Tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn thành phố cần thơ - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------

TRẦN THỊ THU PHƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH
NÔNG THÔN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ THU PHƯƠNG
MSHV: 7701230019

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG
THÔN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG
MÃ SỐ: 603.40402

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO

2.2.2 Khả năng tiếp cận tín dụng .................................................................. 12
2.3 Vốn xã hội và khả năng tiếp cận tín dụng ................................................. 12
2.3.1 Cách thức vốn xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ...................... 12
2.3.2 Các nghiên cứu về vốn xã hội và khả năng tiếp cận tín dụng ............. 14
2.4 Các nhân tố khác ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ................... 15
2.4.1 Đặc điểm các khoản vay ...................................................................... 15
2.4.2 Đặc điểm cá nhân và hộ gia đình ........................................................ 16
2.5 Đánh giá các tài liệu nghiên cứu có liên quan ........................................... 18
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 21
3.1 Khung phân tích của nghiên cứu ............................................................... 21
3.3 Phương pháp chọn mẫu .............................................................................. 23
3.4 Mô hình nghiên cứu ................................................................................... 24
3.4.1 Các biến trong mô hình ....................................................................... 25
3.4.2 Mô hình nghiên cứu............................................................................. 25


CHƯƠNG 4: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU............................. 28
4.1 Vốn xã hội ở nông thôn Việt Nam............................................................. 28
4.2 Thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam .................................................. 30
4.3 Tổng quan về địa bàn TP Cần Thơ ................................................................ 31
4.4 Thị trường tín dụng trên địa bàn TP Cần Thơ ........................................... 31
Chương 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 34
5.1.

Thống kê mô tả ...................................................................................... 34

5.1.1.

Vốn xã hội và khả năng tiếp cận tín dụng chính thức .................... 34


Bảng 5.1. khả năng tiếp cận tín dụng chính thức ................................................ 34
Bảng 5.2. Vốn xã hội của các hộ gia đình ........................................................... 35
Bảng 5.3. Vốn xã hội với khả năng tiếp cận tín dụng ......................................... 36
Bảng 5.4. Đặc điểm các khoản vay ..................................................................... 37
Bảng 5.5. Đặc điểm cá nhân người đi vay .......................................................... 38
Bảng 5.6. Đặc điểm người đi vay và khả năng tiếp cận tín dụng ....................... 38
Bảng 5.7. Đặc điểm hộ gia đình .......................................................................... 40
Bảng 5.8. Đặc điểm hộ gia đình và khả năng tiếp cận tín dụng .......................... 40
Bảng 5.9. Kiểm định Ttest giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc về tiếp cận
tín dụng chính thức .............................................................................................. 41
Bảng 5.10. Kiểm định chi-test giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc về tiếp
cận tín dụng chính thức ....................................................................................... 44
Bảng 5.11. Kết quả mô hình hồi quy Logistic .................................................... 47
Bảng 5.12. Kết quả mô hình hồi quy tác động của các nhân tố đến độ lớn khoảng
vay ....................................................................................................................... 53


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CSXH:

Chính sách xã hội

NGO:

Tổ chức phi chính phủ

NHNN:

Ngân hàng nhà nước

Mục tiêu tổng quát của đề là phân tích tác động của vốn xã hội đến khả
năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn tại TP Cần Thơ.
Với mục tiêu tổng quát trên, bài viết đặt ra hai mục tiêu cụ thể là: (1) phân tích
tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia
đình nông thôn trên địa bàn TP Cần Thơ và (2) đánh giá ảnh hưởng của vốn xã
hội đến giá trị khoản vốn vay được từ nguồn tín dụng chính thức của các hộ gia
đình nông thôn. Nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp
từ các hộ gia đình có vay vốn và không có vay vốn tại TP Cần Thơ. Để trả lời
cho hai mục tiêu nghiên cứu, bài viết sử dụng mô hình hồi quy binary logit và
mô hình hồi quy bội theo phương pháp bình phương nhỏ nhất. Với mục tiêu thứ
nhất tác giả sử dụng mô hình hồi quy logit với biến phụ thuộc là xác suất tiếp
cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình. Sau khi ước lượng mô hình logit,
nghiên cứu nhận thấy rằng vốn xã hội cụ thể là mạng lưới xã hội chính thức,
niềm tin và người bảo lãnh có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiếp cận tín
dụng chính thức của các nông hộ. Từ kết quả của mục tiêu thứ nhất tác giả tiếp
tục nghiên cứu giải quyết mục tiêu thứ hai. Bài viết sử dụng mô hình hồi quy bội
theo phương pháp bình phương nhỏ nhất để đánh giá ảnh hưởng của vốn xã hội
đến giá trị khoản vốn vay. Kết quả hồi quy cho thấy, các yếu tố của vốn xã hội
là mạng lưới xã hội chính thức, niềm tin và sự hợp tác có quan hệ cùng chiều với
lượng vốn vay từ nguồn tín dụng chính thức. Ngoài ra, bài viết còn chứng minh
rằng ngoài vốn xã hội còn có các yếu tố khác tác động đến khả năng tiếp cận tín
dụng chính thức và giá trị khoản vốn vay là lãi suất và tài sản thế chấp. Kết quả
của bài nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu của Oken (2004) Heikkilaa
(2009), Lawal (2009) cho rằng vốn xã hội tăng làm tăng khả năng tiếp cận tín
dụng chính thức của các hộ gia đình.


2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU


3

đó, khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức bị hạn chế đã làm cho các
hộ gia đình phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tín dụng phi chính thức.
Để tiếp cận được các nguồn tín dụng chính thức, ngoài các loại tài sản dùng
thế chấp như đất đai, nhà cửa, máy móc còn có một loại tài sản khác đó là lòng
tin, mạng lưới xã hội, sự hợp tác và gắn bó của hộ gia đình với cộng đồng mà gọi
chung là vốn xã hội. Ngày càng có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho rằng vốn
xã hội có thể giúp các hộ gia đình hoặc những doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông
thôn khắc phục được sự thiếu hụt các loại vốn khác (Annen, 2001; Fafchamps và
Minten, 2002 ). Vậy, thực tế vốn xã hội có tác động như thế nào đến khả năng
tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn? Để trả lời
câu hỏi này, tôi thực hiện đề tài “Tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp
cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn ở TP Cần Thơ” dựa
trên số liệu sơ cấp được phỏng vấn từ các hộ gia đình có vay vốn và không có
vay vốn.
Mục tiêu nghiên cứu này là nhằm tìm ra mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả
năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn TP Cần Thơ
dựa trên những cơ sở và bằng chứng thuyết phục. Trên cơ sở đó, đề xuất những
gợi ý chính sách giúp cải thiện đời sống của các hộ gia đình nông thôn.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích tác động của vốn xã hội đến khả
năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn tại TP Cần Thơ.
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, đề tài có các mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Phân tích tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng chính
thức của các hộ gia đình nông thôn tại TP Cần Thơ.
(2) Đánh giá ảnh hưởng của vốn xã hội, đặc điểm khoản vay và đặc điểm
nông hộ đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ gia đình nông thôn tại
TP Cần Thơ.

và sơ cấp khác nhau.


5

Dữ liệu thứ cấp là các tài liệu, các thông tin báo cáo của ngân hàng nhà
nước, tổng cục thống kê, các bài viết đăng trên các tạp chí, các website trong và
ngoài nước, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập và xử lý trên phần mềm Stata. Để có thông tin
phục vụ cho nghiên cứu này chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ gia
đình có nhu cầu vay vốn và đã vay vốn ngân hàng trên địa bàn TP Cần Thơ thông
qua trả lời bảng câu hỏi được thiết kế sẵn.
1.6 Kết cấu đề tài
Đề tài bao gồm sáu chương. Cụ thể như sau: chương một giới thiệu chung về đề
tài. Chương hai sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về vốn xã hội, thị trường tín dụng
chính thức, lược khảo các lý thuyết về mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng
tiếp cận tín dụng. Chương ba đề cập đến phương pháp nghiên cứu bao gồm trình
bày về cơ sở dữ liệu, giả thuyết nghiên cứu, xây dựng khung phân tích, phát triển
mô hình kinh tế lượng và xây dụng các biến trong mô hình. Chương bốn khái
quát về vốn xã hội, thị trường tín dụng nông thôn của Việt Nam và tổng quan về
địa bàn nghiên cứu. Chương năm trình bày thống kê mô tả và kết quả phân tích.
Chương sáu rút ra kết luận từ kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách về cải thiện
khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình nông thôn.


6

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Lý thuyết về vốn xã hội
2.1.1 Các quan điểm về định nghĩa vốn xã hội (social capital)


Thế giới (1999) về vốn xã hội cũng phần nào tương tự như cách hiểu của
Coleman và Putnam nêu trên: “Vốn xã hội liên quan tới các tổ chức, các mối
quan hệ, và các chỉ tiêu hình thành chất lượng và số lượng của các tương tác xã
hội, tin tưởng nhau dẫn đến hành động tập thể hay nói cách khác nó là “chất
keo” gắn kết các mối liên hệ với nhau”.
Trong một bài viết vào năm 2000, nhà nghiên cứu chính trị học người Mỹ
gốc Nhật Francis Fukuyama cho rằng phần lớn các định nghĩa về vốn xã hội đều
chỉ nói về những mặt biểu hiện của vốn xã hội hơn là về bản thân vốn xã hội.
Ông viết như sau: “Vốn xã hội là một chuẩn mực phi chính thức được biểu hiện
trong thực tế có tác dụng thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân”.
Theo định nghĩa này, sự tin cậy, các mạng lưới xã hội, xã hội dân sự, và những
thứ tương tự vốn gắn liền với vốn xã hội, đều là những hiện tượng thứ phát, nảy
sinh do vốn xã hội chứ không phải là bản thân vốn xã hội. Một nghiên cứu của
Spellerberg (2001) xem xét vốn xã hội là mối quan hệ giữa các đối tượng (cá
nhân, nhóm và tổ chức) để tạo ra một công suất vì lợi ích chung hoặc một mục
đích chung. Thêm vào đó ông cho rằng vốn xã hội là nguồn lực xã hội được thể
hiện trong mối quan hệ giữa con người. Nó nằm trong và bắt nguồn từ liên lạc,
chia sẻ, hợp tác và tin tưởng lẫn nhau trong các mối quan hệ đang diễn ra. Công
trình nghiên cứu về vốn xã hội gần đây nhất của Durlauf và Fafchamps (2005)
đưa ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông cho rằng vốn
xã hội là một dạng không chính thức của các tổ chức và các tổ chức dựa trên mối
quan hệ xã hội, mạng lưới, các hiệp hội tạo ra sự chia sẻ kiến thức, tin tưởng lẫn
nhau các chuẩn mực xã hội và các quy tắc bất thành văn.
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, tuy nhiên các định
nghĩa và giải thích đều xoay quanh bốn yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau: hệ
thống các mạng lưới xã hội; niềm tin của con người trong xã hội; sự hợp tác và
sự gắn bó với mọi người. Trên cơ sở của các nhà nghiên cứu trước, các yếu tố tạo
thành vốn xã hội được xác định trong bài viết này là mạng lưới xã hội (bao gồm
mạng lưới chính thức và không chính thức), sự tin cậy và sự hợp tác với nhau.

tôi chỉ thực hiện đo lường mạng lưới xã hội bao gồm mạng lưới chính thức và
mạng lưới không chính thức.
Mạng lưới chính thức
Mạng lưới chính thức bao gồm các tổ chức chính thức như các tổ chức tình
nguyện và các hiệp hội (theo Putnam, 1995, trích bởi Baum và Ziersch, 2003).


9

Theo Stone (2001) mạng lưới các mối quan hệ xã hội chính thức liên quan đến
nhiều khía cạnh của cuộc sống như xã hội dân sự và thể chế. Mạng lưới này gồm
các tổ chức, hiệp hội hoạt động dựa trên nhóm, các quan hệ dân sự không theo
nhóm, các tổ chức/hiêp hội dựa trên quan hệ công việc và các mối quan hệ thể
chế.
Các nhà nghiên cứu như Putnam (1995) và Stone (2001) xem xét số lượng
mạng lưới xã hội mà các cá nhân là thành viên như là một chỉ số đo lường mạng
lưới chính thức. Chỉ số này có thể được đo lường bằng phương pháp thống kê số
lượng tổ chức thông qua câu hỏi như: “Gia đình bạn là thành viên của tất cả các
nhóm nào ?” (World Bank, 2003), hay “Bạn đã tham gia (tất cả) các nhóm, câu
lạc bộ, tổ chức nào trong 12 tháng qua ?” (Dave Ruston và Lola Akinrodove,
2002). Chỉ số này cho phép đánh giá sức mạnh và sự đa dạng của mạng lưới các
tổ chức chính thức tại địa phương.
Đo lường mạng lưới xã hội còn sử dụng chỉ số tham gia vào các tổ chức
chính thức, chỉ số tham gia hoạt động xã hội hay sử dụng các chỉ tiêu liên quan
đến sự tương tác và mối liên hệ giữa các cá nhân được thực hiện thông qua việc
gặp gỡ giữa mọi người trong các câu lạc bộ, nhà thờ, các tổ chức và các hiệp hội
khác nhau. Để đánh giá tư cách thành viên của các tổ chức, có thể sử dụng các
chỉ số như tần suất tham gia vào các hoạt động, các cuộc họp ở các tổ chức xã
hội hay cam kết tham gia vào các nhóm địa phương, các nhóm tự nguyện, các tổ
chức, câu lạc bộ, hành động về một vấn đề ở địa phương (Woolcock, 2000). Để

lưới hàng xóm. Mối quan hệ này được đánh giá bằng số lượng bạn bè, số lượng
hàng xóm láng giềng hay tần xuất gặp gỡ và nói chuyện với người thân, bạn bè,
hàng xóm hoặc bằng chỉ số tương tác xã hội như mối liên hệ giữa các cá nhân
được thực hiện thông qua việc gặp gỡ giữa mọi người trong các câu lạc bộ, nhà
thờ, các tổ chức; sự liên lạc với bạn bè gia đình hàng xóm. Để đo lường chỉ số
này, Cindy-Ann và Doug (2002) đã sử dụng câu hỏi: “Trong tháng vừa qua bạn
có thường xuyên giao tiếp với gia đình và/hoặc bạn bè, qua điện thoại, qua
internet hoặc qua đường bưu điện không?’’ hay “Nếu bạn đột nhiên phải đối mặt
với tình trạng khẩn cấp dài hạn như cái chết của một trụ cột gia đình hoặc
[NÔNG THÔN: thất bại sau thu hoạch; ĐÔ THỊ: mất việc làm], có bao nhiêu
người ngoài gia đình ngay lập tức sẵn sàng hỗ trợ bạn?” (Ngân hàng Thế Giới,
2003).


11

Niềm tin và sự hợp tác
Sự tương trợ và niềm tin là những yếu tố cốt lõi của vốn xã hội (Putnam,
1995). Theo quan niệm của tác giả, các mối quan hệ xã hội tạo ra niềm tin giữa
các cá nhân và các nhóm. Niềm tin tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác, mức
độ tin tưởng trong một cộng đồng càng lớn, khả năng hợp tác càng cao. Coleman
(1988) chỉ ra rằng niềm tin được hình thành bởi sự tương tác lặp đi lặp lại giữa
các cá nhân thông qua uy tín, mạng lưới hoặc sự hiểu biết về cơ chế hình thành
các hành vi và những hành động của những người khác. Như vậy, tin tưởng là
một yếu tố quan trọng của vốn xã hội ở chỗ nó là một nguồn lực mà chúng ta sử
dụng khi xây dựng các mối quan hệ với những người khác và tương trợ lẫn nhau.
Tuy nhiên, niềm tin, sự hợp tác là những khái niệm mang tính chất trừu tượng, vì
vậy, rất khó để đo lường hai yếu tố này.
2.2 Tín dụng chính thức và khả năng tiếp cận tín dụng
2.2.1 Phân biệt tổ chức tín dụng chính thức

một là khả năng vay hay cơ hội vay được tiền của một nông hộ; hai là lượng tiền
vay được từ các tổ chức tín dụng chính thức được giới hạn bởi ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngân hàng Chính sách Xã hội, và các ngân hàng
thương mại nhà nước.
2.3 Vốn xã hội và khả năng tiếp cận tín dụng
2.3.1 Cách thức vốn xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng
Theo lý thuyết về vốn xã hội, những ảnh hưởng đến sự tiếp cận tín dụng bao
gồm việc chia sẽ thông tin qua các mối quan hệ xã hội, lòng tin với mọi người và
sự gắn bó giữa mọi người trong xã hội. Trong một thị trường được đặc trưng bởi
các thông tin không hoàn hảo như thị trường tín dụng, mối liên kết giữa mọi
người trong các nhóm, các tổ chức xã hội có thể làm tăng quá trình trao đổi thông
tin để tạo ra các cơ hội tiếp cận tín dụng (Fafchamps và Minten, 1998). Ngoài ra,
các đặc tính của mạng lưới xã hội cũng ảnh hưởng đến quá trình lưu chuyển
thông tin. Devereux và Fishe (1993) cho rằng, nếu mạng lưới mà đồng nhất, nó
sẽ làm giảm thông tin không hoàn hảo và tạo điều kiện thuận lợi cho các biện
pháp trừng phạt xã hội được áp dụng (Devereux và Fishe, 1993). Tuy nhiên,
Grootaert (1999) không đồng ý với quan điểm này. Ông khẳng định trong mạng
lưới các hiệp hội, các nhóm hay các tổ chức không đồng nhất như có cả nam lẫn
nữ, hay bao gồm những người có trình độ học vấn khác nhau có thể tiếp cận tín


13

dụng tốt hơn bằng cách cung cấp thông tin khác nhau giữa các thành viên về các
nguồn tín dụng sẵn có rộng rãi hơn. Kilpatrick (2002) chỉ ra rằng, vốn xã hội
đóng vai trò tạo điều kiện cũng như là chất xúc tác của quá trình học tập và chia
sẽ trong cộng đồng thông qua sự hỗ trợ của truyền thông. Việc trao đổi kiến thức
được coi là trao đổi thông tin và kỹ năng giữa các bạn bè, hàng xóm, giữa các
thành viên trong gia đình và các thành viên trong nhóm. Sự chia sẻ thông tin kỹ
năng có thể tạo điều kiện cho các cá nhân tham gia đầy đủ các hoạt động trong xã

phát triển các trách nhiệm pháp lý dài hạn giữa các cá nhân đang hoạt động trong
nền kinh tế, đây là một khía cạnh quan trọng để có được những kết quả tích cực
trong hoạt động kinh tế (Pretty và Ward, 2001) cũng như trong hoạt động tín
dụng.
2.3.2 Các nghiên cứu về vốn xã hội và khả năng tiếp cận tín dụng
Đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối liên hệ giữa vốn xã hội và tiếp cận
tín dụng đã chứng minh rằng vốn xã hội có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín
dụng của các cá nhân, hộ gia đình cũng như các doanh nghiệp. Lawal và cộng sự
(2009), trong một nghiên cứu thực nghiệm đối với các hộ gia đình nông dân
trồng ca cao ở Nigeria, đã chỉ ra rằng các hiệp hội và mạng lưới là những phương
tiện mà qua đó vốn xã hội của các nông hộ được tích lũy. Nhóm tác giả đã chứng
minh rằng nếu có sự gia tăng trong một đơn vị vốn xã hội sẽ làm tăng khả năng
tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình này. Okten (2004) trong nghiên cứu về cách
thức mà các mạng lưới gia đình và cộng đồng ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín
dụng của một cá nhân với tổ chức tín dụng, ông cho rằng vai trò của cộng đồng
trong việc cung cấp thông tin rất quan trọng, nó làm giảm chi phí tìm kiếm của
khách hàng và chi phí giám sát, thực thi của các tổ chức cho vay. Tác giả khẳng
định mạng lưới cộng đồng và gia đình có ý nghĩa trong việc các cá nhân hiểu biết
một nơi để vay, cũng như các tổ chức tín dụng ra quyết định chấp nhận cho vay.
Nghiên cứu một trường hợp ở Uganda, Heikkilaa và cộng sự (2009) đã khẳng
định vốn xã hội có tác động tích cực đối với khả năng tiếp cận tín dụng nhưng
nhận thấy mối liên hệ giữa lòng tin của mọi người với nhau và sự tiếp cận các
khoản vay thì không có ý nghĩa. Ajam (2009) khi xem vai trò của vốn xã hội
trong tiếp cận tín dụng vi mô ở Ekiti State đã cho thấy vốn xã hội có ảnh hưởng
tích cực đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô. Trong chỉ số vốn xã hội, các yếu
tố ảnh hưởng mạnh tới khả năng tiếp cận tín dụng vi mô bao gồm các biến là số
lượng hiệp hội mà hộ gia đình là thành viên, lượng tiền mặt và các khoản đóng
góp lao động của các hộ gia đình khi tham gia vào các hiệp hội khác nhau.
Nghiên cứu kết luận rằng, việc tham gia vào các mạng lưới xã hội hay các hiệp


gia đình. Trong nghiên cứu của mình, Fuchs và Beck (2004) chỉ ra rằng lãi suất
có tác động dương đến khả năng tiếp cận tín dụng của các nông hộ vì họ cho rằng
lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí vốn vay. Còn Tra và Lensik (2007) thì kết luận


16

những hộ gia đình có tài sản thế chấp cao và có mục đích đi vay dành cho việc
sản xuất kinh doanh sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn bởi vì những hộ này được
tin tưởng cao hơn bởi các tổ chức tín dụng chính thức.
2.4.2 Đặc điểm cá nhân và hộ gia đình
Khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình nông thôn có liên quan đến
đặc điểm của từng nông hộ (như kích thước hộ, thu nhập, tuổi của người đi vay,
trình độ học vấn của người đi vay, tình trạng hôn nhân, giới tính). Nhiều nghiên
cứu đã tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm của các hộ gia đình với khả năng tiếp
cận và lựa chọn tín dụng của họ.
Zeller (2001) cho rằng trình độ học vấn của người đi vay càng cao thì khả
năng tiếp cận tín dụng của hộ đó càng lớn và những người này thường có xu
hướng chọn lựa khu vực tín dụng chính thức để vay. Trong khi Lawal (2009) chỉ
ra rằng kích thước hộ lớn thì khả năng tiếp cận tín dụng của hộ sẽ thấp hơn, còn
Marge (2003, trích bởi Isaac, 2012) kết luận tuổi của một người càng lớn thì uy
tín càng cao, do đó khả năng vay được vốn càng lớn, tuy nhiên khi tuổi của người
đó tăng đến một thời điểm nhất định thì xác suất cho vay vốn sẽ giảm.
Kết quả nghiên cứu củaTrần Thọ Đạt (1998) cho rằng nếu giới tính của
người đi vay là nữ thường ít thích tiếp cận tín dụng chính thức. Họ thích vay từ
những chương trình hỗ trợ vốn của phụ nữ hơn vì thủ tục đơn giản và không cần
phải thế chấp tài sản. Dufhues (2012) khẳng định dân tộc của người đi vay có ý
nghĩa trong nghiên cứu về khả năng vay tín dụng. Nghiên cứu của Issac (2012),
Okten (2004) cho rằng tình trạng hôn nhân và người đi vay là chủ hộ có ảnh
hưởng cùng chiều đến tiếp cận tín dụng nhưng không mạnh. Campbel và

cận tín dụng cao hơn Lawal và cộng sự,
2009)

Niềm tin

+

Sự hợp tác

+

Đặc điểm các khoản vay
Lãi suất

+

Tài sản thế chấp

+

Mục đích vay

+

Chi phí vay cao, khả năng tiếp cận tín dụng
thấp hơn (Fuchs và Beck, 2004).
Giá trị tài sản thế chấp cao làm tăng khả năng
tiếp cận tín dụng (Tra và Lensik 2007).
Những người đi vay với mục đích sản xuất
kinh doanh thì khả năng tiếp cận tín dụng

dùng cao ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
vay nên khả năng tiếp cận tín dụng thấp hơn
(Lawal, 2009)
Những người có tuổi đời cao, khả năng tiếp
cận tín dụng cao hơn (Zeller, 2001)
Những người có tuổi đời cao, khả năng tiếp
cận tín dụng cao hơn nhưng đến một
ngưỡng nào đó sẽ giảm xuống (Trà, 2007)
Trình độ học vấn cao sẽ làm tăng khả năng
tiếp cận tín dụng (Zeller, 1994).
Hộ gia đình mà chủ hộ đã kết hôn sẽ được tin
tưởng hơn và do đó tăng khả năng tiếp cận
tín dụng (Lensik và Tra, 2007).
Người đi vay là chủ hộ sẽ có xu hướng tiếp
cận tín dụng tốt hơn (Okten,2004).
Xác suất nam giới tiếp cận tín dụng từ các
ngân hàng cao hơn nữ giới (Isaac,2011).


18

Dân tộc

+

Thu nhập

+

Khoảng cách

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng mạng lưới mà các thành viên hộ
gia đình tham gia và số lượng người có thể giúp đỡ gia đình khi đối mặt với khó
khăn được sử dụng để đo lường mạng lưới xã hội. Ở nông thôn Việt Nam, có
nhiều loại tổ chức hiệp hội khác nhau như hội nông dân, công đoàn, hội phụ nữ,
đoàn thanh niên, tổ chức tôn giáo và các tổ chức xã hội khác được thành lập
nhằm hỗ trợ người dân trong sản xuất và cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt khi ngân
hàng Chính sách Xã hội cung cấp tín dụng cho người dân nông thôn thông qua
các tổ chức này tại địa phương, vai trò của họ được đánh giá ngày càng quan
trọng trong việc hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn tín dụng chính thức. Bên cạnh
đó, sự tương tác giữa các mối quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng và bạn bè
cũng rất hữu ích trong việc hỗ trợ, cung cấp thông tin về việc kinh doanh sản
xuất cũng như các nguồn tín dụng cho vay để giải quyết khó khăn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status