẩm cũng được thực hiện với ý nghóa để bù đắp cho các biến động về tỷ giá hối đoái
nhằm mục đích khuyến khích xuất khẩu.
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: từ 1991, Trung quốc đã xóa bỏ loại thuế này.
Như vậy có thể thấy rằng Trung quốc đã sử dụng rất nhiều biện pháp khuyến khích về
thuế để thu hút FDI, đặc biệt trong các khu vực kinh tế. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu
của OECD về tính cạnh tranh trong việc thu hút FDI tại quốc gia này cho thấy biện
pháp khuyến khích được nhà đầu tư ưa chuộng nhất không phải là ưu đãi về thuế mà là
cơ sở hạ tầng tốt, bộ máy hành chính ít quan liêu, cơ hội tiếp cận thò trường nội đòa lớn.
Mặc dù vậy, các ưu đãi về thuế dành cho doanh nghiệp FDI nằm trong các đặc khu
kinh tế được duy trì đến cuối thập niên 1990 đã tạo phản ứng mạnh mẽ từ các doanh
nghiệp nội đòa. Bởi lẽ các ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp FDI đã đặt các thành
phần kinh tế khác vào thế bất lợi hơn trong cuộc cạnh tranh ngay trên thò trường trong
tư R&D (nghiên cứu và phát triển) thì vẫn được giữ nguyên. Thứ hai, các ngành thuộc
nhóm kỹ thuật cao, công nghiệp dòch vụ, kể cả doanh nghiệp nằm trong khu chế xuất,
đặc khu kinh tế được hưởng những ưu đãi lớn hơn so với trước đây. Cụ thể: nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở các ngành nghề, đòa điểm nói trên được miễn thuế thu nhập cá
nhân và thuế TNDN trong 7 năm đầu hoạt động và giảm 50% cho 3 năm tiếp theo.
Với những cải cách thuế trên đây, chắc chắn Hàn quốc sẽ tạo động lực khuyến khích
hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài trong cuộc cạnh tranh với các
quốc gia khác về thu hút dòng FDI ở hiện tại và trongthời gian tới.
1.4.3. Kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á
- Indonesia: Cho phép khấu hao nhanh để giảm thu nhập chòu thuế. Những công ty
mới thành lập trong một số ngành công nghiệp có thời hạn miễn thuế TNDN kéo dài
tới 10 năm.
- Thailand: Nếu dự án đầu tư nằm ở Khu vực I (thủ đô Bangkok và các tỉnh lân cận)
đồng thời xuất khẩu trên 80% thì được miễn thuế TNDN trong 3 năm; nếu dự án đầu tư
nằm ở khu vực II (các tỉnh thành cần khuyến khích) thì miễn thuế TNDN từ 3-7 năm;
nếu dự án đầu tư nằm ở khu vực III (các tỉnh thành cần đặc biệt khuyến khích) thì được
miễn thuế TNDN 8 năm.
Trang 21
- Malaysia: Thực hiện giảm các chi phí đầu vào trong tầm kiểm soát của Chính phủ
như phí hạ tầng cơ sở, điện nước, phí điện thoại, Internet .v.v.. nhằm tăng lợi nhuận
thu được cho các doanh nghiệp FDI. Giảm thuế suất thuế TNDN từ 30% xuống còn
28% vào năm 1998. Các dự án đầu tư vào các ngành phục vụ cần khuyến khích hoặc
sản xuất những sản phẩm cần khuyến khích thì được giảm 30% thuế TNDN và miễn
thuế trong vòng 5 năm kể từ ngày bắt đầu sản xuất. Nếu đầu tư vào các dự án công
nghệ cao có thể được xem xét miễn thuế hoặc giảm thuế trong thời hạn từ 5-10 năm.
- Philippines: Quy đònh các dự án đầu tư vào lónh vực mới được miễn thuế thu nhập
tối đa trong thời gian 6 năm kể từ ngày bắt đầu hoạt động. Giảm thuế suất thuế TNDN
CHƯƠNG HAI
TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN QUA
2.1. Tình hình thu hút FDI giai đoạn 1988 – 2002
Kể từ khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành tháng 08/1987 đến nay, hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một trong những khía cạnh chủ yếu của nền
kinh tế Việt nam. Tính cho đến hết năm 2001, trên toàn bộ lãnh thổ đất nước đã có
3.606 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký lên đến 41.598 triệu USD.
Tính ra trung bình trong một năm, Việt nam cấp giấy phép cho khoảng 257 dự án với
vốn đăng ký khoảng 2.928 triệu USD (xem Bảng 2.1).
Trái ngược với thực tế là số vốn đăng ký khá cao, vốn thực hiện của các dự án tính từ
năm 1991 đến nay chỉ khoảng 22,2 tỷ USD, tức là chỉ chiếm 55% so với vốn đăng ký.
Kết quả của điều này là quy mô bình quân của một dự án nhỏ, trung bình giai đoạn
1991 - 2000 chỉ đạt từ 3-9 triệu USD.
Trong số các dự án được cấp giấy phép, hiện còn khoảng 3.059 dự án đang hoạt động,
chiếm 84,8% số dự án với vốn đăng ký khoảng 39 tỷ USD. Trong số các dự án không
hoạt động, một số dự án không được triển khai, còn một số dự án bò rút giấy phép hay
hết hạn hoạt động.
Nếu phân chia việc thu hút FDI của Việt nam theo từng giai đoạn thì có thể thấy rằng
nếu như giai đoạn 1988-1990 mang tính thử nghiệm thì giai đoạn 1991-1996 là thời kỳ
hoàng kim của FDI. Số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện và quy mô bình quân của
một dự án tăng liên tục. Điều này ở một mức độ nào đó gây ra những ngộ nhận về lợi
thế của đất nước, về tiềm năng của dòng FDI trên thế giới.
Bước sang giai đoạn 1997-2000, tình hình đã thay đổi theo hướng ngược lại và đây là
điều mà theo một số nhà nghiên cứu được gọi là “sự thoái trào” của FDI. Mặc dù năm
1997 khủng hoảng tài chính-tiền tệ Đông Nam Á nổ ra nhưng thực tế Việt nam vẫn thu
Số dự án được
cấp phép
37
68
108
151
197
269
343
370
325
345
275
312
344
462
0
Vốn đăng
ký
371,8
582,5
839
1.322,3
2.165
2.900
3.765,6
6.530,8
8.497,3
428
575
1.118
2.241
2.792
2.923
3.137
2.364
2.179
2.228
2.300
0
18.210,1
22.285
Vốn thực hiện
bình quân dự án
2,83
2,92
4,16
6,53
7,54
9,00
9,09
8,6
6,98
6,47
4,97
trong năm).
Bảng 2.2: Phân Bổ FDI Theo Ngành Kinh Tế Giai Đoạn 1988 – 1999
Ngành
Nông lâm nghiệp
Thủy sản
Công nghiệp
Xây dựng
Khách sạn, du lòch
Giao thông vận tải, bưu điện
Tài chính, ngân hàng
Văn hóa, y tế, giáo dục
Các ngành dòch vụ khác
Tổng số
Số dự án được
cấp phép
Tỷ trọng
Số lượng
(%)
286
10,2
92
3,3
1.426
50,9
270
9,6
200
7,1
456,5
1.2
7.628,2
20.6
37.088,4
100
Vốn pháp đònh
(triệu USD)
Tỷ trọng
Số lượng
(%)
622,9
3.6
180,4
1.1
7.286,6
42.7
1.720,9
10.1
2.069,8
12.1
2.197,3
12.9
210,9
1.3
180,1
1.1
2.579,2
15.1
chuyển dòch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.1.2. Theo đòa phương
FDI được phân bổ không đồng đều giữa các đòa phương. Điều này được minh họa cụ
thể qua Bảng 2.3 và Bảng 2.4 dưới đây.
Những đòa phương có điều kiện tốt hơn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật-xã hội (TP.HCM, Hà
nội, Hải phòng, Đà nẵng), có ưu thế về tài nguyên khoáng sản (Lâm đồng, Bà ròaVũng tàu), có khả năng phát triển ngành du lòch (Phan thiết, Khánh hòa, Đà nẵng,
Huế, Đà lạt, Quảng ninh) và cơ chế quản lý thông thoáng hơn (Đồng nai, Bình dương)
sẽ hấp dẫn đầu tư hơn. Điều này phản ánh không những mục đích của nhà đầu tư mà
còn mức độ phát triển không đồng đều giữa các đòa phương.
Bảng 2.3 : Phân Bổ FDI Theo Đòa Phương Giai Đoạn 1988 – 1999
Đòa phương
Tp. Hồ Chí Minh
Hà nội
Đồng nai
Bình dương và Bình
phước
Hải phòng
Bà ròa – Vũng tàu
Quảng nam – Đà nẵng
Quảng ninh
Lâm đồng
Khánh hòa
Tổng số
Nguồn:
Số dự án được
cấp phép
Tỷ trọng
Số lượng
Vốn
pháp đònh
(triệu USD)
Xếp hạng
(theo số
lượng dự án)
4.570,6
4.026,1
1.366,5
790,7
32,2
15,44
10,33
1
2
3
9,91
4
669,1
1.126,7
455,3
307,4