Thực trạng hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2005 2008 - Pdf 67

Thực trạng hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu
khí ra nước ngoài tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
giai đoạn 2005 2008
2.1 Tổng quan về Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn.
Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ( sau đây gọi là Tập đoàn dầu khí Việt
Nam – PVN )là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân được thành lập theo quyết
định của chính phủ số 199/2006/QD-TTg ngày 29/8/2006.
2.1.1.1. Tên gọi
Tên gọi đầy đủ : Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM OIL AND GAS GROUP; gọi tắt là
PETROVIETNAM, viết tắt là PVN.
2.1.1.2. Trụ sở chính
Tập đoàn dầu khí VN có trụ sở chính tại: số 18 Láng Hạ - Ba Đình – Hà Nội.
2.1.1.3. Quá trình hình thành và phát triển
Tổng công ty dầu khí Việt Nam ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển
của ngành dầu khí. Từ đoàn địa chất 36 trực thuộc Tổng cục địa chất làm nhiệm vụ tìm
kiếm thăm dò dầu khí, được thành lập năm 1961, trở thành Tổng công ty Dầu khí Việt
Nam ( Petrovietnam ) như hiện nay là cả một quá trình phát triển liên tục gắn với từng
giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước.
Tháng 9/1975: Thành lập tổng cục dầu khí Việt Nam trên cơ sở Liên đoàn Địa
chất Dầu khí 36 của Tổng cục Địa chất và ban dầu thuộc Tổng cục Hóa chất.
Tháng 9/1977: Thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, gọi tắt là
Petrovietnam trực thuộc Tổng cục dầu khí với nhiệm vụ hợp tác tìm kiếm – thăm dò –
khai thác dầu khí với nước ngoài tại Việt Nam.
Tháng 4/1990 - Tổng cục Dầu khí Việt Nam được sáp nhập vào Bộ Công nghiệp
nặng.
Tháng 6/1990 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Vietnam Oil & Gas
Corporation – Petrovietnam) được tổ chức lại trên cơ sở các đơn vị cũ của Tổng cục
Dầu khí Việt Nam.
Tháng 5/1992 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam tách khỏi Bộ Công nghiệp nặng

PVN Các phòng ban của Tập đoànBan Tổng Giám đốc
Các tổng Công ty THHH 1 thành viênCác Công ty TNHH 1 thành viên
Các Tổng Công ty cổ phần
Các Công ty cổ phầnCác ban quản lý dự ánCác đơn vị khác
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tập Đoàn
a) Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là đại diện trực tiếp chủ sở hữu
nhà nước tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, có tối đa 09 thành viên. Trong đó, 01 đại
diện lãnh đạo Bộ Công nghiệp, 01 đại diện lãnh đạo Bộ Tài chính là thành viên kiêm
nhiệm. Thành viên Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp.
b) Ban kiểm soát Tập đoàn Dầu khí Việt Nam do Hội đồng quản trị Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam bổ nhiệm, có tối đa 05 thành viên, trong đó Trưởng ban kiểm soát là
thành viên Hội đồng quản trị.
c) Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam do Hội đồng quản trị Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng sau
khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.
d) Giúp việc Tổng giám đốc có các Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng do Hội
đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc.
e) Bộ máy giúp việc Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam có văn phòng và các ban chức năng tham mưu.
Hội đồng
quản trị
2.1.2.3 Bộ máy điều hành trực thuộc tập đoàn
a) Nhiệm vụ chung của các Ban trực thuộc Tập Đoàn
Trong phạm vi chức năng của Ban mình và theo các quy định về phân cấp trong
các lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn, các Ban có nhiệm vụ sau:
- Xây dựng mục tiêu, chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạch dài hạn và ngắn
hạn của Tập đoàn.
- Xây dưng các quy chế, quy định, các văn bản mang tính pháp quy về các vấn
đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ban.

Trung tâm công nghệ thông tin - Viễn thông tự động hóa dầu khí
Trung tâm lưu trữ dầu khí
Các ban quản lý dự án
b) Quyền hạn chung của các Ban
Hình 2.2: Bộ máy điều hành trực thuộc Tập Đoàn
- Các Ban là cơ quan nghiệp vụ của Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị thành viên và
đơn vị trực thuộc Tập đoàn theo các lĩnh vực quản lý của các Ban và các quy định
chung cua Tập đoàn.
- Có quyền kiến nghị, đề xuất việc khen thưởng, kỉ luật, nâng bậc lương, xếp
lương chức danh, tiếp nhận, điều chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử đi đào tạo, công
tác trong và ngoài nước đối với CBCNV của Ban.
- Lãnh đạo Ban được quyền quan hệ công tác trực tiếp với các cơ quan nghiệp
vụ nhà nước theo ngành dọc và được thừa lệnh Tổng giám đốc Tập đoàn ký một số văn
bản có tình hướng dẫn, thông báo, đôn đốc, trả lời hay giải thích thuộc lĩnh vực công
tác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Ban.
- Các phòng trực thuộc Ban: tham mưu giúp việc cho Trưởng ban trong một số
lĩnh vực của Ban; mọi ý kiến đề xuất khi trình Lãnh đạo Tập đoàn hay xử lý công việc,
liên hệ với các đơn vị thành viên và các Ban thuộc Bộ máy cơ quan Tập đoàn đều lấy
danh nghĩa của Ban.
c) Chức năng và nhiệm vụ của Ban đầu tư phát triển:
Ban đầu tư phát triển có chức năng quản lý công tác đầu tư phát triển tại Tập
đoàn.
Nhiệm vụ chính là: tổ chức quản lý, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực
hiện những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đầu tư dài hạn, trung hạn và hàng
năm của Tập đoàn.
- Tìm kiếm đánh giá cơ hội đầu tư và phương án đầu tư của Tập đoàn.
- Đầu mối quản lý các chương trình hợp tác của Tập đoàn với các địa phương và
tổ chức trong nước.
- Quản lý công tác đầu tư của đơn vị có vốn góp của Tập đoàn.

- Công ty cổ phần Dịch vụ du lịch dầu khí;
- Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí;
- Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Thiết kế dầu khí;
- Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí;
- Công ty cổ phần Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí.
- Các công ty thực hiện cổ phần hóa năm 2006-2007:
- Công ty Bảo hiểm dầu khí;
- Công ty Vận tải Dầu khí;
- Công ty phân đạm và Hóa chất dầu khí.
d) Các doanh nghiệp liên doanh:
- Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô;
- Công ty liên doanh dầu khí Mekong.
e) Các doanh nghiệp thành lập mới theo quy định của pháp luật:
- Công ty cổ phần Bất động sản dầu khí;
- Công ty cổ phần Chứng khoán dầu khí;
- Ngân hàng cổ phần Dầu khí.
f) Các công ty liên kết do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nắm giữ dưới 50% vốn
điều lệ:
Các công ty thực hiện cổ phần hóa năm 2006-2007:
- Công ty Kinh doanh khí hóa lỏng miền Bắc;
- Công ty Kinh doanh khí hóa lỏng miền Nam.
Các công ty khác được hình thành theo quy định của pháp luật.
g) Doanh nghiệp khoa học công nghệ: hình thành trên cơ sở tổ chức lại Viện
Dầu khí và các đơn vị nghiên cứu trong Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.
Các cơ sở đào tạo:
- Trường Đào tạo nhân lực dầu khí;
- Trường Đại học Dầu khí (thành lập khi có đủ điều kiện, hoạt động theo cơ chế
kinh doanh).
Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bổ sung thêm công ty con, công
ty liên kết và các đơn vị thành viên khác theo quy định của pháp luật.

thì việc thực hiện kế hoạch đầu tư chưa đạt, cụ thể: Tổng vốn đầu tư thực hiện là 93.88
nghìn tỷ VNĐ đạt 83% so với kế hoạch năm 2006- 2007 (112.772 nghìn tỷ VNĐ) đã
được Hội đồng Quản trị phê duyệt. Năm 2008, tình hình kinh tế thế giới đang lâm vào
khủng hoảng trầm trọng, giá dầu giảm mạnh đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh
doanh và đặc biệt là đến hoạt động đầu tư của toàn Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Tuy
nhiên, dưới sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Tập đoàn, hoạt động đầu tư trong toàn Tập
đoàn vẫn duy trì ở mức ổn định và phát triển cả bề rộng và chiều sâu.
Năm 2008, Tập đoàn tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án dầu khí trọng điểm
quốc gia như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, cụm dự án Khí Điện Đạm Cà Mau, dự án
Đường ống Phú Mỹ - Nhơn Trạch,.. ; Các dự án thăm dò khai thác dầu khí được lập
ngân sách với tỷ lệ đứng đầu trong kế hoạch đầu tư của toàn Tập đoàn nhưng việc
thực hiện kế hoạch lại không theo thứ tự đó. Tính đến 31/12/2008, tổng vốn thực hiện
trong năm 2008 là 78 nghìn tỷ đạt 72,8% kế hoạch năm
Để thấy rõ hơn tình hình sử dụng vốn đầu tư cho các hạng mục đầu tư ta có thể
tham khảo bảng số liệu sau:
Bảng 2.4: Vốn đầu tư phát triển của Tập đoàn dầu khí Việt Nam
phân theo nội dung đầu tư.
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008
Tài sản cố định 14.934 17.98 42.98 67.23
Phát triển nguồn nhân lực 0.3 0.44 0.32 0.28
Hàng tồn kho 1.17 0.18 3.33 3.62
Đầu tư tài chính 11.6 15.4 6.15 2.83
Đầu tư khác 6.3 5.6 2.24 3.91
Tổng vốn đầu tư 34.304 39.6 54.28 78
Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Qua bảng 2.4, ta thấy Tập đoàn dầu khí Việt Nam tập trung vốn chủ yếu cho
hoạt động đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, khai khác, đầu tư gia tăng tài sản cố định
và các hoạt động đầu tư tài chính như đầu tư vào công ty con, công ty liên kết liên
doanh. Trong 2 năm 2007-2008, Tập đoàn tập trung phát triển các hoạt động thăm dò

tham gia góp vốn đầu tư vào 50 Hợp đồng/Thỏa thuận hợp tác tìm kiếm thăm dò và
khai thác dầu khí trong và ngoài nước, trong đó:
- 2 thỏa thuận hợp tác nghiên cứu chung chiếm 4%
- 24 hợp đồng dầu khí trong thời kỳ thăm dò 48%
- 24 hợp đồng đang phát triển khai thác 48%.
Trong giai đoạn 2005-2008, trữ lượng quy dầu không ngừng gia tăng, đặc biệt
năm 2008, do Tập đoàn đẩy mạnh thăm dò tìm kiếm ra nước ngoài, hoạt động đầu tư
đạt hiệu quả cao, riêng phần trữ lượng gia tăng tại nước ngoài đạt 97 triệu tấn quy dầu.
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí trong nước
và tại nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2006 2007 2008
Tổng sản lượng khai thác quy dầu triệu tấn 24.79 22.77 22.5
Dầu thô triệu tấn 18 15.91 15
Khí tỷ m3 8.79 6.83 7.5
Gia tăng trữ lượng quy dầu triệu tấn 65 59.41 127
Nguồn: Tập đoàn dầu khí Việt Nam
Năm 2008 là năm đánh dấu sự tăng tốc đầu tư trong lĩnh vực thăm dò khai
thác dầu khí ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Tận dụng thế mạnh địa
lý chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một lớn mạnh và chủ trương của
Chính phủ cho phép trao đổi cổ phần với một số đối tác là các công ty dầu khí quốc
tế, Tập đoàn đã thành công trong việc tăng gần 2 lần số hợp đồng dầu khí ở nước
ngoài đã có trước đây với tiềm năng trữ lượng dầu khí lớn.
2.2 Thực trạng hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra
nước ngoài tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2005-2008
2.2.1 Sự cần thiết phải tiến hành hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ra
nước ngoài
Hiện nay có thể nói dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn năng lượng có tính vượt
trội, nhiều ưu điểm hơn so với các nguồn năng lượng khác. Dầu mỏ chế biến thành các
dạng năng lượng như xăng, dầu được sử dụng rộng rãi trong các ngành giao thông vận
tải ( đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển…), ngành công nghiệp điện

Với đặc thù có nhiều rủi ro và cần một lượng vốn rất lớn, hoạt động đầu tư hợp
tác tìm kiếm và khai thác dầu khí ra nước ngoài của các quốc gia còn nhằm mục đích
chia sẻ rủi ro và tạo ra một khối lượng vốn đầu tư đủ lớn cho hoạt động dầu khí. Tùy
thuộc điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia có những mục đích cụ thể khác nhau. Với các
nước có tiềm lực lớn về vốn và công nghệ thì việc đầu tư, hợp tác thăm dò khai thác
dầu khí chủ yếu nhằm mục đích chia sẻ rủi ro. Với Việt Nam, do hoạt động dầu khí còn
nên trẻ nên việc đầu tư ra nước ngoài, hợp tác quốc tế vừa để san sẻ rủi ro, vừa để huy
động vốn, công nghệ và học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác.
2.2.2 Tình hình tổng mức vốn đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài
của Tập đoàn giai đoạn 2005 - 2008
Công tác thăm dò khai thác dầu khí ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 60
của thế kỉ XX, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã có
những bước tiến vượt bậc về cả chất và lượng. Để đảm bảo gia tăng trữ lượng hàng
năm khoảng 35 – 40 triệu m
3
quy dầu nhằm duy trì sự phát triển bền vững của Ngành
Dầu khí Việt Nam, góp phần đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia và phát triển nền
kinh tế đất nước, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động
thăm dò khai thác dầu khí không chỉ ở trong nước mà cả ra nước ngoài. Đến nay đã có
50 hợp đồng, thỏa thuận hợp tác thăm dò khai thác dầu khí trong và ngoài nước đã được
kí kết và thực hiện.
Bảng 2.7: Tổng số dự án đầu tư thăm dò khai thác dầu
khí trong và ngoài nước
Nội dung Số lượng tỷ lệ
Thỏa thuận hợp tác nghiên cứu chung 2 4%
Hợp đồng dầu khí trong thời kì thăm dò 24 48%
Hợp đồng đang phát triển khai thác 24 48%
Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Từ những năm 1990, Tập đoàn đã nỗ lực tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài.
Sau nhiều năm chuẩn bị, nghiên cứu, đến năm 2000 việc đầu tư ra nước ngoài đã có

của Tập đoàn dầu khí Việt Nam giai đoạn 2005 – 2008
Với mục tiêu đảm bảo mức gia tăng trữ lượng hàng năm khoảng 35– 40 triệu m
3
quy dầu, hàng năm Tập đoàn đều đưa ra các chỉ tiêu kế hoạch định mức nhằm đẩy
mạnh hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài. Tuy nhiên hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status