Luận văn Thạc sĩ Truyền thống và cách tân trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trước 1945 - Pdf 41

1
Header Page 1 of 89.

Mục lục

MỞ ĐẦU

1

Chƣơng 1: Tiểu thuyết Việt Nam trong tiến trình hiện đại

10

hóa văn học dân tộc 1900-1945
1.1. Vấn đề hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

10

1.2. Tiểu thuyết Việt Nam 1900-1945 trong tiến trình hiện đại

16

hóa văn học dân tộc
1.3. Đóng góp của Hồ Biểu Chánh đối với nền tiểu thuyết Việt

32

Nam hiện đại
Chƣơng 2: Truyền thống và cách tân trong tiểu thuyết Hồ

38


3.4. Mô phỏng tác phẩm văn học nước ngoài

113

Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục
1. ảnh chân dung Hồ Biểu Chánh
2. Một số ký họa về Sài Gòn đầu thế kỷ XX, thời kỳ sống của
các nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
3. Danh mục tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Footer Page 1 of 89.

129
131


2
Header Page 2 of 89.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ. Ông sáng tác trên
nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ, truyện thơ, ký…, trong
đó, tiểu thuyết là thể loại mà nhà văn đạt được nhiều thành công hơn cả. Hồ
Biểu Chánh được xem là một trong những người mở đường và có những đóng
góp nhất định cho sự hình thành nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận riêng nhằm khám phá
các giá trị của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Thế nhưng, việc làm này vẫn chưa

2. Lịch sử vấn đề
2.1. Thời kỳ trước năm 1945
Tiểu thuyết chữ quốc ngữ xuất hiện trước tiên ở Nam Bộ ngay từ những
năm cuối thế kỷ XIX và phát triển khá mạnh vào những năm đầu thế kỷ XX
nhưng chưa được giới nghiên cứu văn học quan tâm nhiều. Thời kỳ này có
một số công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam đáng chú ý: Phê bình và
cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Ba mươi năm văn học (1941) của Mộc Khuê,
Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1944)
của Dương Quảng Hàm. Trong các công trình trên, chỉ có hai tác giả bàn đến
Hồ Biểu Chánh là Thiếu Sơn và Vũ Ngọc Phan.
Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận với lối viết phê bình truyền
thống và cách phân tích tổng hợp, khái quát của văn chính luận phương Tây
đã kịp thời biểu dương, khích lệ những thành công cũng như những cái mới
về tư tưởng và nghệ thuật của một số tác gia đầu thế kỷ. Thiếu Sơn đã có một
thái độ trân trọng đặc biệt và đề cao công trạng của Hồ Biểu Chánh đối với sự
phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ông có những nhận xét tinh tế
về cách xây dựng nhân vật của Hồ Biểu Chánh. Thiếu Sơn cho rằng tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh thuộc phái “chiết trung”, phù hợp với thị hiếu của
nhiều loại độc giả trong giai đoạn đầu của công cuộc hiện đại hóa văn học dân
tộc. Theo ông, Hồ Biểu Chánh là người “có công với văn học nước nhà, nói
riêng về lối văn tiểu thuyết”.
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã khái quát, phân loại một đội
ngũ sáng tác và một hệ thống tác phẩm phức tạp của bộ phận văn học Việt
Nam viết bằng chữ quốc ngữ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Với
cách viết sắc sảo, khen chê có căn cứ, có lý, có tình khi đi sâu phân tích tác
Footer Page 3 of 89.


4
Header Page 4 of 89.



5
Header Page 5 of 89.

Năm 1962, trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập IV, Nguyễn
Đình Chú đã dành hẳn một chương để giới thiệu về Hồ Biểu Chánh. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ một giáo trình giảng dạy ở đại học, Nguyễn Đình Chú
mới chỉ đưa ra những nhận xét khá thận trọng và dè dặt về sáng tác của Hồ
Biểu Chánh. Năm 1965, Phạm Thế Ngũ cho xuất bản công trình Việt Nam văn
học sử giản ước tân biên. Ở tập III, phần Văn học Việt Nam hiện đại 18621945, ông dành hẳn chương V để viết về sự hình thành của tiểu thuyết mới,
trong đó khi đánh giá về tiểu thuyết miền Nam, tác giả đi sâu nghiên cứu về
Hồ Biểu Chánh. Sau khi điểm qua nội dung một số tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh, Phạm Thế Ngũ đi vào phân tích kỹ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn.
Theo ông, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có cốt truyện gay cấn, ly kỳ, hấp
dẫn; cách thuật truyện chơn chất; câu văn giản dị, ngắn gọn. Phạm Thế Ngũ
cho rằng tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã ghi lại được bức tranh xã hội
đương thời và đi đến khẳng định Hồ Biểu Chánh là nhà văn đạo lý.
Năm 1967, Thanh Lãng với Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Bùi Đức
Tịnh với Văn học sử Việt Nam đã nhắc đến tác giả Hồ Biểu Chánh và đưa ra
những nhận định có giá trị về sáng tác của nhà văn. Đặc biệt, tạp chí Văn, số
80, ngày 15/04/1967, đã dành hẳn một số đặc biệt viết về Hồ Biểu Chánh để
đánh giá những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của tiểu thuyết
quốc ngữ ở thời kỳ đầu phôi thai. Năm 1968, Huỳnh Phan Anh viết bài Ghi
nhận về Hồ Biểu Chánh in trong Văn chương và kinh nghiệm hư vô đã khẳng
định Hồ Biểu Chánh là nhà văn kể chuyện đời khá tiêu biểu trong số các cây
bút viết tiểu thuyết ở Nam Bộ.
Năm 1974, Nguyễn Khuê cho xuất bản công trình Chân dung Hồ Biểu
Chánh. Đây là tập khảo cứu khá công phu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ
Biểu Chánh. Tác giả đi sâu phân tích những hoạt động báo chí, cũng như giới

bày duy nhất một mục từ về tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX là Hồ Biểu
Chánh. Nguyễn Huệ Chi đã tìm hiểu đóng góp của Hồ Biểu Chánh đối với sự
hình thành thể loại tiểu thuyết hiện đại trên ba phương diện: nội dung đề tài,
xây dựng nhân vật và kết cấu ngôn ngữ. Qua đó, tác giả kết luận Hồ Biểu
Chánh đã góp phần chuẩn bị cho sự hình thành chủ nghĩa hiện thực phê phán
trong văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945.
Hai tác giả Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng trong giáo trình Văn học
Việt Nam 1900-1930 (1988) khẳng định Hồ Biểu Chánh là người viết tiểu
thuyết nhiều nhất ở Việt Nam trước 1930. Hồ Biểu Chánh đã vượt các nhà
Footer Page 6 of 89.


7
Header Page 7 of 89.

văn cùng thời về sự bề bộn của cuộc sống và sự đông đúc, đa dạng của thế
giới nhân vật. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng của truyện thơ
Nôm và tiểu thuyết Pháp, tiểu thuyết Trung Quốc. Trong sáng tác của ông nổi
rõ con người và cảnh sắc Nam Kỳ, có ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói của
đời thường, có những chỗ gặp gỡ với niềm tin của người đời vào quả báo, vào
sự ở hiền gặp lành.
Năm 1988, Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp trong sơ thảo Văn
học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX, sau khi khảo sát một số tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh đã đưa ra nhận xét khái quát: “Nói chung tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh có khuynh hướng luân lý, hầu hết các truyện của ông đều dẫn
đến một kết cục có hậu, thiện bao giờ cũng thắng ác, nhằm mục đích răn đời.
Ông lên án những kẻ giàu sang cậy thế lực ức hiếp người nghèo khổ, phụ tình
bạc nghĩa, ca ngợi lòng thương người, sự rộng lượng, sự tu thân lập chí, sự
hiếu hạnh, sự cải tà quy chánh của con người. Về văn chương ông dùng một
lối văn bình dị, tự nhiên, có khi trơn tuột như lời nói thường, nhưng cũng có

Hồ Biểu Chánh (Nguyễn Thanh Liêm), Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết Tiền
bạc bạc tiền (Phạm Ngọc Lan), Les Misérables của Victor Hugo và Ngọn cỏ
gió đùa (Nguyễn Văn Trung)… Tìm hiểu ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh: Một vài suy nghĩ về ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (Cù
Đình Tú), Ngôn ngữ của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh (Nguyễn Vy Khanh), Ghi
nhận về Hồ Biểu Chánh (Huỳnh Phan Anh), Vài nét về phong cách ngôn ngữ
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh (Huỳnh Thị Lan Phương, Nguyễn Văn Nở)…
Những vấn đề khác: Từ những ảnh hưởng của thể loại truyện Nôm đến những
cách tân theo hướng hiện đại của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh ở thời kỳ đầu
(Đinh Trí Dũng), Con đường đến với tiểu thuyết hiện đại của hai nhà văn tiên
phong Nam Bộ (Võ Văn Nhơn), Tiểu thuyết xuất hiện tại Nam Kỳ (J.C.
Shaffer, Thế Uyên), Sài Gòn xưa dưới ngòi bút nhà văn Hồ Biểu Chánh (Trần
Vĩnh An), Xã hội văn hóa Việt Nam trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
(Nguyễn Thanh Liêm), Cuộc sống ở nông thôn Nam Bộ trong một số tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh (Huỳnh Thị Lan Phương), Vấn đề hiện thực trong
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (Huỳnh Thị Lan Phương), Hội thảo khoa học
về Hồ Biểu Chánh (Hoài Anh)… Những bài viết trên đã đi sâu tìm hiểu, phân
tích, khám phá, lý giải, đánh giá những giá trị của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh,
qua đó, các tác giả chỉ ra những đóng góp quan trọng của nhà văn đối với sự
hình thành và phát triển nền tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Footer Page 8 of 89.


9
Header Page 9 of 89.

Trên đây, chúng tôi đã trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu thân
thế và sự nghiệp văn học của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Từ thực tế nghiên cứu
này, có thể thấy việc nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã được quam
tâm nhưng chưa đầy đủ. Một số công trình, bài viết chỉ dừng lại ở mức độ đưa

Lần đầu tiên đi sâu phân tích, lý giải sự kế thừa truyền thống và những
cách tân trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, từ đó chỉ ra đóng góp của nhà văn
Hồ Biểu Chánh cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại trước 1945.

6. Cấu trúc luận văn
Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở
đầu và phần Kết luận, nội dung của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa văn học
dân tộc 1900-1945.
Chương 2: Truyền thống và cách tân trong tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh trước 1945 về phương diện nội dung.
Chương 3: Truyền thống và cách tân trong tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh trước 1945 về phương diện nghệ thuật.
Sau cùng là thư mục Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục.

Footer Page 10 of 89.


11
Header Page 11 of 89.

Chƣơng 1
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TRONG
TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC DÂN TỘC 1900-1945
1.1. Vấn đề hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
1.1.1. Hiện đại hóa văn học Việt Nam là một yêu cầu tất yếu khách
quan
Văn học là một hiện tượng xã hội-thẩm mỹ được hình thành và tồn tại
trong đời sống xã hội và là sản phẩm của các điều kiện chính trị, kinh tế, văn
hóa nhất định. Sự phát triển của văn học chịu sự chi phối của thời đại, và

Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du… đã thể hiện điều đó. Tuy nhiên, do
thiếu những cơ sở tư tưởng xã hội và văn hóa cần thiết mà họ chưa tạo ra
được một cuộc cách tân hiện đại văn hóa văn học.
Trước thế kỷ XX, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn
học Trung Quốc, lực lượng sáng tác của văn học viết thời trung đại chủ yếu là
nhà nho, trí thức phong kiến. Họ chịu sự chi phối của hệ tư tưởng Nho-PhậtLão. Quan niệm sáng tác phổ biến của nhà Nho là “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ
ngôn chí”. Văn học trung đại Việt Nam tuy là sản phẩm của những cá nhân
riêng lẻ nhưng vẫn mang một đặc trưng chung, bởi nó chịu sự chi phối của
một phương thức tư duy nghệ thuật chung, thể hiện qua một số yếu tố: ngôn
ngữ, thể loại, kết cấu, nhân vật.
Đầu thế kỷ XX, nền văn hóa phương Tây du nhập đến Việt Nam, đời
sống văn hóa, tư tưởng của người Việt có sự thay đổi. Quá trình hiện đại hóa
văn học Việt Nam gắn liền với quá trình giao tiếp với văn hóa, văn học
phương Tây. Nhà Nho không còn là lực lượng sáng tác chính. Bên cạnh họ
xuất hiện một lực lượng sáng tác mới. Đó là những trí thức Tây học được đào
tạo từ các trường Pháp-Việt. Phần lớn trong số họ khởi đầu sự nghiệp từ hoạt
Footer Page 12 of 89.


13
Header Page 13 of 89.

động báo chí rồi sau đó mới chuyển sang viết truyện ngắn, kịch. Nhìn chung,
họ là những người mạnh dạn đến với cái mới. Quan niệm sáng tác cũng có
những đổi mới. Người sáng tác có nhu cầu phá bỏ cái quy phạm cũ. Một số
người thuộc lực lượng trí thức tân học đã chọn con đường học theo phương
Tây để sáng tác. Họ bắt đầu từ công việc dịch thuật, qua phóng tác và cuối
cùng là sáng tác. Những thay đổi nói trên là một quy luật tất yếu khách quan
của quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Đây được xem như là một cuộc
cách mạng đưa văn học Việt Nam từ văn học trung đại phong kiến mang tính

truyền bá văn chương sôi nổi, khẩn trương, thúc đẩy sự phát triển của báo chí.
Báo chí là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, một phương tiện thông
tin đại chúng hiện đại được đưa vào Việt Nam cùng với quá trình chinh phục
nước ta của Pháp. Hầu hết báo chí thời kỳ đầu đều có tính chất công báo hoặc
bán công báo, chủ yếu để phổ biến tin tức, truyền đạt mệnh lệnh của thực dân
Pháp, ảnh hưởng trên phạm vi nhỏ hẹp. Sang đầu thế kỷ XX, báo chí đã phát
triển về số lượng và chất lượng. Tính đến năm 1929, ở Việt Nam có 150 loại
báo được in bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ. Các tờ báo tiêu biểu là: Nông cổ
mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Đại Việt tân báo, Đăng cổ tùng báo, Đông Dương
tạp chí, Nam phong tạp chí, An Nam tạp chí, Phụ nữ tân văn, Trung Bắc tân
văn, Hà thành ngọ báo… Báo chí được ví như “bà đỡ” cho sáng tác văn học.
Phần lớn các tác phẩm văn học trước khi in thành sách đã được công bố trên
báo và tạp chí. Báo chí góp phần đổi mới câu văn tiếng Việt, là nơi lưu giữ
những di tích của quá trình hình thành văn học Việt Nam hiện đại. Những
luồng tư tưởng, những quan niệm khác nhau về hàng loạt vấn đề của văn học
và hiện đại hóa văn học đã được các tác giả trình bày trên báo chí.
Văn học đi vào hiện đại hóa thì vấn đề dịch thuật có ý nghĩa rất đặc
biệt. Dịch thuật cung cấp cho người viết những kiến thức mới về văn học cổ
kim phương Đông và phương Tây, những trào lưu văn học, nhất là của văn
học Pháp. Qua đó, các nhà văn đã thay đổi cách cảm, cách nghĩ, học tập
những kiểu, loại mới dựa vào những mô típ, chủ đề, cốt truyện có sẵn để sáng
tác. Một số nhà văn khởi đầu sự nghiệp là dịch thuật, qua tiếp thu văn học
nước ngoài mà tìm hướng đi mới cho sáng tác. Dịch thuật làm thay đổi dần thị
hiếu thẩm mỹ của độc giả, giúp người đọc thích nghi với những tác phẩm bản
địa đang trong quá trình hiện đại hóa cả về nội dung và hình thức. Việc phiên
dịch buộc nhà văn vay mượn, sáng tạo để làm cho tiếng Việt thêm phong phú.
Đi đầu trong việc dịch thuật, giới thiệu văn học phương Tây là tờ Đông
Dương tạp chí, Nam phong tạp chí và tủ sách Âu Tây tư tưởng…
Footer Page 14 of 89.


thác cho một vài cá nhân kiệt xuất hay cho một thế hệ nào đó. Nó phải được
thúc đẩy bởi công sức của rất nhiều người trong một cuộc chạy tiếp sức khẩn
Footer Page 15 of 89.


16
Header Page 16 of 89.

trương, bền bỉ. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX
đến 1945 có thể chia làm ba chặng đường kế tiếp nhau.
Chặng thứ nhất bắt đầu từ đầu thế kỷ XX đến khoảng 1920. Ở giai đoạn
này, văn học đã đổi mới về nội dung. Các vấn đề thuộc về ý thức hệ, lý tưởng
chính trị-xã hội… là những vấn đề mà chúng ta có thể nhận thấy dễ dàng. Về
mặt nghệ thuật, chặng đường này chưa có những đổi mới đáng kể. Tiêu biểu
nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng. Còn nhiều tác phẩm thể hiện những
vấn đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật cũ. Chẳng hạn, Phan
Bội Châu khi sáng tác văn học đã huy động mọi thể loại văn học, từ các thể
loại bác học đến các thể loại bình dân như truyện ký danh nhân, tiểu thuyết
chương hồi, thơ, phú, tuồng… để tuyên truyền cổ động cứu nước. Nhìn
chung, đội ngũ nhà văn, nhà thơ còn ít dùng chữ quốc ngữ để sáng tác, chưa
bỏ được lối văn biền ngẫu. Thơ vẫn là một thể loại được ưa chuộng; ngôn ngữ
còn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy. Sự đổi mới văn học ở giai đoạn này trên
phương diện nghệ thuật chủ yếu gắn liền với văn học Nam Bộ với những sáng
tác văn xuôi quốc ngữ của hàng loạt cây bút như Trần Chánh Chiếu, Trương
Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng
Mưu… Song nhìn toàn bộ nền văn học nước nhà thì dòng chủ lưu vẫn gắn với
tên tuổi của những cây bút trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa
Thục, có thể kể đến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng, Ngô Đức Kế, Nguyễn Thượng Hiền… Đây là lớp trí thức đã giác ngộ
lý tưởng cách mạng du nhập từ phương Tây nhờ các sách Tân Thư của Trung

tiểu thuyết, phải kể đến sự xuất hiện của nhóm Tự lực văn đoàn với những
tiểu thuyết thật sự hiện đại. Bên cạnh đó là các sáng tác của nhiều nhà văn
hiện thực phê phán như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố. Truyện
ngắn có nhiều thành tựu đáng chú ý với tác phẩm của Nguyễn Công Hoan,
Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… Các thể loại khác như phóng sự, bút
ký, tùy bút, kịch… cũng đạt được những bước tiến đáng kể. Về thơ, phong
trào Thơ mới được khởi xướng từ năm 1932 đã đóng vai trò quyết định trong
công cuộc hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Cá tính sáng tạo của nghệ sỹ được
giải phóng, hàng loạt cây bút tài năng đã xuất hiện với nhiều màu sắc khác
nhau: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… Mảng thơ ca cách mạng
với các sáng tác của Tố Hữu, Sóng Hồng, Hồ Chí Minh… cũng có nhiều đóng
góp vào nền thơ ca dân tộc cả về tư tưởng và nghệ thuật.
Như vậy, có thể khẳng định văn học Việt Nam 1900-1945 đã thu được
những thành quả quan trọng, tạo cơ sở vững chắc cho văn học Việt Nam phát
Footer Page 17 of 89.


18
Header Page 18 of 89.

triển rực rỡ ở những thời kỳ sau đó. Nó đã đóng góp tích cực vào công cuộc
hiện đại hóa văn học bằng sự đổi mới thi pháp văn học từ phạm trù trung đại
sang phạm trù hiện đại. Công cuộc hiện đại hóa văn học giai đoạn này đã đưa
văn học Việt Nam đi vào quỹ đạo của văn học thế giới.
1.2. Tiểu thuyết Việt Nam 1900-1945 trong tiến trình hiện đại hóa
văn học dân tộc
1.2.1. Khái niệm tiểu thuyết
Đưa ra một định nghĩa có tính chất phổ quát đối với thể loại tiểu thuyết
là một điều rất khó. Các nhà nghiên cứu văn học, nhà văn đã trình bày rất
nhiều cách hiểu về thể loại này. Mỗi định nghĩa được đưa ra chỉ phù hợp với

XX, các nhà văn thường không phân biệt rạch ròi giữa truyện ngắn, truyện dài
và truyện vừa. Chẳng hạn Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản
chỉ dài 32 trang nhưng nhiều nhà văn thời kỳ này đều xem là tiểu thuyết.
Những tác phẩm của Phú Đức, Trương Duy Toản, Trần Thiên Trung, Nguyễn
Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh dung lượng chỉ đủ mức truyện
vừa nhưng vẫn được gọi là tiểu thuyết. Cá biệt, tác phẩm Người đờn bà nguy
hiểm (1925) của Nguyễn Văn Kiểm chỉ là một truyện ngắn 8 trang song tác
giả lại ghi là tiểu thuyết. Do vậy, khái niệm tiểu thuyết trong thời kỳ đầu của
sự hình thành thể loại cần được hiểu một cách tương đối mềm dẻo và uyển
chuyển, theo quan điểm lịch sử cụ thể.

1.2.2. Thể loại tiểu thuyết trong lịch sử văn học dân tộc trước thế kỷ
XX
Với những ưu thế của mình so với các thể loại khác, từ trước đến nay,
tiểu thuyết luôn là thể loại chiếm địa vị quan trọng trong hệ thống thể loại văn
học cận đại, hiện đại của nền văn học các quốc gia trên thế giới. Ở châu Âu,
tiểu thuyết xuất hiện vào thời kỳ xã hội cổ đại tan rã và văn học cổ đại suy
tàn. Cá nhân lúc này không còn cảm thấy lợi ích và nguyện vọng của mình
gắn liền với cộng đồng xã hội cổ đại, nhiều vấn đề của đời sống riêng tư được
đặt ra gay gắt. Đề tài chủ yếu của những cuốn tiểu thuyết cổ là phản ánh tình
yêu của các đôi thanh niên nam nữ, tình yêu của họ thường gặp nhiều trở
ngại, phải vượt qua nhiều thử thách, trải qua những cuộc phiêu lưu, mạo hiểm
rồi mới đi đến hạnh phúc. Thời kỳ này, ở các nước phương Tây đã hình thành
những tiểu thuyết nghĩa hiệp được xây dựng trên cơ sở những truyền thống
Footer Page 19 of 89.


20
Header Page 20 of 89.


Footer Page 20 of 89.


21
Header Page 21 of 89.

học. Tiểu thuyết đi sâu miêu tả đời sống riêng tư với những lợi ích, dục vọng
cá nhân gắn liền với tính khái quát có tầm vóc lịch sử xã hội rộng lớn, xây
dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Những tác
phẩm tiêu biểu là: Đỏ và đen, Tấn trò đời, Hội chợ phù hoa, David
Copperfield, Những linh hồn chết, Tội ác và trừng phạt, Chiến tranh và hòa
bình…
Ở phương Đông, danh từ tiểu thuyết xuất hiện khá sớm. Theo sách Hán
thư, nguồn gốc của tiểu thuyết là những chuyện vụn vặt nơi phố phường thôn
dã mà quan lại thu nhặt được nhằm khảo sát tình hình chính trị, tư tưởng và
phong tục, tập quán của nhân dân. Những chuyện ấy cùng với thần thoại, cổ
tích, ngụ ngôn là những mầm mống của tiểu thuyết phương Đông. Đời Đường
ở Trung Quốc, tiểu thuyết đã thể hiện những nhu cầu của đời sống cá nhân,
phê phán các thói tục xấu hoặc sự bất bình đẳng xã hội, khẳng định các phẩm
chất tốt đẹp của con người như truyện Hoắc Tiểu Ngọc, Truyện Lý Oa, Truyện
Liễu Nghị, Truyện Oanh Oanh, Truyện Nam Kha thái thú, Truyện Giấc mơ
trong chiếc gối… Tiếp đó, những truyện “giảng sử”, “giảng kinh” đời Tống,
Nguyên đến đời Minh, Thanh được liên kết, xâu chuỗi thành các tiểu thuyết
chương hồi nổi tiếng như Tam quốc chí diễn nghĩa (La Quán Trung), Thủy hử
(Thi Nại Am), Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Kim Bình Mai (Tiếu Tiếu Sinh),
Liêu trai chí dị (Bồ Tùng Linh), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần-Cao Ngạc),
Chuyện làng Nho (Ngô Kính Tử)… Tiểu thuyết chương hồi Minh, Thanh đã
phát triển, hoàn chỉnh thể loại và được gọi là tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc.
Tiểu thuyết chương hồi Minh, Thanh cũng đánh dấu sự khép lại của văn học
cổ điển, mở ra khuynh hướng hiện đại cho văn học Trung Quốc ở giai đoạn

theo thể truyện ký như Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Công dư tiệp ký
(Vũ Phương Đề), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kỳ tân phả (Đoàn
Thị Điểm) đã kế tục truyền thống của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích
quái mà ghi chép một số truyện lưu hành trong dân gian hoặc do tác giả sáng
tác ra. Thánh Tông di thảo là tập truyện ký không phải nhằm ghi lại những sự
tích có sẵn như Lĩnh Nam chích quái mà là một sáng tác, trong đó có phóng
tác, tái tạo và hư cấu. Nhiều truyện ký được viết với bút pháp vững vàng, hình
tượng sinh động, lời văn trau chuốt, súc tích như Phả ký sơn quân, Hai Phật
cãi nhau, Người trần ở thủy phủ, Hai gái thần. Có nhiều truyện ký viết rất
hay, đọc rất hấp dẫn như Tinh chuột, Bài ký giấc mộng… Truyền kỳ mạn lục
gồm 20 truyện viết bằng tản văn xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện
thường có lời bình của tác giả hoặc của một người cùng quan điểm với tác
Footer Page 22 of 89.


23
Header Page 23 of 89.

giả. Truyện xẩy ra đời Lý, đời Trần, đời Hồ, đời Lê Sơ. Truyền kỳ mạn lục có
giá trị hiện thực sâu sắc, vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến,
và có giá trị nhân đạo, vì nó đề cao phẩm giá con người, bày tỏ niềm thông
cảm với những nỗi đau khổ của con người. Tác phẩm vượt xa những truyện
ký lịch sử vốn chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và
cũng tiến xa so với truyện cổ dân gian, thường ít đi sâu miêu tả nội tâm nhân
vật. Truyền kỳ mạn lục kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những
phương thức tự sự, trữ tình, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả.
Truyền kỳ mạn lục được coi là tác phẩm mẫu mực của thể truyền kỳ, tiêu biểu
cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh
hưởng của sáng tác dân gian. Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm gồm 6
truyện kể về cuộc đời, về con người trong buổi xế chiều của phong kiến Việt

phẩm lại vay mượn đề tài và cốt truyện có sẵn của các tác phẩm văn học
Trung Quốc như Nữ tú tài (Nữ tú tài di hoa tiếp mộc), Nhị độ mai (Trung hiếu
tiết nghĩa Nhị độ mai truyện), Hoa tiên (Đệ bát tài tử hoa tiên ký), Truyện
Kiều (Kim Vân Kiều truyện)… Bên cạnh đó, một số truyện thơ được sáng tác
dựa vào kinh nghiệm của bản thân tác giả, chẳng hạn: Mai Đình mộng ký
(Nguyễn Huy Hổ), Sơ kính tân trang (Phạm Thái)… Truyện thơ đạt được
nhiều thành tựu xuất sắc về nội dung và nghệ thuật. Truyện thơ phản ánh tình
hình đấu tranh xã hội gay gắt, tố cáo sự thối nát của xã hội phong kiến, lên án
các thế lực phong kiến chà đạp lên quyền sống, vận mệnh con người. Truyện
thơ đề cập một cách sâu sắc những vấn đề lớn của con người, của cuộc sống
và thời đại dưới nhiều góc độ khác nhau. Truyện thơ cũng thể hiện những
quan niệm đạo đức của người bình dân: vợ chồng phải chung thủy với nhau,
con cái phải thương yêu cha mẹ, bạn bè, anh em sống phải có nghĩa, có tình.
Kết thúc tác phẩm thường là những người tốt, cuộc đời dù có gặp nhiều khó
khăn, hoạn nạn thì cuối cùng cũng vượt qua tất cả. Đó là sự thể hiện ước mơ
công bằng của nhân dân. Về hình thức nghệ thuật, truyện thơ thường được
sáng tác bằng hai thể thơ: thất ngôn bát cú luật Đường và lục bát. Lời thơ
được gọt giũa, giàu hình ảnh, câu thơ trong sáng, nhịp điệu êm đềm, réo rắt,
hình ảnh sinh động, ý tế nhị mà súc tích, nghệ thuật miêu tả nhân vật có bước
phát triển so với các thể loại văn học khác. Các tác giả đã sử dụng nghệ thuật
kể truyện dân gian và nghệ thuật “kể thơ”, “nói thơ”, ca dao, tục ngữ, thành
ngữ và những tri thức về phong tục, tín ngưỡng dân gian.
Footer Page 24 of 89.


25
Header Page 25 of 89.

Dẫu vậy, truyện thơ cũng bộc lộ những hạn chế khó tránh khỏi. Một số
tác phẩm phản ánh hiện thực đơn giản, mộc mạc, chứng tỏ tầm nhìn hạn hẹp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status