Thực trạng sản xuất và xuất khẩu dừa của Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
2.1. Kết quả tình hình xuất khẩu
2.1.1. Về thị trường xuất khẩu
Những năm gần đây, dừa luôn là một trong những mặt hàng rau quả xuất
khẩu chính của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tăng cao. Năm 2006, thị
trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Hong kong, Ả
rập Xê út, Achentina…
Năm 2007, Việt Nam đã xuất sang 47 thị trường trên thế giới sản phẩm
cơm dừa, và xuất sang các thị trường lớn đó là Trung Quốc, Thái Lan…
Tính đến 5/ 2009 có đến 58 thị trường nhập khẩu dừa và các chế phẩm từ dừa
của Việt Nam, tăng 19 thị trường so với cùng kỳ năm 2008
Ba thị trường nhập khẩu chính sản phẩm dừa của Việt Nam là Trung
Quốc, Ai Cập và Xiri (3 thị trường này đạt 11,8 triệu USD, chiếm 60,4% tổng
kim ngạch). Có khá nhiều thị trường đạt kim ngạch cao trong 5 tháng đầu năm,
trong đó, Trung Quốc là thị trường đạt kim ngạch cao nhất trong 5 tháng đầu
năm 2009 với 7,6 triệu USD, tăng 54,4% so với cùng kỳ 2008. Tiếp đến là Ai
cập đạt 2,8 triệu USD, tăng 169%; Xiri đạt 1,4 triệu USD, tăng 152,1%.
Tuy nhiên cũng có nhiều thị trường giảm đáng kể về kim ngạch như Hàn Quốc
giảm 8,1%; Pháp giảm 64%; Ba Lan giảm 72,4%; ả rập xê út giảm 91,4%...
Bảng 1.8 Thị trường xuất khẩu dừa và chế phẩm từ dừa
5 tháng đầu năm 2009
Thị trường
5T/2009 5T/2008
5T/2009 so với
5T/2008 (%)
Trị giá (USD) Trị giá (USD)
Trung Quốc 7.605.310,0 4.926.528,2 54,4%
Ai Cập 2.851.621,8 1.059.945,5 169,0%
Xi ri 1.355.453,5 537.717,1 152,1%
Đến cuối năm 2009, tổng số thị trường nhập khẩu đã lên tới 84 thị trường,
Hiện nay thị phần hoa quả tươi nói chung của Việt Nam tại EU là tương
đối ít. Ngay cả những loại trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam cũng chỉ
chiếm số lượng khiêm tốn. Có rất nhiều loại trái cây nổi tiếng khác như nhãn,
vải, sầu riêng… của Việt Nam chưa có mặt ở EU. Những sản phẩm rau quả mà
Việt Nam đang xuất vào EU được người tiêu dùng ưa chuộng, tuy nhiên, số
người biết đến những sản phẩm này còn quá ít.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, họ khó tiếp cận thị trường EU
do thị trường này có khá nhiều rào cản. Nhưng trên thực tế, một số nước lân cận
Việt Nam như Thái Lan, Malaysia…, hằng năm vẫn xuất vào châu Âu với khối
lượng lớn. Do đó vấn đề cơ bản ở đây là việc xuất khẩu của Việt Nam không ổn
định do chưa có nguồn hàng cung cấp thường xuyên, chủ yếu theo mùa vụ tự
nhiên; chất lượng sản phẩm thấp và không đồng đều; khả năng xây dựng thương
hiệu sản phẩm chưa tốt. Hơn nữa, phía doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
còn hạn chế về trình độ, nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu dừa, thiếu thông tin thị
trường và giá cả, phương thức thanh toán chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
2.1.2. Về cơ cấu chủng loại và chất lượng sản phẩm
Năm 2007, Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu cơm dừa
nạo sấy và chỉ sơ dừa hàng đầu thế giới, song song đó hàng trăm mặt hàng thủ
công mĩ nghệ, phục vụ khách du lịch và xuất khẩu đạt trị giá trên 20 tỷ đồng.
Năm 2008, chỉ riêng tỉnh Bến Tre, kim ngạch xuất khẩu dừa đạt trên 66
triệu USD, và tập trung xuất khẩu 23 mặt hàng khác nhau trong đó nhiều nhất là
cơm dừa nạo sấy (21 triệu USD) và chỉ xơ dừa (11 triệu USD)
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu dừa ước đạt 50 triệu USD, trong đó, tỷ
trọng các sản phẩm dừa xuất khẩu như sau:
Hình 1.10 Tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm dừa năm 2009
Nhằm làm tăng chất lượng sản phẩm, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
đang gấp rút tiến hành áp dụng khoa học kỹ thuật và quy hoạch đất trồng dừa. 4
loại dừa có năng suất cao và chất lượng tốt được nhân gien giống thành công là
dừa xiêm, dừa ẻo, dừa dứa và dừa sáp. Các giống dừa này đã xuất sang Mexico
theo chương trình hợp tác của hai Viện nghiên cứu Dầu thực vật của hai nước.
Hiện nay những hộ gia đình sản xuất thủ công mĩ nghệ dừa đã có nhiều ý
tưởng và tìm cách để chế tác nên hàng trăm mẫu sản phẩm độc đáo bằng dừa,
thay cho các loại nguyên liệu khác như gỗ rừng, nhựa, nhôm, sành. Nguồn sản
phẩm dừa là vô tận bởi người sản xuất sáng tạo và còn dựa trên ý tưởng phát
huy giá trị sử dụng của chúng trong sinh hoạt thường ngày, từ đồ dùng nhà bếp
đến dụng cụ văn phòng, đồ chơi trẻ em, trang trí nội thất, xây nhà…
Qua tìm hiểu nhu cầu thị trường, hầu hết các cơ sở đều có nhận định xu
hướng ngày nay, đồ mộc ngày càng chiếm một vị trí nhất định thay cho sản
phẩm công nghiệp nhựa. Đặc biệt với gỗ dừa vừa có nét độc đáo hơn những loại
cây gỗ khác bởi nó có sớ, vân đặc trưng không thứ nào có thể thay thế được.
Mặt khác, sản phẩm còn mang tính nghệ thuật cao nên trị giá của chúng có thể
lên đến hàng chục triệu đồng/sản phẩm.
Chất lượng hàng thủ công mỹ nghệ
Mô hình kinh tế được nhân rộng trong nông thôn đã góp phần thực hiện chủ
trương “Ly nông bất ly hương”. Song, vì đa phần những người thợ xuất thân từ
nông dân tranh thủ thời gian lao động nhàn rỗi để kiếm thêm thu nhập nên còn
nhiều hạn chế trong việc ý thức, tác phong lao động. Hơn nữa, thái độ dễ hài
lòng, thỏa mãn với kết quả đạt được lâu ngày dẫn đến uy tín của cơ sở và trình
độ tinh xảo sản phẩm ngày bị mai một, giá trị sản phẩm trên thị trường cũng bị
giảm sút. Đây là nguyên nhân khiến không ít các nhà kinh doanh ái ngại đặt hợp
đồng xuất khẩu lâu dài với nhiều cơ sở sản xuất nhỏ lẻ trên địa bàn các địa
phương trồng dừa
Mặt khác, tuy thị trường nước ngoài đang tiêu thụ từ 70 đến 80% sản lượng
hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa của một số tỉnh phía Nam nhưng phần đông
người sản xuất và các thương nhân chân chính đang rất lo ngại “Thị trường thì
mênh mông mà nguồn chưa ổn định, xét về chất lượng cả số lượng”. Xuất phát
từ sự cạnh tranh chưa lành mạnh của một số cơ sở sản xuất, giá thành sản phẩm
được đẩy xuống thấp hơn so với thị trường. Từ đó kéo theo chất lượng sản
phẩm giảm. Những biểu hiện của các mặt hàng kém chất lượng như: nhanh
chóng bị nấm móc, gãy đổ, bung, xúc… Hơn nữa, với tâm lý người mua chưa
Dầu dừa: Giá dầu dừa tại châu Âu (C.I.F. Rotterdam) giảm nhẹ khoảng
0,1%, từ 728 USD/tấn xuống còn 727 USD/tấn (tháng rồi). Giá này dao động
trong khoảng 712 đến 765 USD/tấn, cao hơn 169 USD/tấn so với giá trong
tháng 1 năm 2006.