Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty Dệt may Hà Nội
I. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI CÓ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HẠCH TOÁN VẬT LIỆU
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Nhà máy Sợi Hà Nội (nay là công ty Dệt May Hà Nội) được thành
lập ngày 7/4/1978 với sự hợp tác giữa tổng công ty nhập khẩu thiết bị
Việt Nam và hãng VINIOMATEX (cộng hoà liên bang Đức) với tổng số vốn
ban đầu là 30 triệu USD, tổng năng lực kéo sợi có 150.000 cọc sợi với sản
lượng trên 10.000 tấn sợi các loại mỗi năm.
Công trình được khởi công xây dựng nhà máy vào tháng 2/1979 đến
21/11/1984 chính thức bàn giao công trình cho nhà máy quản lý, điều
hành gọi tên là nhà máy sợi Hà Nội trụ sở tại số 1 Mai Động, quận Hai Bà
Trưng Hà Nội.
Trong quá trình phát triển, nhà máy sợi Hà Nội đã từng bước mở
rộng quy mô sản xuất với việc đầu tư lắp đặt 1 dây truyền dệt kim đồng
bộ với trị giá 4 triệu USD. Sản phẩm của công ty được xuất khẩu sang
Nhật, Thuỵ Sỹ, Cộng hoà Séc, Nga, Hà Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc... Các
mặt hàng của công ty là sợi, sản phẩm dệt kim. Sản phẩm của công ty
luôn thu hút được sự chú ý của khách hàng và từng bước đứng vững trên
thị trường trong nước cũng như Quốc tế.
Tháng 4/1990 xây dựng dây chuyền dệt kim số 2, đến tháng
10/1993 Bộ công nghiệp nhẹ quyết định sát nhập nhà máy sợi Vinh (Nghệ
An) vào xí nghiệp liên hợp trở thành nhà máy thành viên của xí nghiệp.
Ngày 19/5/1994 khánh thành nhà máy dệt kim (với cả hai dây
truyền số 1 và số 2). Tháng 1/1995 khởi công xây dựng nhà máy thêu
Đông Mỹ và đến ngày 2/9 thì khánh thành đồng thời tháng 3/1995 Bộ
công nghiệp nhẹ quyết định sát nhập công ty Dệt Hà Đông vào xí nghiệp
liên hợp. Tháng 3/2000 công ty Dệt Hà Nội được đổi tên thành công ty dệt
may Hà Nội và đó là tên gọi chính thức cho đến nay.
Việc chuyển đổi tên thành công ty Dệt may Hà Nội không phải là sự
Công ty luôn chấp hành vượt mức kế hoạch nhà nước giao.
Có thể xem xét một số chỉ tiêu sau:
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt: 498.376 triệu đồng
Tổng doanh thu đạt: 501.891 triệu đồng
Trong đó: Doanh thu công nghiệp: 314.318 triệu đồng
Doanh thu xuất khẩu: 187.576 triệu đồng
Thu nhập bình quân: 867.575 đồng/người/tháng.
2. Những đặc điểm về sản xuất ảnh hưởng tới công tác kế
toán nguyên vật liệu ở công ty.
2.1 Đặc điểm công nghệ và cơ cấu sản xuất.
Việc tổ chức sản xuất hợp lý khoa học phù hợp với công nghệ sản
xuất ở mỗi xí nghiệp là việc hết sức quan trọng. Gắn với mỗi loại hình sản
xuất khác nhau, công nghệ khác nhau đòi hỏi việc tổ chức sản xuất quản
lý khác nhau, yêu cầu của bộ máy kế toán phải phù hợp đặc điểm sản xuất
của doanh nghiệp. Có như vậy sản xuất kinh doanh mới đạt hiệu quả cao.
Đặc điểm tổ chức của công ty được quyết định bởi quy mô sản xuất kinh
doanh lớn, đa dạng về chủng loại sản phẩm cùng độ rộng khắp của thị
trường trong nước và quốc tế.
Nhiệm vụ của công ty được thực hiện thông qua các nhà máy thành
viên.
- Nhà máy sợi 1: quy mô 6500 cọc sợi, sản lượng 4000 tấn/năm.
Sản phẩm chủ yếu là sợi PeCô và Cotton các loại, có chỉ số Ne 60, Ne 45,
Ne 46, Ne 30 dây truyền sợi xe cán 300 tấn/năm.
- Nhà máy sợi 2: quy mô 3500 cọc sợi, sản lượng 4000 tấn/năm sản
phẩm chủ yếu là sợi Peco các loại, có dây truyền sợi xe cán với sản lượng
350 tấn/năm.
- Nhà máy dệt và nhuộm gồm các phân xưởng dệt và nhuộn.
- Nhà máy may: gồm 2 xưởng may 1 và may 2, bộ phận in thêu. Hai
nhà máy kết hợp với nhau để từ sợi sản xuất ra vải, quần áo dệt kim các
loại như T-Shirt, VL-Shirt, Hineck với sản lượng 4,5 triệu tấn/năm.
CắtMay
Sản phẩm nhập
- Nhà máy dệt Hà Đông: sử dụng nguyên liệu sợi 600 tấn/năm
chuyên sản xuất khăn mặt, khăn các loại, lều bạt.
- Nhà máy thêu Đông Mỹ: sử dụng khoảng 5000 tấn sợi mỗi năm
cho ra các sản phẩm dệt kim với sản lượng 1,4 triệu sản phẩm mỗi năm.
Ngoài ra còn có hai nhà máy phục vụ cho sản xuất là nhà máy động
lực và nhà máy cơ điện.
2.2 Quy trình công nghệ sản xuất các mặt hàng chủ yếu trong
đơn vị.
Toàn bộ quy trình sản xuất được chia ra nhiều giai đoạn công nghệ.
Nguyên liệu chính được chế biến một cách liên tục từ giai đoạn đầu đến
giai đoạn cuối theo một trình tự nhất định. Quá trình sản xuất diễn ra
liên tục có sản phẩm dở dang thành phẩm của giai đoạn này, vừa có thể
xuất bán vừa có thể là nguyên liệu cho công đoạn sau. Điều này ảnh
hưởng và chi phối đến công tác hạch toán của đơn vị thành phẩm của
công ty là các loại sợi, hàng dệt kim, dệt thoi các sản phẩm này được thực
hiện bằng dây truyền công nghệ khép kín: dây truyền kéo sợi, dây truyền
dệt kim, dây truyền dệt thoi. Có thể hình dung ra công nghệ sản xuất của
công ty qua sơ đồ sau:
Dây truyền dệt kim
Dây truyền kéo sợi
Dây truyền dệt thoi
Do mặt hàng sản xuất của công ty phong phú và đa dạng sản xuất
hàng loạt nên bộ phận sản xuất chia thành các phân xưởng như: phân
xưởng dệt, phân xưởng nhuộm... Để tiếp cận được mục tiêu kế hoạch sản
xuất tiến trình sản xuất được chia làm các ca sản xuất 1, 2, 3.
3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh tại công ty Dệt may Hà Nội
Công ty Dệt may Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước lớn hạch
Nh máyà
dệt
Phòng
KTĐT
Phòng XNK
Phó Tổng GĐ3
Phòng KTTC
Phó Tổng GĐ2Phó Tổng GĐ1
Tổng Giám đốc
* Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận
- Tổng giám đốc công ty do tổng công ty dệt may bổ nhiệm. Tổng
giám đốc có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động của công ty, đồng thời là
người đại diện quyền lợi và nghĩa vụ của công ty trước cơ quan quản lý
cấp trên và trước pháp luật.
- Giúp việc cho Tổng giám đốc là 3 phó Tổng giám đốc điều hành
một số lĩnh vực của công ty theo sự phân công của Tổng giám đốc đồng
thời là cán bộ tham mưu cao nhất cho tổng giám đốc trong lĩnh vực xây
dựng kế hoạch chiến lược sản xuất kinh doanh.
- Dưới sự điều hành công ty có các phòng ban chức năng.
+ Phòng xuất nhập khẩu: đảm đương toàn bộ công tác xuất nhập khẩu
tại công ty như: Nhập nguyên liệu máy móc, phụ tùng thiết bị, hoá chất nhôm,
xuất khẩu các sản loại sản phẩm sợi, dệt kim, khăn bông.. Có kế hoạch xuất
nhập khẩu để phòng kế toán tài chính cân đối kế hoạch thu chi ngoại tệ xây
dựng dự thảo hợp đồng xuất nhập khẩu, các phương thức thanh toán lập báo
cáo xuất nhập khẩu.
+ Phòng tổ chức hành chính: là phòng tham mưu cho tổng giảm đốc về
lĩnh vực tổ chức lao động khoa học, quản lý đội ngũ cán bộ công nhân viên
trong công ty, đào tạo cán bộ quản lý và sử dụng có hiệu quả quản lý quỹ tiền
lương trên cơ sở quy chế đã ban hành. Bên cạnh đó, phòng còn có nhiệm vụ tổ
chức lực lượng đảm bảo an toàn cho công ty với cơ quản công an trong công
Kế toán trưởng
(Trưởng phòng)
Phó phòng kế toán
(kế toán tổng hợp)
Kế
toán
NVL
Kế
toán
tiền
lương
v cácà
khoản
BH
Kế
toán
th nhà
phẩm
và
tiêu
thụ
Kế
toán
tập
hợp
chi phí
và
Kế
toán
quan lập báo cáo tài chính theo đúng quy định của nhà nước. Phó phòng
kế toán tài chính có trách nhiệm cùng với kế toán trưởng quyết toán cũng
như thanh tra kiểm tra công tác kế toán của Công ty.
- Kế toán nguyên vật liệu: hàng ngày căn cứ vào phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ để vào sổ chi tiết vật tư. Cuối
tháng tổng hợp lên sổ tổng hợp xuất, lập bảng kê số 3, bảng tính giá thực
tế vật liệu và công cụ dụng cụ và từ các hoá đơn (hoặc hoá đơn kiêm
phiếu xuất kho) của bên bán để vào sổ chi tiết thanh toán với người bán
lên nhật ký chứng từ số 5.
- Kế toán TSCĐ và XDCB: tổ chức ghi chép phản ánh số liệu chất
lượng hiện trạng và giá trị TSCĐ, tình hình mua bán và thanh lý TSCĐ.
- Kế toán tiền lương: có nhiệm vụ căn cứ vào bảng tổng hợp thanh
toán lương và phụ cấp do các tổ nghiệp vụ các nhà máy các phòng ban
chức năng, lập bảng phân bổ và các khoản bảo hiểm
Tổ chức công tác kế toán theo lĩnh vực này, mọi công việc của hạch
toán kế toán đều được thực hiện tại phòng kế toán đều được thực hiện tại
Các nhân viên kinh tế
nh máyà
phòng kế toán doanh nghiệp. Do đó giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp nắm
được kịp thời toàn bộ thông tin.
- Kế toán chi phí và tính giá thành căn cứ vào bảng phân bổ vật liệu
CC-DC bảng tổng hợp vật liệu xuất dùng, bảng phân bổ lương và các nhật ký
chứng từ có liên quan để ghi vào sổ tổng hợp chi phí sản xuất (có chi tiết cho
từng nhà máy) phân bổ chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng mặt
hàng cụ thể.
- Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm: có nhiệm vụ thực hiện
tình hình nhập xuất kho thành phẩm, tình hình tiêu thu, theo dõi công nợ
của khách hàng. Mở sổ chi tiết bán hàng cho từng loại hàng. Mở thẻ theo dõi
nhập xuất tồn thành phẩm sau đó theo dõi vào sổ chi tiết bán hàng cho từng
loại.
thời tạo điều kiện trong phân công lao động nâng cao trình độ chuyên
môn hoá lao động hạch toán
2. Đặc điểm tổ chức bộ sổ kế toán tại công ty Dệt may Hà Nội
Công ty Dệt may Hà Nội là đơn vị sản xuất kinh doanh hạch toán
độc lập trực thuộc Tổng Công ty Dệt may Hà Nội
Niên độ kế toán của công ty bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào
ngày 30/6. Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán là đồng .Hình
thức sổ kế toán được áp dụng tại công ty là hình thức Nhật ký chứng
từ.Đây là hình thức kế toán phù hợp với đặc điểm tình hình sản xuất kinh
doanh và yêu cầu quản lý của công ty . Hình thức này dựa theo nguyên tắc
kết hợp chặt chẽ giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp, đẩm bảo cho
các phần hành kế roán được tiến hành song song và phối hợp nhịp nhàng .
Theo hình thức này,quy trình hạch toán vật liệu tại công ty Dệt -
May Hà Nội sử dụng các chứng từ sổ sách sau:
Căn cứ vào các chứng từ ban đầu như : phiếu thu, phiếu chi, phiếu
nhập kho, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, biên bản kiểm nghiệm
vật tư sản phẩm hàng hoá,phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ, kế toán tiến
hành vào sổ tiết vật liêu, sổ chi tiết thanh toán với người bán.... và các
bảng kê nhập và bảng kê xuất.
Dựa vào các bảng tổng hợp nhập vật liệu để vào cột hạch toán và
căn cứ vào giá ghi trên hoá đơn cộng với các chi phí khác thực tế phát
sinh như chi phí vận chuyển, bốc dỡ để vào cột thực tế, kế toán tiến hành
lập bản kế số 3.
Chứng từ nhập - xuất
NK – CT liên quan 1,2,4,10 Bảng kê chi tiết nhập vật tưSố chi tiết số 2 (TK 331) Bảng kê xuất vật tư
Bảng tổng hợp nhập vật tư NK-CT số 5 Bảng tổng hợp xuất vật tư
Bảng kê số 3
Bảng phân bổ số 2
Bảng kê số 4,5,6
NK - CT số 7
- Vật liệu phụ: các loại ghim, cúc, mác, chỉ các loại, khuy, chun,
phecmơtuya, phấn may, băng dính, hoá chất, thuốc nhuộm...
- Nhiên liệu : Điện, xăng, dầu công nghiệp...
- Phụ tùng thay thế: Máy may, máy kéo sợi, vòng bi, ốc vít, thoi suốt,
dây củaoa.
- Văn phòng phẩm: Giấy, mực in, bút bi, máy tính... các đồ dùng phục
vụ cho công tác văn phòng
- Bao bì đóng gói: Bao tải dứa, dây buộc, dây đai nylon, hòm
carton...
- Phế liệu: phế liệu được nhập từ sản xuất là loại hư hỏng, kém
phẩm chất không sử dụng được, bông phế F1, F3, xơ hôi, vón cục sợi tụt
lõi, sợi rối các loại, sắt vụn.
1.2. Công tác quản lý nguyên vật liệu
Do đặc điểm khác biệt của từng loại nguyên vật liệu như đã nói ở
trên, công ty có kế hoạch thu mua một cách hợp lý để dự trữ đủ sản xuất
và vừa đủ để hạn chế, ứ đọng vốn, giảm tiền vay ngân hàng. Công tác
quản lý nguyên vật liệu được đặt ra là phải bảo quản sử dụng tiết kiệm
đạt hiệu quả tối đa, đặc biệt là nguyên vật liệu chính, hiểu ra điều này
công ty đã tổ chức hệ thống kho tàng trữ nguyên vật liệu chính hợp lý và
gần phân xưởng sản xuất.
Hệ thống kho đều được trang bị khá đầy đủ phương tiện cân, đo,
đong đếm để tạo điều kiện tiến hành chính xác các nghiệp vụ quản lý bảo
quản chặt chẽ vật liệu. Trong điều kiện hiện nay, cùng với việc sản xuất,
Công ty tổ chức quy hoạch thành 9 kho.
- Kho bông xơ
- Kho hoá chất.
- Kho xăng dầu
- Kho vật liệu phụ
- Kho vật tư bao gói
- Kho phụ liệu dệt kim
ánh đầy đủ chi phí thực tế Công ty đã bỏ ra để có được vật liệu đó. Khi tổ
chức kế toán vật tư Công ty Dệt may Hà Nội, do yêu cầu phản ánh chính
xác giá trị nguyên vật liệu nên khâu nhập kho Công ty đã sử dụng giá thực
tế. Giá này được xác định theo từng nguồn nhập.
- Nguyên vật liệu chính của Công ty là bông xơ được thu mua trên
thị trường trong nước và chủ yếu là ngoại nhập.
+ Giá thực tế vật liệu mua trong nước bằng giá mua ghi trên hoá
đơn với chi phí thu mua phát sinh (nếu có).
+ Giá thực tế vật liệu nhập ngoại bằng giá ghi trên cộng với thuế
nhập khẩu và cộng chi phí mua phát sinh.
Thường thì nguyên vật liệu được vận chuyển tới tận kho Công ty
nên hay phát sinh chi phí vận chuyển bốc dỡ.
- Đối với nguyên vật liệu do Công ty sản xuất gia công chế biến thì giá
thực tế vật liệu khập kho là giá trị thực tế vật liệu xuất kho cộng với các chi phí
chế biến phát sinh.
- Đối với phế liệu thu hồi nhập kho là các sản phẩm hỏng giá thực tế
nhập kho là giá trị thực tế có thể sử dụng được, giá có thể bán hoặc ước tính.
- Vật liệu do Công ty thuê ngoài gia công chế biến thì giá thực tế vật liệu
bằng giá vật liệu xuất gia công chế biến cộng với chi phí liên quan.
2.1.2 Thủ tục nhập kho nguyên vật liệu.
Phòng kế hoạch thị trường là bộ phận đảm nhiệm cung ứng vật tư, có
nhiệm vụ mở sổ theo dõi tình hình thực hiện cung ứng, thực hiện hoạt động.
Phòng căn cứ vào tình hình thực hiện sản xuất và dự trữ để lập kế hoạch
thu mua nguyên vật liệu và trực tiếp với bên bán vật tư khi nhận được hoá đơn
kiểm phiếu xuất kho của bên bán hoặc giấy báo nhập hàng của bên bán gửi lên
phòng kế hoạch thị trường sẽ kiểm tra đối chiếu với các bản hợp đồng. Khi
hàng được chuyển đến Công ty, cán bộ tiếp liệu phòng kế hoạch thị trường sẽ
kết hợp với thủ kho tiến hành đánh giá kiểm tra về mặt số lượng, chất lượng
quy cách vật tư rồi lập biên bản kiểm nghiệm vật tư. Nếu vật tư đạt yêu cầu thì
tiến hành nhập kho theo số thực nhập. Trên cơ sở hóa đơn, giấy báo nhận hàng