THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY VINACONEX 3 - Pdf 67

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
VINACONEX 3
I. Vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Khái niệm và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được hiểu và quan niệm là toàn
bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp.
Khái niệm này không những chỉ ra vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào quan
trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của
vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục trong
suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Như vậy vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Có
vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm trang
thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai.
Vậy yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp là họ phải có sự quản lý và sử
dụng có hiệu quả vốn để nhằm bảo toàn và phát triển nguồn vốn, đảm bảo cho
doanh nghiệp ngày càng phát triển vững mạnh.
2. Phân loại vốn.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại
vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương nhân viên... Đó là
chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh. Nhưng vấn
đề đặt ra là chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền
với quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp
phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn một cách tối đa nhằm đạt mục tiêu kinh
doanh lớn nhất. Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức
chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn
doanh nghiệp. Cần phải tiến hành phân loại vốn, phân loại vốn có tác dụng
kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh nghiệp phải
bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh. Có nhiều cách phân loại vốn, tuỳ thuộc
vào mỗi góc độ khác nhau ta có các cách phân loại vốn khác nhau.
2.1 Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn thì vốn của doanh
nghiệp bao gồm hai loại là vốn lưu động và vốn cố định.

các doanh nghiệp khác nhau cũng khác nhau. Nếu như trong doanh nghiệp
thương mại tỷ trọng của loại vốn này chiếm chủ yếu trong nguồn vốn kinh
doanh thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng vốn cố định lại chiếm chủ yếu.
Trong hai loại vốn này, vốn cố định có đặc điểm chu chuyển chậm hơn vốn lưu
động. Trong khi vốn cố định chu chuyển được một vòng thì vốn lưu động đã
chu chuyển được nhiều vòng.
Việc phân chia theo cách thức này giúp cho các doanh nghiệp thấy được
tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn. Từ đó, doanh nghiệp chọn cho mình một cơ cấu
vốn phù hợp.
2.2 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm: Nợ phải trả và
vốn chủ sở hữu.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như tự có
thì doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản vốn khá lớn đi vay của ngân
hàng. Bên cạnh đó còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị
nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng. Tất cả các yếu tố này hình thành nên
khoản nợ phải trả của doanh nghiệp. Vậy
*Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh
nghiệp có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng,
nợ vay của các chủ thể kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán,
phải nộp ngân sách ...
* Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và
các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ
phần. Có ba nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là:
- Vốn kinh doanh: Gồm vốn góp (Nhà nước, các bên tham gia liên doanh,
cổ đông, các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản
xuất kinh doanh.
- Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định): Khi nhà
nước cho phép hoặc các thành viên quyết định.
- Các quỹ của doanh nghiệp: Hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh

pháp quản lý thì sẽ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Trong kinh doanh, sự đổi mới sẽ là điều kiện thuận lợi để hạ giá thành cũng
nhu tăng chất lượng của sản phẩm và tăng giá trị tài sản chủ sở hữu. Bởi vậy,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí quan trọng của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh
nghiệp. Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn
đề cao tính an toàn, đặc biệt là an toàn tài chính. Đây là vấn đề có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ
giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ
cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đảm bảo. Điều này sẽ
khiến cho doanh nghiệp có đủ năng lực để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ là điều kiện để doanh nghiệp tham gia
vào quá trình cạnh tranh trên thị trường. Để đáp ứng các yêu cầu về sản lượng
cũng như đổi mới các trang thiết bị, máy móc hiện đại...doanh nghiệp cần có
đủ vốn cũng như tiềm lực của mình.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được mục
tiêu tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp
như nâng cao uy tín của công ty trên thương trường. Bởi vì trong quá trình
hoạt động kinh doanh thì việc doanh nghiệp có được chỗ đứng trên thị trường
thì sẽ có nhiều khả năng mở rộng hoạt động sản suất kinh doanh cũng như tạo
ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Điều này sẽ làm cho năng suất
của doanh nghiệp sẽ ngày càng được nâng cao và đời sống của cán bộ công
nhân viên sẽ được nâng cao.
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không
những mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà
còn ảnh hưởng tới nền kinh tế và xã hội. Do vậy doanh nghiệp luôn phải tìm ra
các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
II. Hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
1. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty những năm gần đây.
1.1 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status