Cấu trúc sở hữu và hành vi tránh thuế nghiên cứu thực nghiệm các công ty niêm yết tại TTCK Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HOÀNG TUẤN NAM

CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HÀNH VI
TRÁNH THUẾ
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HOÀNG TUẤN NAM

CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HÀNH VI
TRÁNH THUẾ
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TẠI TTCK VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Thùy Linh

1.5. Đóng góp của luận văn ................................................................................... 3
1.6. Bố cục bài nghiên cứu ..................................................................................... 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ... 5
2.1. Tổng quan khung lý thuyết ............................................................................ 5
2.1.1. Lý thuyết sở hữu tập trung ......................................................................... 5
2.1.2. Cấu trúc sở hữu và lý thuyết đại diện......................................................... 6
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và
hành vi tránh thuế.................................................................................................. 8
2.2.1. Ảnh hưởng của hiệu ứng ngăn chặn ........................................................... 8
2.2.2. Ảnh hưởng của hiệu ứng liên kết ............................................................... 9
2.2.3. Ảnh hưởng của hiệu ứng ngăn chặn/liên kết khi kiểm soát vượt quá sở
hữu ...................................................................................................................... 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 14
3.1. Mẫu và dữ liệu nghiên cứu........................................................................... 14


3.2. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................. 15
3.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 16
3.3.1. Các biến nghiên cứu ................................................................................. 16
3.4. Mô hình nghiên cứu và phương pháp kiểm định....................................... 28
3.4.1 Mô hình nghiên cứu .................................................................................. 28
3.4.2 Phương pháp kiểm định ............................................................................ 29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................. 31
4.1. Thống kê mô tả và phân tích tương quan................................................... 31
4.1.1. Thống kê mô tả ......................................................................................... 31
4.1.2. Phân tích tương quan và kiểm định đa cộng tuyến .................................. 32
4.2. Kết quả thực nghiệm .................................................................................... 35
4.2.1. Phân tích hồi quy OLS ............................................................................. 35
4.2.2. Kết quả hồi quy 2SLS .............................................................................. 42
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ...................................... 47


Thu nhập doanh nghiệp


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Bảng 3.1: Cơ cấu ngành của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.2: Tổng kết các biến đo lường hành vi tránh thuế của doanh nghiệp
Bảng 3.3: Tổng kết các biến trong mô hình
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong nghiên cứu
Bảng 4.2: Tương quan các biến trong nghiên cứu
Bảng 4.3: Kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy cấu trúc sở hữu tập trung lên hành vi tránh thuế đại diện
bởi quyền biểu quyết VR
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy cấu trúc sở hữu tập trung và hành vi tránh thuế khi có sự
khác biệt giữa quyền kiểm soát và quyền ngân lưu
Bảng 4.6: Kết quả hồi 2SLS


TÓM TẮT
Bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hành vi tránh
thuế thu nhập doanh nghiệp của 111 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
trong giai đoạn từ năm 2010-2016 với phương pháp hồi quy OLS, 2SLS. Kết quả
nghiên cứu cho rằng có một mối quan hệ phi tuyến giữa sự tập trung sở hữu và hành
vi tránh thuế theo hình chữ U ngược. Ở mức độ thấp, sự tập trung sở hữu gia tăng có
mối quan hệ cùng chiều với hành vi tránh thuế do hiệu ứng ngăn chặn. Tuy nhiên,
vượt qua khỏi điểm tối thiểu cần thiết để kiểm soát hiệu quả, sở hữu tập trung thông
qua quyền biểu quyết có mối quan hệ ngược chiều với hành vi tránh thuế do hiệu ứng
liên kết. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét khi doanh nghiệp tồn tại sự khác biệt
giữa quyền biểu quyết (voting right) và quyền ngân lưu (cashflow right) thì doanh

mới và tiếp tục sửa đổi vào năm 2013. Bên cạnh đó, mức thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp cũng giảm dần theo thời gian, mức thuế suất thuế TNDN phổ thông từ
32% xuống 28%, sau đó là xuống 25%, 22%, và đến 2016, thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp là 20%. Mặc dù luật thuế luôn được sửa đổi, bổ sung và ngày càng
hoàn thiện, nhưng hành vi trốn thuế vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Bên cạnh đó,
“hành vi tránh thuế” hay “né thuế” (giúp người nộp thuế giảm thiểu số tiền phải đóng
mà không trái với quy định pháp luật) là việc vận dụng tốt những phương thức hạch
toán hợp pháp để giảm thiểu các khoản thuế phải đóng cũng diễn ra rất phổ biến,


2

thậm chí, trên thị trường tồn tại các dịch vụ tư vấn để thực hiện hành vi tránh thuế,
né thuế.
Trên thế giới hiện có rất nhiều nghiên cứu về cấu trúc sở hữu (thể hiện ở chi
phí đại diện, sở hữu tập trung) và hành vi tránh thuế như Klassen (1997), Scholes
cùng cộng sự (2009); Chen cùng cộng sự (2010), Hanlon và Heitzman (2010),
Guedhami cùng cộng sự (2014); Richardson, Wang, và Zhang (2016)…Trong khi
đó tại thị trường Việt Nam, các nghiên cứu hầu hết tập trung vào mối quan hệ giữa
cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu và cấu trúc vốn hay cấu trúc
sở hữu và chính sách cổ tức…. Đối với chủ đề tránh thuế, các nghiên cứu lại tập
trung vào các động cơ tránh thuế như là doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận nhằm
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hoặc mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và tránh
thuế thu nhập doanh nghiệp… Từ đó, tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu: “Cấu
trúc sở hữu và hành vi tránh thuế của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam”
nhằm xem xét ảnh hưởng của chi phí đại diện, và sở hữu tập trung lên hành vi tránh
thuế của doanh nghiệp, đặt biệt là các doanh nghiệp đang niêm yết trên TTCK Việt
Nam.

1.2.

1.4.

Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng OLS, sử dụng phần mềm

Stata để chạy dữ liệu bảng. Các phương trình được hồi quy theo phương pháp OLS
cổ điển. Sau đó, tác giả thực hiện phép hồi quy 2 giai đoạn 2SLS với các biến công
cụ.
1.5.

Đóng góp của luận văn
Hầu hết các bài nghiên cứu trước đây được thực hiện tại các quốc gia có nền

kinh tế phát triển như Trung Quốc (Richardson, Wang và Zhang, 2016; Chen và cộng
sự, 2011, Chan và cộng sự, 2013…), Mỹ (Gompers và cộng sự, 2010), các quốc gia
Đông Á (Joseph và cộng sự, 2002) .. Còn các nghiên cứu tại Việt Nam lại tập trung
vào những chủ đề như cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Võ
Xuân Vinh, 2014), cấu trúc vốn và chi phí đại diện, cấu trúc vốn và chính sách cổ tức
(Trần Thị Hải Lý và Đỗ Thị Bảy, 2015) … mà chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu
về cấu trúc vốn và hành vi tránh thuế. Nên nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần
nghiên cứu thực nghiệm tại một thị trường mới về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và
hành vi tránh thuế của doanh nghiệp. Từ đó mang lại cái nhìn tổng quan về mối quan
hệ này trên các dạng thị trường khác nhau.


4

1.6.

Bố cục bài nghiên cứu

mục tiêu của nhà quản lý hay những chủ sở hữu của doanh nghiệp mà dẫn tới những
quyết định nhằm mang lại lợi ích đặt ra trong đó có hành vi tránh thuế.
2.1.1. Lý thuyết sở hữu tập trung (Concerntrated ownership)
Theo Enriques và Volpin (2007) cho rằng vấn đề cơ bản trong quản trị doanh
nghiệp tại Mỹ là giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa những cổ đông nhỏ phân tán và
những nhà quản lý. Còn đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, rất ít công ty niêm
yết được nắm giữa bởi những cổ đông phân tán, thường là một các nhân hoặc một
gia đình nắm phần lớn quyền biểu quyết (Classens và cộng sự, 2002; Faccio và Lang,
2002; La Porta và cộng sự, 1999). Thông thường, những nhà quản lý thực hiện kiểm
soát mà không nắm phần lớn quyền ngân lưu bằng sở hữu kim tự tháp, thỏa thuận
cổ đông và hai lớp cổ phần ( La Porta và cộng sự, 1999).
Sở hữu kim tự tháp là một dạng nắm giữ kiểm soát phổ biến. Một kim tự tháp
được định nghĩa như là một dạnh cấu trúc sở hữu, trong đó cổ đông kiểm soát thực
hiện kiểm soát một doanh nghiệp thông qua sở sữu của ít nhất một công ty niêm yết
khác. Sự tồn tại của các dạng cấu trúc sở hữu phụ thuộc vào những khác biệt mang
tính lịch sử trong các quy định pháp luật. Morch và Yeung (2005) chỉ ra rằng thuế
cổ tức của các công ty đa quốc gia được ban hành năm 1935 đã làm biến mất hình
thức sở hữu kim tự tháp tại Mỹ và nghiên cứu của Franks, Mayer và Rossi (2005)
chứng minh sự ra đời của yêu cầu bắt buộc mua lại năm 1968 giải thích cho sự biến
mất hình thức sở hữu này tại Anh.
Một phương pháp đo lường cuối cùng của sở hữu tập trung là giá trị vốn hóa
của thị trường cổ phiếu của một quốc gia được nắm giữ bởi 10 gia đình giàu nhất.


6

Theo phương pháp này thì cấu trúc sở hữu của công ty sẽ tập trung vào trong tay của
một số nhỏ cá nhân giàu có.
2.1.2. Cấu trúc sở hữu và lý thuyết đại diện
Mức độ tập trung quyền sở hữu tạo ra các vấn đề về đại diện giữa các nhà


vào việc chiếm hữu gián tiếp bằng cách theo đuổi các hoạt động không mang lại lợi
nhuận nhằm đổi lấy các quyền lợi cá nhân (ví dụ như giao dịch của các bên liên kết
có liên quan đến các dự án đầu tư với NPV âm). Vấn đề ngăn chặn được tạo ra bởi
một nhóm các chủ sở hữu nhằm ngăn chặn một nhóm chủ sở hữu khác (Morck, 1988,
Shleifer và Vishny, 1997, McConnell và Servaes, 1990). Theo một cách diễn đạt
khác, với một tỷ lệ sở hữu cổ phần cao hơn, ban quản lý, hoặc cổ đông lớn có đủ
quyền lực để theo đuổi những mục tiêu riêng tư mà không sợ bị trừng phạt bởi các
cổ đông khác, và do đó, họ thường đòi hỏi được hưởng các đặc quyền, mà trong
nhiều trường hợp có thể hy sinh quyền lợi của cổ đông. Đây được gọi là hiệu ứng
“ngăn chặn” (entrenchment effect).


Hiệu ứng liên kết (Alignment effect)
Với sổ lượng cổ phần sở hữu cao hơn trong một công ty sẽ giúp chủ sở hữu

kiểm soát mạnh hơn ở cả quyền biểu quyết (voting rights) và quyền ngân lưu (cashflow rights). Để có quyền kiểm soát (cả quyền biểu quyết và quyền ngân lưu (cashflow rights) ở mức cao hơn các cổ đông sẽ tốn thêm nhiều chi phí hơn (cho việc mua
và gia tăng việc sở hữu cổ phần) so với mức lợi ích mà họ đạt được khi thực hiện
các hoạt động chiếm hữu vì lợi ích cá nhân. Do đó, bất kỳ sự tăng thêm trong tỷ lệ
cổ phần của cổ đông kiểm soát có thể làm giảm bớt vấn đề ngăn chặn và giảm chi
phí đại diện khi có sự sắp xếp các quyền lợi của mình với các cổ đông thiểu số (Fan
và Wong, 2002; Shleifer và Vishny, 1986).
Trên thực tế, tập trung quyền sở hữu vượt mức kiểm soát hiệu quả sẽ gửi tín
hiệu cho các nhà đầu tư rằng cổ đông có quyền kiểm soát (cổ đông lớn) cam kết gắn
kết với các cổ đông thiểu số thay vì bị chiếm hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ họ
(Gomes, 2000). Do vậy, sự tập trung quyền sở hữu có một hiệu ứng liên kết hiệu
quả, việc gia tăng sự tập trung vượt quá mức tối thiểu cần thiết để kiểm soát hiệu
quả cải thiện sự liên kết giữa chủ sở hữu kiểm soát và các cổ đông thiểu số, do đó
làm giảm các ảnh hưởng gây tổn hại của sự ngăn chặn (Fan và Wong, 2002). Sở hữu
càng cao, hiệu ứng liên kết càng cao từ đó làm giảm hiệu ứng ngăn chặn và dẫn đến

tương tự với vấn đề hạn chế quản trị đã được nêu ra trong các nghiên cứu trước đây
(Morck và cộng sự, 1988; Shleifer và Vishny, 1997; McConnell và Servaes, 1990).
Do đó những tranh luận về hiệu ứng ngăn chặn gợi ý rằng một sự tập trung sở hữu
cao có mối tương quan cùng chiều với hành vi tránh thuế.


9

2.2.2. Ảnh hưởng của hiệu ứng liên kết
Theo Fan và Wong (2002) cho rằng, một cách khả thi để giảm bớt vấn đề về
ngăn chặn của người quản lý là gia tăng sở hữu cổ phần của họ. Một sở hữu cao hơn
mang đến cho người quản lý những quyền biểu quyết và quyền ngân lưu mạnh hơn
trong công ty. Tuy nhiên, một khi người quản lý đã đạt được hiệu quả quản lý công
ty thì một sự gia tăng quyền biểu quyết không làm gia tăng hiệu ứng ngăn chặn
nhưng quyền ngân lưu mạnh hơn của ông ta có nghĩa là nó trở nên tốn kém hơn để
chuyển dòng tiền của công ty thành của cá nhân.
Cũng đồng tình với quan điểm của Fan và Wong (2002), Chen và cộng sự
(2010) cũng cho rằng một sự tập trung sở hữu cao cũng được xem như là một tín
hiệu đáng tin cậy về cam kết quả nhà quản lý để xây dựng một nghĩa vụ không gây
thiệt hại cho cổ đông giám sát thông qua hành vi tránh thuế. Cam kết này đáng tin
cậy vì cổ đông giám sát hiểu rằng nếu người quản lý độc nhiên mang về lợi ích cá
nhân cao hơn thông qua hành vi tránh thuế trong khi đang giữ nhiều cổ phần thì giá
cổ phiếu sẽ bị giảm, do đó cũng làm giảm giá trị cổ phần họ đang nắm giữ. Cân bằng,
cổ đông lớn sẽ giữa một lượng lớn cổ phiếu và giá cổ phiếu sẽ cao hơn. Nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng những người sáng lập tránh thuế ít hơn như những công ty gia đình
họ sẵn sàng tuân thủ các chính sách thuế để tránh giảm giá cổ phiếu.
Nghiên cứu tại thị trường Trung Quốc của Richardson và cộng sự (2016) cũng
có kết quả tương tự. Khi sở hữu gia tăng đủ cho lợi ích biên và chi phí biên của hành
vi tránh thuế bằng nhau thì sở hữu càng cao doanh nghiệp tránh thuế càng ít do lợi
ích từ hành vi tránh thuế không đủ bù đắp cho chi phí sở hữu cổ phiếu doanh nghiệp

ngược (inverted U-shaped). Tại một mức độ thấp, sự gia tăng trong sở hữu tập trung
có tác động đồng biến đến hành vi tránh thuế, theo hiệu ứng ngăn chặn. Tuy nhiên,
khi tỷ lệ sở hữu vượt quá mức cần thiết, sở hữu tập trung thể hiện thông qua quyền
biểu quyết sẽ có tương quan nghịch biến với hành vi tránh thuế, được giải thích thông
qua hiệu ứng liên kết. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khi cấu trúc sở hữu có dạng
kim tự tháp, tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ sở hữu và hành vi tránh thuế.
Do đó, trong một doanh nghiệp tồn tại sự khác biệt lớn giữa quyền kiểm soát
và quyền ngân lưu có khả năng những nhà quản lý sẽ tránh thuế nhiều hơn vì họ xem


11

đây là công cụ để tước đoạt tài sản của cổ đông và tránh những ảnh hưởng của dòng
tiền liên quan. Tuy nhiên, khi quyền biểu quyết và quyền ngân lưu khác biệt nhau,
một mức thấp của quyền ngân lưu thất bại trong việc tạo nên sự liên kết hiệu quả để
giảm hiệu ứng ngăn chặn và do đó sẽ gia tăng tránh thuế.
Bảng 2.1: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Cấu trúc

Nghiên cứu

sở hữu

Nội dung nghiên

Kết quả

cứu
- Morck (1988)



(1997, 1998)

hưởng của quyền

- Fan và Wong (2002)
- Desai và Dharmapala
(2006)

effect)
(+)

kiểm soát đến hành
vi tránh thuế của
doanh nghiệp

- Bertrand và cộng sự
(2008)
- Chen và cộng sự
(2010)
- Richardson, Wang
và Zhang (2016),
- Morck và cộng sự

Quyền kiểm soát


12

(1988)

- Fan và Wong (2002)

(-)

- Richardson, Wang
và Zhang (2016)
- La Porta và cộng sự

Nghiên

ảnh

Sự khác biệt giữa

(1998, 1999)

hưởng khi tồn tại sự

quyền biểu quyết

- Classens và cộng sự

khác biệt giữa quyền

(voting rights) và

(2000, 2002)

kiểm soát (VR) và


tránh

và quyền

(2009)

doanh nghiệp.

ngân lưu

- Chen và cộng sự,

(VR_CR)

2010

thuế

của

- Richardson, Wang
và Zhang (2016)

Quyền
ngân lưu
(CR)

cứu

ảnh

(2000, 2002)

tránh thuế của doanh

có ảnh hưởng đến

- Francis và cộng sự

nghiệp

hành vi tránh thuế
của doanh nghiệp.

(2005)

Do hiệu ứng ngăn
chặn lớn hơn hiệu
ứng liên kết.
Nguồn: Tác giả tổng hợp

Bảng tóm tắt các nghiên cứu ở trên cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa sở
hữu và hành vi tránh thuế tại các thị trường được nghiên cứu. Ban đầu khi sở hữu
tăng, doanh nghiệp tránh thuế càng nhiều. Khi sở hữu vượt quá ngưỡng mà tại đó
chi phí của việc tránh thuế lớn hơn lợi ích của cổ đông kiểm soát thì sở hữu gia tăng
sẽ làm giảm hành vi tránh thuế. Bên cạnh đó nếu trong doanh nghiệp tồn tại khác
biệt giữa quyền kiểm soát và quyền sở hữu, vai trò của quyền kiểm soát sẽ vượt
quyền sở hữu từ đó tránh thuế nhiều hơn. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều
nghiên cứu tại những nền kinh tế phát triển như Mỹ, các nước châu Âu hay tại Trung
Quốc… Chính vì vậy cần một nghiên cứu cho thị trường mới nổi như Việt Nam. Tác
giả lựa chọn bài nghiên cứu của Richardson, Wang và Zhang (2016) làm bài nghiên


Các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành tài chính

-

Các doanh nghiệp bị thiếu dữ liệu

Về thời gian nghiên cứu: Mặc dù, phiên giao dịch đầu tiên được khai trương
tại Sở GDCK Thành Phố Hồ Chí Minh (HSX) vào ngày 28/07/2000 và phiên giao
dịch đầu tiên tại Sở GDCK Hà Nội là ngày 01/01/2000. Số lượng các công ty niêm
yết mặc dù cũng đã tăng dần qua các năm và chỉ thực sự bùng nổ về số lượng niêm
yết vào giao đoạn 2006 – 2008. Do đó, tác giả chỉ chọn giai đoạn nghiên cứu từ 2010
– 2016 với số lượng ổn định của các doanh nghiệp niêm yết. Ngoài ra, các doanh
nghiệp mới niêm yết gần đây (từ 2010 đến 2016) cũng bị loại ra khỏi mẫu. Điều này
nhằm đáp ứng tiêu chí về chuỗi thời gian trong cấu trúc dữ liệu bảng. Đồng thời,
điều này cũng đảm bảo dữ liệu nghiên cứu có thể thu thập được, mẫu đủ dài và bảng
dữ liệu cân đối. Sau các bước chọn lọc như trên, số lượng các công ty quan sát trong
mẫu là 111 doanh nghiệp theo bảng 3.1.
Bảng 3.1: Cơ cấu ngành trong mẫu nghiên cứu
STT
1
2
3
4
5
6

Ngành
Ngành vật liệu cơ bản
Ngành công nghiệp


9
111

8.11%
100%

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Ứng với mỗi công ty có mặt trong mẫu, tác giả tiến hành thu thập các dữ liệu
để tính toán các nhóm biến, được mô tả sau đây:
 Dữ liệu về tỷ lệ sở hữu
Dữ liệu này được trích xuất trực tiếp từ báo cáo thường niên hàng năm của
các công ty niêm yết. Báo cáo thường niên là là báo cáo được công bố hàng năm
theo chuẩn công bố thông tin của doanh nghiệp.
 Dữ liệu kế toán
Dữ liệu kế toán hàng năm bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các công ty được trích xuất từ cơ
sở dữ liệu của StoxPro, phần mềm phân tích cổ phiếu, truy xuất dữ liệu của Công ty
StoxPlus (công ty cung cấp các giải pháp thông tin tài chính thông minh, dữ liệu thị
trường), sau đó tác giả kiểm tra lại với các BCTC được các công ty công bố, không
có bất kỳ sai lệch đáng kể nào.
3.2.

Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên các lập luận trong chương 2 về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến

hành vi tránh thuế, các giả thuyết nghiên cứu nhằm kiểm định thực nghiệm tại Việt
Nam được viết lại như sau:
H1: Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, cấu trúc sở hữu tập trung, thể

trước đây của Gupta và Newberry, 1997; Manzon và Plesko, 2002; Rego, 2003;
Desai và Dharmapala, 2006; Dyreng cùng cộng sự., 2008; Chen cùng cộng sự., 2010;
McGuire cùng cộng sự., 2012. Hai cách đo lường hành vi tránh thuế bao gồm:
+ Thuế suất hiệu dụng (effective tax rate – ETRs) được định nghĩa như là "tỷ
lệ thuế suất thực tế phải nộp của doanh nghiệp” để xác định mức đóng thuế thực tế
của các doanh nghiệp.
+ Chênh lệch trong lợi nhuận chịu thuế thực tế và sổ sách (book–tax gap BTGs).
ETRs và BTGs cũng được áp dụng hiệu quả trong các nghiên cứu của Wu và
Yue (2009); Wu cùng cộng sự (2012a, 2012b); Cai và Liu (2009); Tang và Firth
(2011, 2012) tại Trung Quốc. Cả 2 phương pháp này (ETR và BTG) đều phản ảnh
kế hoạch thuế của một doanh nghiệp luôn muốn làm giảm lợi nhuận chịu thuế
(taxable income) mà không nhất thiết phải giảm lợi nhuận kế toán (accounting


17

income).
 ETRs - effective tax rate
ETRs được tính dựa trên chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
(current income tax expenses) chia cho thu nhập kế toán trước thuế (pre-tax
accounting income) (Gupta và Newberry, 1997). Do đó, ETRs đo lường khả năng
một công ty giảm chi phí thuế thu nhập so với thu nhập kế toán trước thuế và từ đó
chỉ ra gánh nặng thuế khác nhau giữa các doanh nghiệp (Rego, 2003). Dựa trên các
nghiên cứu trước đây, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng 2 cách đo lường ETRs.
Thứ nhất, ETR1 được tính như là chi phí thuế thu nhập hiện hành (current income
tax expenses) chia cho lợi nhuận kế toán trước thuế (pre-tax accounting income)
(Gupta và Newberry, 1997). Thứ hai, ETR2 được tính là số tiền thuế phải trả (cash
taxes paid) chia cho lợi nhuận kế toán trước thuế (Dyreng cùng cộng sự., 2008). Số
tiền thuế phải trả chính là khoản mục thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp trên báo
cáo lưu chuyển tiền tệ. Các cách tính ETR1 và ETR2 được viết thành công thức như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status