Một số nội dung lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp - Pdf 66

Một số nội dung lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
I - Kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1. Kinh doanh của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm về kinh doanh
Thuật ngữ kinh doanh có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, nhưng
nói chung có thể định nghĩa như sau: Kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm
mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh.
Từ định nghĩa trên có thể thấy hoạt động kinh doanh có các đặc điểm chủ
yếu như sau:
Hoạt động kinh doanh phải được thực hiện bởi một chủ thể nhất định gọi
là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình hay
một tổ chức.
Hoạt động kinh doanh phải diễn ra trên thị trường.Thị trường và kinh
doanh luôn đi đôi với nhau. Không có thị trường thì sẽ không có hoạt động kinh
doanh.
Kinh doanh còn gắn với sự vận động của nguồn vốn nhằm mang lại các
lợi ích kinh tế cho chủ thể kinh doanh. Như vậy chủ thể kinh doanh không chỉ là
người có vốn mà còn phải biết cách làm cho đồng vốn đó vận động không
ngừng và ngày càng tăng lên.
Ngoài ra còn cách hiểu khác về kinh doanh như sau: “ Kinh doanh là việc
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi”.
Theo định nghĩa này, một hành vi được coi là kinh doanh nếu nó đáp ứng
được các yêu cầu sau:
Hành vi đó phải mang tính chất nghề nghiệp nghĩa là chủ thể kinh doanh
khi thực hiện một hành vi kinh doanh là họ đã thực hiện nguyên tắc phân công
lao động xã hội. Họ sống bằng hành vi đó, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.
Hoạt động kinh doanh phải diễn ra trên thị trường, theo quan điểm
marketing thì “ thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có
một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi

quả đó trong điều kiện nhất định.
Từ đó ta có công thức hiệu quả chung là:
Công thức hiệu quả tuyệt đối: E = K – C
Công thức hiệu quả tương đối: E = K / C
Trong đó: K là kết quả nhận được và được đo bằng các đơn vị khác nhau
C là chi phí bỏ ra và được đo bằng các đơn vị khác nhau
E là hiệu quả
Kết quả (K) mà chủ thể nhận được trong quá trình hoạt động của mình
càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu. Vì vậy hiệu
quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành
động có lợi nhất.
Hiệu quả tài chính, còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả
doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả
tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được
với chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả
tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
2.1.2 Các nguyên tắc xác định hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được xác định dựa theo các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc 1: Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu với tiêu chuẩn hiệu
quả.
Theo nguyên tắc này thì tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở các
mục tiêu. Với những mục tiêu đặt ra khác nhau thì hiệu quả sẽ khác nhau, khi
mục tiêu thay đổi thì tiêu chuẩn hiệu quả cũng thay đổi. Tiêu chuẩn hiệu quả
được xem như là thước đo để thực hiện các mục tiêu.
+ Nguyên tắc 2: Nguyên tắc về sự thống nhất của lợi ích.
Một phương án được xem như là có hiệu quả khi nó kết hợp được trong
đó các loại lợi ích. Bao gồm trong đó là lợi ích của chủ doanh nghiệp, lợi ích
của xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợi ích tinh
thần, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
+ Nguyên tắc 3: Nguyên tắc về tính chính xác và tính khoa học.

Về bản chất, hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực đầu vào. Do đó, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá,
so sánh và phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích
hiệu quả kinh tế, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ được sử
dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng các nguồn lực đầu
vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố
đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như đánh giá được từng bộ phận của
doanh nghiệp.
2.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Các nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn kiệt,
khan hiếm so hoạt động khai thác và sử dụng hầu như không có kế hoạch của
con người. Trong khi đó, mật độ dân số của từng vùng, từng quốc gia ngày càng
tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cũng ngày càng nhiều,
càng đa dạng và đòi hỏi chất lượng càng cao. Sự khan hiếm đó đòi hỏi con
người phải có sự lựa chọn kinh tế nhất. Trước đây khi trình độ phát triển còn
thấp, con người đã lựa chọn sự phát triển kinh tế theo chiều rộng, tức là tăng
trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất. Tuy nhiên trong
điều kiện hiện nay, khi đời sống con người được nâng cao về chất lượng, cùng
với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều phương pháp khác
nhau để tạo ra sản phẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực đầu vào nhất
định, người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đó là sự phát
triển theo chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển theo chiều sâu, sự tăng trưởng
kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về
mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện
công tác quản trị và cơ cấu kinh tế. Nói một cách khái quát đó là nhờ vào việc
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường việc giải quyết ba vấn đề kinh tế: sản xuất cái gì,
sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu,

hai hoặc cả hai cùng biến động.
Có thể triển khai công thức thu nhập trên tài sản như sau:
Thu nhập trên EBIT EBIT Doanh thu thuần
TS Tổng TS bình quân Doanh thu thuần Tổng TS bình quân
Mà Lợi nhuận trước thuế và chi phí tài chính (EBIT)
Doanh thu thuần
Thể hiện mức lợi nhuận trên doanh số bán ra khi tiến hành kinh doanh,
thường được gọi là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tính bằng %.
Doanh thu thuần
Tổng giá trị TS bình quân
thể hiện mức doanh thu được tạo ra trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Nó
còn cho biết vòng quay của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng bình quân.
Từ việc triển khai chỉ tiêu thu nhập trên tài sản cho thấy thu nhập trên tài
sản phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận tính trên doanh thu và vòng quay của tài
sản. Để tăng tỷ suất lợi nhuận trên tài sản thì về mặt lý thuyết có thể tác động
làm tăng một trong hai hoặc cả hai là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vòng
quay tài sản. Nếu như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu nhỏ thì có thể gia tăng
vòng quay tài sản và ngược lại. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường có sự cạnh
tranh thì việc gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu không phải là điều dễ
thực hiện.
Trường hợp cả tỷ suất lợi nhuận lẫn vòng quay tài sản đều thấp thì điều
đó có nghĩa doanh nghiệp đang có vấn đề cần xử lý. Từ đó cần có những biện
pháp phù hợp để giúp doanh nghiệp có thể tăng trưởng ở các thời kỳ sau đó.
2.3.2 Thu nhập trên vốn chủ (ROE)
Chỉ tiêu thu nhập trên vốn chủ được tính theo công thức sau:
Thu nhập trên vốn chủ Lợi nhuận sau thuế (LN
st
)
(ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân (VC)
Trong đó: Lợi nhuận sau thuế lấy số liệu từ báo cáo kết quả kinh doanh chỉ

Hiệu quả sử dụng vốn được tính toán chủ yếu qua hệ số doanh lợi của
vốn kinh doanh, công thức tính như sau:
HSDLVKD = ∏ / V
Trong đó: HSDLVKD : hệ số doanh lợi vốn kinh doanh
∏ : lợi nhuận
V : vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết khi bỏ ra một đồng vốn kinh doanh thì sẽ mang lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này so với các doanh nghiệp khác hoặc so
với các kỳ khác càng cao càng chứng tỏ khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
ngày càng cao, hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại.
- Ngoài ra còn có công thức tính hệ số doanh lợi của doanh thu thuần như sau:
HSDLDTT = ∏ / DTT
Trong đó: HSDLDTT : hệ số doanh lợi doanh thu thuần
∏ : lợi nhuận của doanh nghiệp
DTT : doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần sẽ mang lại mấy đồng lợi
nhuận. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn
càng cao, hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại.
2.3.4 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định hay tài sản cố định
Giá trị bình quân của tài sản cố định trong kỳ là tổng giá trị còn lại của tài
sản cố định và được tính theo nguyên giá của tài sản cố định sau khi trừ đi phần
hao mòn luỹ tiến đến kỳ tính toán. Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định
thì sử dụng hai công thức tính toán sau:
- Tính sức sản xuất của tài sản cố định:
SSXTSCĐ = DT / nguyên giá TSCĐ
Trong đó : SSXTSCĐ : sức sản xuất tài sản cố định
DT : doanh thu
Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng giá trị tài sản cố định trong kỳ tạo ra
được bao nhiêu đồng doanh thu. Sức sản xuất của tài sản cố định càng lớn thì
càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng tăng và ngược lại.

Lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình quản trị
nhằm tạo ra và duy trì sự ăn khớp về chiến lược giữa các mục tiêu, khả năng của
doanh nghiệp với các cơ hội marketing đầy biến động.
Quá trình lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các nội
dung sau:
+ Xác định cương lĩnh của doanh nghiệp: Cương lĩnh của doanh nghiệp là
phương châm hành động mà doanh nghiệp luôn theo đuổi. Cương lĩnh định
hướng hoạt động và mục tiêu của doanh nghiệp.
+ Đề ra nhiệm vụ của doanh nghiệp: Cương lĩnh của doanh nghiệp cần được cụ
thể hoá thành các nhiệm vụ rõ ràng.
+ Kế hoạch phát triển các lĩnh vực kinh doanh: Để lập chiến lược kinh doanh
chung của doanh nghiệp thì cần phải đánh giá hoạt động của từng bộ phận, nhãn
hiệu, chủng loại hàng hoá…Sau đó cần đánh giá nhằm phát hiện khả năng sinh
lời của từng bộ phận, từng chủng loại hàng hoá, từng nhãn hiệu và từng mặt
hàng…Từ đó sẽ có kế hoạch phát triển hay thu hẹp bộ phận, hàng hoá nào đó để
phân bổ nguồn lực cho hợp lý.
Để có được sự đánh giá chính xác cần dựa vào các chỉ tiêu xem xét sau:
+ Qui mô, sự tăng trưởng của thị trường
+ Khả năng cạnh tranh về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp
+ Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
+ Mức độ am hiểu thị trường
+ Mức lợi nhuận thu được từ thị phần đó
Từ những sự xem xét đánh giá trên thì doanh nghiệp có thể phát triển
theo ba hướng như sau:
+ Chiến lược phát triển hợp nhất
+ Chiến lược phát triển theo chiều sâu
+ Chiến lược phát triển theo chiều rộng
Quản lý chiến lược
Quản lý chiến lược được hiểu là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện
tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức. Đề ra, thực hiện và

theo đuổi các mục tiêu đề ra của tổ chức.
+ Ban hành một số chính sách và thủ tục nhằm hỗ trợ chiến lược.
+ Mục đích của quản lý hành chính là cố gắng tạo ra sự gắn kết giữa cách thức
sử dụng với phong cách làm việc để tạo hiệu quả cao.
+ Kiểm tra chiến lược nhằm theo dõi và đánh giá hướng đi hiện tại của tổ chức,
những biến động của môi trường và ảnh hưởng của biến động đó đối với tổ chức.
Như vậy quản lý chiến lược là một quá trình liên tục. Sự biến đổi của
những yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức là động lực cho những điều
chỉnh chiến lược.
Tổ chức quản lý kinh doanh
Việc tổ chức quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp được thể hiện là cơ
cấu tổ chức của doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức là tập hợp các vị trí công tác, các
bộ phận, phân hệ của tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo những tính
quy luật nhất định nhằm thực hiện các hoạt động của tổ chức để đạt được các
mục tiêu và mục đích của tổ chức.
Cơ cấu tổ chức có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp lựa chọn được một cơ cấu tổ chức phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status