LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM - Pdf 66

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
1.1. Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1. Hoạt động cơ bản của NHTM
Sự phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại nói chung
và hệ thống tài chính nói chung gắn liền với lịch sử phát triển của nền
kinh tế sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện đòi
hỏi sự phát triển của ngân hàng và đến lượt sự phát triển của ngân hàng
trở thành động lực phát triển kinh tế. Với hình thức ngân hàng đầu tiên
- ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân hàng của những người cho
vay nặng lãi - thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ yếu là người giàu
nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Cùng với sự phát triển của công
nghệ hoạt động của ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh. Nó là
một loại hình tổ chức quan trọng trong nền kinh tế. Cái tên NHTM là
để nói lên đây là ngân hàng của các nhà kinh doanh thương mại vì nó
vốn dĩ được hình thành trên cơ sở là các nhà kinh doanh trên lĩnh vực
thương mại và quay trở lại phục vụ các nhà kinh doanh thương mại.
Ngân hàng thương mại thực chất là một tổ chức kinh tế kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ, những người làm nghề này còn gọi là
những nhà buôn tiền,. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung là thường xuyên nhận tiền
gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán.
Hiện nay hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại
nói riêng phát triển như vũ bão mô hình ngân hàng đa năng theo hướng
hiện đại hoá với đa dạng hoá các loại hình dịch vụ và các tiện ích góp
phần tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Song các hoạt
động cơ bản của ngân hàng vẫn xoay quanh ba hoạt động chính là huy
động vốn, cho vay và cung cấp dịch vụ.
Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM nó đóng
một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân

đưa tiền cho vay với cam kết khách hàng sẽ trả gốc và lãi trong thời
gian xác định. Cho vay là hoạt động rất quan trọng tạo nên lợi nhuận
lớn cho ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và là hoạt
động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập, hiệu quả kinh
doanh và uy tín của ngân hàng.
Có rất nhiểu tiêu thức để phân loại hoạt động cho vay.
Phân loại theo hình thức cấp tín dụng có thể phân loại thành cho
vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay
luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp...
Căn cứ vào thời gian có thể phân thành
- Cho vay ngắn hạn: khoản vay có thời hạn dưới 1 năm
- Cho vay trung hạn: khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
- Cho vay dài hạn: Khoản vay có thời hạn từ 5 năm trở lên
Căn cứ vào mục đích cho vay có thể phân thành cho vay thương
mại, cho vay tiêu dùng, cho vay theo dự án.
Các khoản cho vay trung và dài hạn chủ yếu để mua sắm thiết bị,
xây dựng cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ...với sự phát triển nhanh
chóng của khoa học và công nghệ, để tồn tại và phát triển nhu cầu vốn
trung và dài hạn ngày càng gia tăng. Các hoạt động đầu tư này thực
hiện thông qua các dự án. Hoạt động đầu tư và dự án có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Đầu tư theo dự án đang trở thành xu hướng phổ biến
trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy có thể nói dự án có một vai trò rất
quan trọng. Dự án là nguồn gốc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật nguồn
lực mới cho sự phát triển, là phương tiện chuyển dịch và phát triển cơ
cấu kinh tế, giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn, về sản phẩm dịch
vụ trên thị trường, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, cải thiện bộ
mặt kinh tế xã hội quốc gia.
1.1.3. Hoạt động cho vay theo dự án của NHTM
Cho vay theo dự án là một xu thế tất yếu hiện nay mà các NHTM
không thể bõ lỡ cơ hội đầu tư hiệu quả này.

tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời
gian xác định.
Với các quan điểm khác nhau có thể có rất nhiều khái niệm khác
nhau về dự án. Song một cách tổng quát nhất dự án được hiểu là một
tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau
nhằm đạt được trong tương lai ý tưởng đã đặt ra với nguồn lực và thời
gian xác định.
Dự án có vai trò rất quan trọng đối với các chủ đầu tư, các nhà
quản lý và tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển kinh tế, xã hội.
Đặc điểm của dự án là :
- Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn hàm ý
hành động với mục tiêu cụ thể.
- Dự án không chỉ là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng
mà phải nhằm đáp ứng một nhu cầu cụ thể đã được đặt ra tạo nên một
thực tế mới.
- Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn. Môi
trường triển khai dự án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố
bất định nên rủi ro trong dự án thường là rất lớn.
- Dự án bị khống chế thời hạn. Là một tập hợp các hoạt động đặc
thù phải có thời hạn kết thúc. Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ
làm mất cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhà đầu
tư và cho nền kinh tế.
- Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực về vốn vật tư và lao
động. Với những dự án càng lớn mức độ ràng buộc càng cao.
1.2.2. Phân loại dự án
Trên thực tế, các dự án rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy mô
và thời hạn và được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
- Theo người khởi xướng: Dự án được phân loại thành dự án cá
nhân; dự án tập thể; dự án quốc gia; dự án quốc tế.
- Theo lĩnh vực dự án: Dự án được phân thành dự án xã hội; dự

Không kể mức
vốn
2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất
độc hại, chất nổ; hạ tầng khu công nghiệp.
Không kể mức
vốn
3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp
điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo
máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng
sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông,
sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu
nhà ở.
Trên 600 tỷ
đồng
4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao
thông (khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công
trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị
thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế,
công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính,
viễn thông.
Trên 400 tỷ
đồng
5 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp
nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo
tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản.
Trên 300 tỷ
đồng
6 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, Trên 200 tỷ
giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng

dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác.
Từ 7 đến 200
tỷ đồng
IV Nhóm C
1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp
điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo
máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng
sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông,
sân bay, đường sắt, đường quốc lộ). Các trường phổ
Dưới 30 tỷ
đồng
thông nằm trong quy hoạch (không kể mức vốn), xây
dựng khu nhà ở.
2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao
thông (khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công
trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị
thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế,
công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính,
viễn thông.
Dưới 20 tỷ
đồng
3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp
nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo
tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản.
Dưới 15 tỷ
đồng
4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá,
giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng
khác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể

thực hiện đầy đủ và nghiêm túc có thể làm giảm thu nhập lớn của ngân
hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như uy tín của ngân
hàng. Rủi ro có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường không chỉ đến
với một ngân hàng riêng lẻ mà còn đến cả hệ thống ngân hàng và cả
nền kinh tế. Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án thể hiện tính khả
thi, an toàn và hợp lý của dự án vì vậy TĐTCDA là một công tác vô
cùng quan trọng. Nó là thẩm định tài chính dự án là một quá trình rà
soát kiểm tra lại một cách khách quan và toàn diện mọi khía cạnh tài
chính của dự án nhằm khẳng định lại tính hiệu quả cũng như tính khả
thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư.
Vai trò của công tác TĐTCDA đối với ngân hàng là rất quan
trọng nó thể hiện ở rất nhiều khía cạnh. Những thông tin đã được kiểm
tra lại sau khi phân tích là căn cứ để ra các quyết định tài trợ đánh giá
tính khả thi, hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ vốn, rủi ro tiềm tàng
của dự án. Đây cũng là cơ sở để người cho vay xác định lãi suất kỳ
hạn, cách thức trả nợ,...thích hợp với khả năng tài chính cả hai bên.
Ngoài ra người cho vay còn có thể phát hiện các khiếm khuyết trong
quá trình lập dự án và kiến nghị với chủ đầu tư để đưa ra những điều
chỉnh phù hợp.
Qua phân tích ở trên ta có thể thấy rằng thẩm định tài chính dự án
là công việc quan trọng nhất và không thể thiếu trong công tác thẩm
định dự án đối với hoạt động cho vay theo dự án của các NHTM.
1.2.4. Nội dung thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho
vay của NHTM
Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt
chẽ đến nhau. Tài chính là một nội dung quan trọng của dự án các chỉ
tiêu hiệu quả tài chính của dự án thể hiện tính khả thi, an toàn và hợp lý
của dự án. Nó cũng thể hiện được hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu
tư vào dự án. Do đó nội dung tài chính của dự án được chủ đầu tư và
đặc biệt là ngân hàng thương mại quan tâm hàng đầu. Công tác thẩm

cố định. Vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng vốn đầu tư cho dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất. Do vậy
cần kiểm soát chặt chẽ bằng cách chi tiết hoá các khoản mục, tham
khảo các dự án cùng loại từng được thực hiện, ý kiến các chuyên gia tư
vấn về xây dựng và công nghệ, giá cả trên thị trường. Các tài sản cố
định được đầu tư có thể là tài sản cố định hữu hình hoặc tài sản cố định
vô hình. Vốn đầu tư vào tài sản cố định bao gồm:
+ Chi phí điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án, chi phí tư
vấn, thiết kế dự án, chi phí đào tạo, huấn luyện, chuyển giao công
nghệ, chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước, chi phí chuẩn bị mặt bằng
xây dựng.
+ Giá trị nhà xưởng hoặc kết cấu hạ tầng sẵn có, chi phí xây dựng
mới hoặc cải tạo nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng.
+ Giá trị máy móc thiết bị, phương tiện vận tải sẵn có, chi phí
mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải mới (gồm cả chi phí vận
chuyển, lắp đặt, chạy thử).
+ Chi phí khác
 Vốn đầu tư vào tài sản lưu động
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động ban đầu (vốn lưu động ban đầu =
vốn lưu động ròng - vốn lưu động thường xuyên) là điều kiện cần thiết
để đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các
điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính, bao gồm:
+ Dự trữ tiền mặt, các khoản phải thu và trả trước
+ Dự trữ hàng hoá: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành
phẩm tồn kho.
Lượng vốn đầu tư vào vốn lưu động ban đầu thường không lớn
sontrắc nghiệm công việc nếu không dự tính huy động nguồn vốn dài
hạn để tài trợ, các dự án sẽ phải huy động nguồn vốn ngắn hạn để tài
trợ và như vậy rất bị động trước khi đến hạn trả.
 Vốn dự phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status