luận văn thạc sĩ truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện yên bình, tỉnh yên bái - Pdf 66

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ THU HÀ

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI
DÂN GIAN HUYỆN YÊN BÌNH,
TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM


THÁI NGUYÊN – 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ THU HÀ

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI
DÂN GIAN HUYỆN YÊN BÌNH,
TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã ngành: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ HUẾ


quý Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được bổ sung hoàn thiện nhằm giúp
cho công tác sưu tầm và bảo tồn kho tàng truyền thuyết và lễ hội dân gian ở huyện Yên
Bình tỉnh Yên Bái cho mai sau.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hà


iii

MỤC LỤC
Trang

Lời cam đoan..........................................................................................................i
Lời cảm ơn............................................................................................................ii
Mục lục.................................................................................................................iii
Danh mục các từ viết tắt........................................................................................v
A. MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề........................................................................................................... 2
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu............................................................................. 7
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu...................................................................... 7
5. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................... 9
6. Cấu trúc của luận văn................................................................................................ 9
7. Những đóng góp của luận văn................................................................................... 9
B. PHẦN NỘI DUNG................................................................................................ 10
Chương 1: YÊN BÌNH, MIỀN ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG
VĂN HÓA.................................................................................................................. 10

PHỤ LỤC


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CTQG

: Chính trị Quốc gia

ĐHSP

: Đại học Sư phạm

ĐH QGHN

: Đại học Quốc gia Hà Nội

KHXH

: Khoa học xã hội

NXB

: Nhà xuất bản

gốc xuất xứ của các di tích. Bên cạnh đó, khi khai thác các nguồn tư liệu thành văn ghi
chép về các truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Yên Bình xưa còn lại rất ít .Thực trạng
này càng thúc giục chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu vốn văn học dân gian, văn hóa dân
gian.
Trước yêu cầu của địa phương muốn được nghiên cứu, giới thiệu và lưu giữ
những truyền thuyết và lễ hội cho thế hệ sau, giúp cho mỗi người dân thêm tự hào và
yêu quý mảnh đất quê hương mình, đồng thời bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cho thế hệ


2

trẻ, người viết lựa chọn đề tài “Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên Bình,
tỉnh Yên Bái” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Là một giáo viên dạy Ngữ văn ở trường trung học phổ thông và là người con
của quê hương Yên Bái, tôi thiết nghĩ việc nghiên cứu về “Truyền thuyết và lễ hội
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái” là cơ hội để người viết tích lũy thêm kiến thức về kho
tàng truyền thuyết đồng thời giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về truyền
thuyết nói riêng, văn học dân gian Yên Bái nói chung. Đặc biệt nó rất hữu ích trong
việc liên hệ thực tế trong giảng dạy phần văn học dân gian. Đó là cơ sở giúp học sinh
thấy được sự phong phú và giá trị của truyền thuyết và lễ hội từ đó nâng cao lòng tự
hào về truyền thống quý báu của dân tộc, khơi dậy cho các em ý thức về việc giữ gìn,
bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc.
Hoàn thành tốt luận văn với đề tài ―Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái” là niềm tri ân của tôi đối với quê hương và cũng là dịp để tôi
vận dụng nâng cao kiến thức đã học và thực tế phục vụ cho công việc giảng dạy ở địa
phương sau này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội ở nước ta
Truyền thuyết ở nước ta có từ khá sớm và từ lâu đã được ghi chép thành văn
bản. Ở thời kỳ Bắc thuộc, các tác giả người phương Bắc đã ghi chép truyền thuyết thời

thấy rằng: một cách không tự giác, ông đã hoà nhập vào việc sử thuật ngữ của giới
Folklore học trong đó có liên quan đến văn học dân gian.
Tác giả Chu Xuân Diên cùng đồng nhất với Đinh Gia Khánh ở quan điểm
không công nhận truyền thuyết như là một thể loại văn học dân gian mà đề nghị nên
xếp vào sử học. Truyền thuyết là một trong những thể loại tự sự dân gian "có quan hệ
gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích" [15].
Cần khẳng định rằng: những ý kiến trên chỉ là số ít, còn đại đa số các nhà
nghiên cứu đều thừa nhận quan điểm thứ hai coi truyền thuyết là một thể loại riêng
biệt của Văn học dân gian, đồng thời chỉ ra được đặc trưng nội dung và thi pháp nghệ
thuật của nó. Có thể kể đến như:
Cuộc tranh luận sôi nổi về những vấn đề xung quanh Truyền thuyết Mị Châu
– Trọng Thủy trên tạp chí Nghiên cứu văn học từ 1960 đến 1965 đã đi đến sự thống
nhất của rất nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian về sự có mặt của thể loại truyền
thuyết.


4

Nghiên cứu về thần loại và truyền thuyết, tác giả Đỗ Bình Trị đã khẳng định
truyền thuyết là một thể loại và đưa ra định nghĩa như sau: ―Truyền thuyết là những
truyện có dính lứu dến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu là lịch sử hoang đường, hoặc là
những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử‖ [73, tr 60,61]
Năm 1971, trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân
gian Việt Nam tập trung nhiều bài nghiên cứu về truyền thuyết của các tác giả như
Nguyễn Ngọc Côn, Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia Khánh và Kiều Thu Hoạch….
Trong đó, đáng chú ý là bài ―Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến” của
tác giả Kiều Thu Hoạch [31] đã tổng hợp và chỉ ra những đặc điểm cơ bản của thể loại
truyền thuyết với các đặc tính: tính hư cấu lịch sử, tính cố định cụ thể, tính hư ảo, thần
kì và các mô típ khi xây dựng cốt truyện: mô típ sinh nở thần kì, mô típ chiến công phi
thường, mô típ hóa thân.

các nhà nghiên cứu nói trên, từ đó làm cơ sở áp dụng cho việc nghiên cứu đề tài luận văn
của mình về ―Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”.

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thuyết và các phong tục, lễ hội dân
gian, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra một cách lý giải rất sâu sắc về bản chất đặc
trưng của thể loại này: ―Một đặc điểm của truyền thuyết anh hùng chống xâm lược
của ta là thường gắn liền với các cuộc hội mùa và nghi lễ tế thần ở các đình chùa, đền
miếu‖, ―Có thể nói rằng hội lễ là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được của
truyền thuyết anh hùng Việt Nam. Chính nhờ những hội lễ như vậy mà truyền thuyết
anh hùng có dịp nhắc nhở và đi sâu vào ký ức của nhân dân. [74, tr 63].
Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương đăng bài “Tìm hiểu quan hệ giữa
thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng phong tục” trên Tạp chí Văn học. Trong bài viết
này, tác giả quan niệm diễn xướng là một bộ phận của hội làng. Quan hệ giữa thần thoại,
truyền thuyết và diễn xướng giống như quan hệ giữa tích và trò. Tác giả đã phân loại các
hình thức diễn xướng tín ngưỡng đa dạng thành ba nhóm chính: diễn xướng canh tác sản
xuất và tín ngưỡng phồn thực, diễn xướng sinh hoạt văn hóa phong tục, diễn xướng lịch
sử. Cuối cùng, tác giả khẳng định: ―Diễn xướng tín ngưỡng hội làng còn là một phương
tiện bảo lưu thần thoại, truyền thuyết có hiệu lực‖ [80, tr 98 - 107].
Năm 1996, trong công trình Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về
các anh hùng, Lê Văn Kì đã chỉ ra rằng trong quá trình lịch sử của dân tộc, nhiều hội lễ
cầu mùa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã dần được bổ sung thêm lớp ý nghĩa ca
ngợi các anh hùng chống ngoại xâm, ―Truyền thuyết và hội lễ cùng phản ánh


6

nhiều nhân vật, nhiều sự kiện lịch sử‖ [35, tr 70]. Đồng quan điểm trên các tác giả
Đặng Văn Lung [43], Nguyễn Thị Bích Hà [24] cũng chỉ ra rằng giữa truyền thuyết và
lễ hội có mối quan hệ mật thiết, gắn bó, hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
2.2. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội ở Yên Bái

Bình, Yên Bái” [11] nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học. Đa số các lễ hội lớn tại Yên
Bình và Yên Bái được giới thiệu trên các tờ báo địa phương hoặc được giới thiệu trên
các trang mạng truyền thông với mục đích quảng bá du lịch.
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách toàn
diện truyền thuyết và lễ hội ở Yên Bái nói chung cũng như truyền thuyết và lễ hội của
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nói riêng. Với ý thức giữ gìn những di sản quí giá của
nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái, góp phần tìm hiểu những giá trị văn hóa, lịch sử,
dân tộc, chúng tôi nhận thấy đề tài "Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái” là một đề tài có tính khả thi và có giá trị cao.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 . Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là tập trung tìm hiểu, khảo sát, phân
tích, phân loại và nghiên cứu, giới thiệu về truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái .
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Điền dã, sưu tầm tập hợp một cách có hệ thống các truyền thuyết và lễ hội dân
gian các dân tộc của huyện Yên Bình.
- Đi sâu giới thiệu và mô tả một số truyền thuyết và lễ hội của huyện Yên Bình,
đặc biệt tiêu biểu có truyền thuyết và lễ hội đền Thác Bà với nét độc đáo và sức lan tỏa
của nó trong đời sống tinh thần người dân địa phương.
- Từ đó cho thấy mảnh đất Yên Bình là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, văn
học dân gian.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn là công trình khoa học đi sâu nghiên cứu khảo sát, mô tả một cách
hệ thống một số truyền thuyết và lễ hội tiêu biểu của các dân tộc vùng đất Yên Bình
trong đó có truyền thuyết và lễ hội đền Thác Bà.


8

9

5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề: Truyền thuyết và lễ hội dân gian các
dân tộc huyện Yên Bình, trong đó tập trung giới thiệu một lễ hội lớn, tiêu biểu của Yên
Bình là truyền thuyết và lễ hội đền mẫu Thác Bà .
Luận văn nghiên cứu ở một không gian cụ thể là vùng đất Yên Bình và đền mẫu
Thác Bà thuộc thị trấn Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái .
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày trong
3 chương:
Chương 1: Yên Bình, miền đất, con người và truyền thống văn hóa
Chương 2: Hệ thống truyền thuyết huyện Yên Bình
Chương 3: Lễ hội dân gian các dân tộc huyện Yên Bình
7. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên đi sâu nghiên cứu khảo sát, mô tả một
cách chi tiết, hệ thống, truyền thuyết và lễ hội vùng Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
Lần đầu tiên những thành tựu lý luận khoa học của chuyên ngành Văn học dân
gian đã được vận dụng vào việc nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội vùng Yên Bình và
lễ hội đền Thác Bà
Tác giả luận văn muốn khẳng định vị trí quan trọng của truyền thuyết và lễ hội
huyện Yên Bình, trong đó có truyền thuyết và lễ hội đền mẫu Thác Bà trong đời sống
tinh thần của người dân Yên Bình nói riêng và người dân Yên Bái nói chung, từ đó
người viết mong muốn được góp phần gìn giữ và giới thiệu vốn văn hoá của địa
phương mình.


10

B. PHẦN NỘI DUNG


Địa hình của huyện Yên Bình khá phức tạp, với đặc điểm địa hình chuyển tiếp từ
Trung du lên miền núi, địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc được tạo bởi hai
dãy núi: Cao Biền nằm phía tả ngạn sông Chảy (phía Đông hồ Thác Bà) và Con Voi
nằm phía hữu ngạn sông Chảy( phía Tây hồ Thác Bà ).
Đặc trưng khí hậu của Yên Bình là nhiệt đới gió mùa (nóng, ẩm, thay đổi trong
nhiều mùa). Bên cạnh những thuận lợi lớn làm cho các giống, loài phát triển nhanh
chóng và phong phú, tạo nên tính đa dạng sinh học trong vùng địa phương còn gánh
chịu nhiều hậu quả do đặc điểm thời tiết gây ra. Mùa đông, nhiều đợt rét buốt tràn về,
gây ra sương muối tác hại cho cây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Mùa hè, tuy
bão tố không ảnh hưởng nhưng gió lốc thường xuất hiện, phá mùa màng và nhà cửa.
Chế độ thuỷ văn của Yên Bình đặc biệt phong phú nhờ có sông Chảy, hồ Thác
Bà cùng hệ thống sông suối dày đặc. Sông Chảy là một phụ lưu lớn của sông Lô - còn
gọi là Trôi Thuỷ hoặc sông Đạo Ngạn, hàng năm sông Chảy vận chuyển 5,3 tỷ m

3

nước từ Minh Chuẩn ( Lục Yên) qua hồ Thác Bà tới Hán Đà với nhiều ghềnh thác tạo
nguồn thuỷ văn lớn.
Hồ Thác Bà có diện tích 23.400ha, trong đó mặt nước chiếm tới 19.000ha, còn
lại 1.331 hòn đảo lớn nhỏ, chiều dài của hồ là 80 km, chiều rộng từ 5-15km, sâu từ 1534m, chứa được 3-3,9 tỷ mét khối nước. Ngoài sông Chảy, còn có hệ thống suối ngòi
lớn nhỏ đổ vào hồ như ngòi Hành, ngòi Tráng, ngòi Bích Đà, ngòi Lòi, ngòi Dầu, ngòi
Cát, ngòi Úc, ngòi Biệc… chứa lượng phù sa và thức ăn cho thủy sinh vật phát triển.
Hồ có 130 loài cá tự nhiên có giá trị kinh tế cao (trôi, chép, măng, ngão, quả, vền,
nhưng, ngạnh, chiên, lăng, quất, bống tượng…) tạo nguồn đặc sản xuất khẩu (ba ba, trê
phi, trê lai, lươn, ếch). Hơn thế nữa, hồ Thác Bà có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ
0

và cải tạo môi trường, làm giảm nhiệt độ mùa hè xuống 1-20 C, tăng độ ẩm tuyệt đối
mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1.700mm, tạo điều kiện cho thảm thực vật xanh tốt

hây ngõ hạnh tường đào ra nơi thành thị, ô dù ngựa xe dong đường thiên lý, đủng đỉnh
túi thơ, bầu rượu, khắp nơi ca xướng thái bình‖. Nói về thời kỳ này sách Đại nam nhất
thống chí đã ghi nhận: "Phố Đại Đồng người đông hàng nhiều, buôn bán tấp nập, gạo
trắng nước trong, cũng là nơi đô hội".
Trong ký ức dân gian cũng lưu lại bóng dáng của Yên Bình ngày xưa:


13

-“Nhiều tiền chợ Ngọc chợ Ngà
Ít tiền lơ lửng Thác Bà, Thác Ông”.
-“Muốn ăn gạo trắng nước trong
Thì lên phố Cát Đại Đồng cùng anh”.
-“Nhiều tiền thì buôn sông Cả
Ít tiền buôn ngả sông Thao
Chẳng có đồng nào thì về sông Chảy…”
Một thế mạnh nữa của Yên Bình là người dân địa phương có truyền thống cách
mạng, yêu nước, cần cù lao động và ham học hỏi. Nhân dân Yên Bình luôn một lòng
theo Đảng, nhờ vậy đây là địa phương luôn giữ vững ổn định chính trị, kinh tế xã hội.
1.1.3. Đặc điểm dân số, văn hóa và tôn giáo, tín ngưỡng
Yên Bình có dân số là 107.398 người, lực lượng lao động xã hội 45.037 người,
trong đó lực lượng lao động nông thôn chiếm 76,5%. Trên địa bàn huyện có 5 dân tộc
chính là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan (Sán Chay) sống xen kẽ với nhau từ lâu đời.
2

Mật độ dân cư bình quân toàn huyện là 139 người dân/km , nhìn chung sự phân bố
dân cư không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các xã hạ huyện và thị trấn huyện lỵ, riêng
2

xã vùng cao Xuân Long chỉ có 49,1 người/km . Đồng bào các dân tộc trong huyện

trú ở 8 xã trong huyện, thành thạo trồng lúa nước mặc dù kinh tế nương rẫy vẫn chiếm
vị trí quan trọng đối với họ. Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ
Nam Á). Họ có trang phục đặc trưng: Phụ nữ mặc váy chàm dài ngang bụng chân, áo
chàm dài ngang váy, chân cuốn xà cạp màu trắng. Nam giới thời xưa búi tóc, đội khăn
xếp màu chàm, có thêu hoa văn, mặc áo chàm dài hoặc ngắn, mặc quần thụng màu nâu
hoặc trắng.
Người Cao Lan ở nhà sàn có bốn mái, có sàn trong và sàn phơi. Nhà có ba đến
năm gian. Gian giữa đặt bàn thời tổ tiên, hai gian cạnh là nơi ngủ nghỉ. Gian trái đầu
nhà là nơi đặt bàn thờ hương hỏa (Thần Bảo gia dòng họ). Gian trái cuối bếp là nơi
bếp núc; buồng con gái, con dâu, cầu thang cũng được bắc ở gian này.
Người Nùng chiếm gần 3% di cư từ vùng Văn Nam - Trung Quốc đến địa
phương khoảng 200 - 300 năm trước, ngoài lúa nước và nương rẫy họ còn trồng bông,
trồng chàm, kéo sợi, dệt vải, rèn đúc, đan lát và làm đồ mộc. Ngoài ra, ở Yên Bình còn
có một số thành phần dân tộc ít người khác cùng sinh sống.
Cư dân trên đất Yên Bình chịu ảnh hưởng của các loại tôn giáo sớm muộn có
khác nhau. Đạo Phật có ảnh hưởng mạnh tới địa phương sớm nhất vào thời Trần. Đến


15

thế kỷ XVII, khi Vũ Văn Mật mở trường dạy học và lập văn chỉ ở Đại Đồng thì đạo
Khổng mới bắt đầu tràn vào Yên Bình. Người Tày thờ Khổng Tử tại bàn thờ tổ tiên
cùng Phật bà Quan âm trong nhà hoặc xây dựng các điện phật trên đỉnh đèo có bóng
cây râm mát, tĩnh mịch. Người Dao rất tôn sùng đạo Lão. Đạo Thiên Chúa đặt chân
đến Yên Bình từ năm 1647 khi Linh mục Gabral lập nhà thờ ở Đại Đồng. Trải qua một
quá trình khá dài, giáo xứ Yên Bình đã lập nên xứ đạo Vật Lẩm có 22 họ giáo và xứ
đạo Đồng Lạng có 6 họ giáo. Hiện tại, đạo Thiên Chúa tập trung ở một số xã hạ huyện
và dọc quốc lộ 70.
Về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Người dân huyện Yên Bình cũng như các làng
quê khác đều thờ cúng tổ tiên các vị thần linh có công với dân với nước. Việc lập bàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status