Hành vi ứng phó với biến đổi khí hậu của các hộ gia đình nông thôn ở khu vực ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
HÀNH VI ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN Ở KHU VỰC VEN
BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Hà Nội-2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 3
4.1. Đối tượng nghiên cứu 3
4.2. Khách thể nghiên cứu 3
4.3. Phạm vi nghiên cứu 3
5. Câu hỏi nghiên cứu 3
6. Giả thuyết nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
7.1. Phương pháp thu thập thông tin 4
7.2. Phương pháp xử lý thông tin 6
8. Khung lý thuyết 7
9. Kết cấu luận văn 8
NỘI DUNG CHÍNH 9
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1. Khái niệm công cụ 9
1.1.1. Biến đổi khí hậu 9
1.1.2. Hộ gia đình 12
1.1.3. Hành vi 13
1.1.4. Khu vực ven biển 14
1.2. Lý thuyết tiếp cận 16 1.2.1. Tiếp cận sinh thái nhân văn 16
1.2.2. Lý thuyết hành vi 19
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 20
1.4. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu - khu vực ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế 26
Chƣơng 2. HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỚI NHỮNG
THAY ĐỔI CỦA CÁC HIỆN TƢỢNG THỜI TIẾT 30
2.1. Thực trạng về sự thay đổi của thời tiết và các mô hình sinh kế chính tại khu vực
ven biển Thừa Thiên Huế 30

3.2.1. Nhóm giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu 73
3.2.1.1. Trồng cây 73
3.2.1.2. Trữ nước, tiết kiệm nước 74
3.2.1.3. Thay đổi kiến trúc nhà 74
3.2.1.4. Dùng năng lượng tái tạo 74
3.2.1.5. Xây dựng hệ thống thủy lợi 76
3.2.2. Nhóm giải pháp thích nghi với sự biến đổi khí hậu 78
3.2.2.1. Xây dựng nông nghiệp thích ứng với khí hậu 78
3.2.2.2. Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản thích ứng với khí hậu 79
3.2.2.3. Tái định cư – một cơ hội sinh kế mới 81
3.2.2.4. Hình thành một thói quen mới - bảo hiểm 81
3.2.2.5. Di cư lao động – một hình thức sinh kế mới 82
4.2.2.6. Kè biển 82
3.2.3. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Mối tương quan về tần suất xuất hiện thiên tai ở Việt Nam 27
Bảng 1.2: Đánh giá rủi ro tổng thể do nước biển dâng tại 4 huyện 35
Bảng 2.1: Phân loại nhóm thiên tai theo mức độ tác động ở Thừa Thiên Huế 37
Bảng 2.2: Tỷ lệ hộ gia đình có chăn nuôi và hộ gia đình thu được sản phẩm (Đơn vị:
%) 45
Bảng 2.3: Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết bất thường đến
hoạt động sản xuất nông nghiệp (Đơn vị: %) 51


Con người giờ đây đang ngày càng phải đối diện với nhiều rủi ro trong cuộc
sống cũng như hoạt động sản xuất hàng ngày. Những rủi ro mà mỗi cá nhân, gia
đình, cộng đồng và xã hội có nguy cơ phải đối mặt phổ biến có thể kể đến: thiên tai
do biến đổi khí hậu (BĐKH), bệnh tật, lừa đảo, phá sản, chiếm đoạt tài sản, chiến
tranh, hay thay đổi chính sách… Ngoài ra còn phải kể đến những ảnh hưởng tiêu
cực của quá trình phát triển, đô thị hóa, công nghiệp hóa, thương mại hóa… Trong
những rủi ro đó, BĐKH là khôn lường, thụ động và mang tính phổ biến toàn xã hội
nhất.
Việt nam là nước nằm trong số 10 quốc gia hàng đầu về tần suất bị thiên tai
trên thế giới [43]. Hàng năm, nước ta chịu hàng chục cơn bão, nhiều trận lũ càn
quét, hiện tượng sạt lở đất. Chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất đối với hiện
tượng BĐKH vẫn là người nông dân. Điều này có thể lý giải rằng nước ta là nước
nông nghiệp, việc sản xuất của người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hiện
tượng thời tiết. Vì vậy, họ là đối tượng chịu tác động mạnh bởi các cú sốc từ thiên
tai. Ranh giới giữa các hộ vừa thoát nghèo và tái nghèo sau các cú sốc đang là vấn
đề lớn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt như lũ lụt, bão,
hạn hán, triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển, sạt lở bờ sông… Thiên tai xảy
ra hàng năm và cường độ tần suất bất thường, khó dự đoán, ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển kinh tế xã hội và ổn định cuộc sống của cộng đồng dân cư [50]. Trong các
loại địa hình cư trú, khu vực ven biển là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của
những hiện tượng thời tiết bất thường do biến BĐKH.
Nghiên cứu về BĐKH không phải là chủ đề mới ở địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế. Tuy nhiên, những nghiên cứu này phần lớn còn tập trung vào việc xác định
các chỉ số từ những hiện tượng thiên nhiên như mực nước biển, tốc độ xói mòn,
lượng mưa… Với mong muốn tiếp cận từ khoa học xã hội học, đối với vấn đề thời
2

tiết bất thường, BĐKH ở khu vực ven biển Thừa Thiên Huế, tác giả lựa chọn đề tài
“Hành vi ứng phó với biến đổi khí hậu của các hộ gia đình nông thôn ở khu

- Đề xuất các giải pháp đến các bên liên quan để giúp người dân chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu.
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hành vi ứng phó với biến đổi khí hậu của các hộ gia đình nông thôn ở khu vực
ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là những hộ gia đình sống tại khu vực địa hình ven biển.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: 8/2012 – 12/2012
Không gian nghiên cứu: Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập tại địa bàn 4
huyện ven biển Thừa Thiên Huế: huyện Phú Vang, Phong Điền, Hương Trà, Phú
Lộc (từ cơ sở một phần dữ liệu của dự án “Tác động của các cú sốc tới tính dễ bị
tổn thương đến nghèo đói: “Hậu quả đối với sự phát triển của các nền kinh tế mới
nổi ở khu vực Đông Nam Á”).
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Những hiện tượng thời tiết bất thường nào đang tác động lên khu vực ven
biển Thừa Thiên Huế trong 10 năm trở lại đây?
- Mô hình sinh kế chính và tác động của thời tiết đến các mô hình sinh kế của
hộ gia đình ở khu vực ven biển Thừa Thiên Huế là gì?
- Làm thế nào để những nhóm sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất có thể
đối phó tốt hơn trước xu hướng của BĐKH?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Những hiện tượng thời tiết bất thường hàng năm gây ra nhiều thiệt hại về tài
sản và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các hộ gia đình ở khu vực ven biển.
Bão, lũ là hiện tượng xảy ra thường xuyên, liên tiếp với cường độ mạnh và gây nên
4

nhiều khó khăn cho người dân trong cuộc sống (bao gồm cả nơi cư trú và hoạt động
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngư nghiệp).

Đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên.
Đối với nghiên cứu này, tác giả chỉ sử dụng một số câu hỏi ở bảng hỏi của dự
án với mục đích phù hợp hơn với nội dung thực tế của nghiên cứu.
Các câu hỏi được sử dụng bao gồm:
 Mục 3.2: Các rủi ro
 Mục 4.1: Đất đai
 Mục 4.2: Nông nghiệp
 Mục 4.3: Gia súc/Gia cầm và thủy sản
 Mục 4.4: Đánh cá, săn bắt, thu lượm, đốn gỗ, củi
 Mục 6: Công việc tự làm phi nông nghiệp bao gồm cả tiểu thủ công
nghiệp
 Mục 9.2: Điều kiện về nhà ở
Mục đích bảng hỏi nhằm đưa ra con số định lượng về các thông tin cần thu thập.
Thời điểm khảo sát: 6/2011
+ Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Nhằm tăng tính thuyết phục của các luận cứ được sử dụng trong đề tài, tác giả
đã thực hiện thêm 15 trường hợp phỏng vấn sâu (9 nam, 6 nữ) với các đối tượng:
cán bộ chính quyền, và đại diện các hộ gia đình. Mục đích của phỏng vấn sâu được
chuẩn bị và thiết kế logic với các nội dung cụ thể cùng các câu hỏi rõ ràng liên quan
đến nhận thức, hiểu biết về BĐKH; tác động, ảnh hưởng của BĐKH; các biện pháp
ứng phó và thích ứng với BĐKH; nhu cầu hỗ trợ nhằm ứng phó với BĐKH.
Thời điểm khảo sát: tháng10/2012
+ Thảo luận nhóm:
Tác giả cũng tiến hành 5 cuộc thảo luận nhóm với các nội dung liên quan đến
tình hình kinh tế-xã hội của cộng đồng, lịch sử diễn biến của các hiện tượng liên
quan đến BĐKH, nhận biết hay tiên đoán của người dân đối với thiên tai hay
BĐKH, tác động của BĐKH cũng như kế hoạch ứng phó của cộng đồng đối với
6

BĐKH. Đối tượng tham gia thảo luận nhóm là đại diện các hộ gia đình, và cán bộ

3
1
Vĩnh Xương 1
9
Điền Hải
Minh Hương
8
Thế Chí Đông 1
10

3
3
Phú Vang
Phú Đa
Hòa Tây
10
1
2
Lương Viễn
9
Vinh Hà
Thôn 1
9
2
Thôn 4
10
Vinh Thái
Diêm Trụ
10
2

Thông tin định lượng ở đề tài này được xử lý lại bằng phần mềm SPSS 19.0.
Đối với những phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm do số mẫu không lớn nên tác
giả xử lý bằng phương pháp mã hóa (coding) tìm codes, themes theo từng chủ đề,
nội dung của nghiên cứu.
7

8. Khung lý thuyết
NÔNG NGHIỆP
SINH KẾ KHÁC

GIẢI PHÁP
(Sống chung với BĐKH)
GIẢM THIỂU
THÍCH NGHI
Nâng cao
nhận thức
8

9. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận – khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo,
Phụ lục, bảng biểu, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài: chương này giới thiệu về các
khái niệm công cụ, địa bàn nghiên cứu và bối cảnh nghiên cứu thích ứng với BĐKH
ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Chương 2. Hoạt động ứng phó của hộ gia đình với những thay đổi của các
hiện tượng thời tiết bất thường: tình hình sản xuất của các hộ gia đình, nhận thức
của người dân về tình hình thời tiết, tác động của thời tiết đến sản xuất và sinh hoạt
và ứng phó của người dân về các hiện tượng thời tiết bất thường.
Chương 3. Giải pháp giúp các hộ gia đình ứng phó với biến đổi khí hậu: đề
xuất các nhóm giải pháp giảm thiểu tác động, thích nghi và nâng cao nhận thức về
BĐKH

khung của Liên hợp quốc về BĐKH cho rằng: “BĐKH là sự thay đổi của khí hậu do
hoạt động của con người trực tiếp hay gián tiếp gây ra làm thay đổi thành phần cấu
tạo của khí quyển toàn cầu. Thứ ba, BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm
khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các
nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo [49]. Đây là trạng thái của khí hậu so với trung
bình và/ hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường
là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Như vậy, cả ba định nghĩa trên đều nhấn mạnh đến BĐKH do hoạt động của
con người gây ra. Theo IPCC, BĐKH biểu hiện qua ba khía cạnh: sự thay đổi nhiệt
độ, sự thay đổi lượng mưa, sự dâng lên của mực nước biển, và các hiện tượng thời
tiết cực đoan khác (IPCC, 2007: 26-33). Theo “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng
10

cho Việt Nam” [36], các biểu hiện chính của biến đổi khí hậu bao gồm sự tăng nhiệt
độ toàn cầu, sự thay đổi về lượng mưa và nước biển dâng. Có thể tóm tắt biểu hiện
chính của BĐKH ở Việt Nam trong 100 năm qua như sau:
Biểu hiện về nhiệt độ:
Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,1
0
C qua
mỗi thập kỷ. Nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1-0,3
0
C/thập
kỷ. Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các
tháng cuối mùa.
Có thể nhận thấy nhiệt độ tháng 1 (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ
tháng 7 (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi
cả nước trong 50 năm qua. Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với vào mùa
hè và các vùng có nhiệt độ tăng nhanh hơn là Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng
Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 – 1,5

vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Xu thế diễn biến của lượng mưa hàng
năm hoàn toàn tương tự như lượng mưa mùa mưa nhiều, tăng ở các vùng khí hậu
phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng
mưa mùa ít mưa, mùa mưa nhiều và lượng mưa hàng năm tăng mạnh nhất so với
các vùng khác ở nước ta, khoảng 20% trong 50 năm qua. [30, 71].
Không khí lạnh:
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ qua. Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại xuất hiện mà gần đây nhất là đợt
không khí lạnh rét đậm, rét hại kéo dài vào năm 2008, và 2010 ở Bắc Bộ [30, 73].
Bão:
Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ đạo bão
có dấu hiện dịch chuyển dần về phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều
cơn bão có đường đi dị thường hơn [30, 73].
Mực nƣớc biển:
Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho thấy, tốc độ
dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm
(giai đoạn 1993-2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới. Trong
khoảng 50 năm qua, mực nước biển ở Việt Nam dâng lên khoảng 20 cm [30, 76].
Ngoài ra, với chủ đề BĐKH, trong nghiên cứu này, chúng ta cũng cần hiểu
những khái niệm sau:
Ứng phó với biến đổi khí hậu (response/coping) là các hoạt động của con
người nhằm thích nghi và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH [33, 9].
Thích ứng với biến đổi khí hậu (adaptation) là sự điều chỉnh hệ thống tự
nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích
giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [33, 9].
Nó thể hiện khả năng đối phó hay tiếp nhận những tác động hay sức ép qua cơ chế
phản hồi hoặc phục hồi. Sự thích ứng cũng có nghĩa là các hành động tận dụng
12

những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH. Trong việc đánh giá tác động của

những người sống chung một mái nhà có quan hệ hôn nhân hay chỉ là mối quan hệ
ruột thịt (đồng giới hoặc khác giới) [19].
Đối với nghiên cứu này, xem xét khái niệm hộ gia đình trong mối quan hệ với
nghề nghiệp chính của hộ gia đình đó. Theo đó, phân ra thành: Hộ gia đình làm ngư
nghiệp, hộ gia đình làm nông nghiệp, và hộ gia đình làm các công việc khác được
xếp vào cùng một nhóm như: di cư lao động đi làm việc ở địa phương khác, hộ làm
các nghề tiểu thủ công nghiệp, buôn bán, dịch vụ…
1.1.3. Hành vi
Lý thuyết hành vi cho rằng chúng ta không thể nghiên cứu được những cái gì
mà chúng ta không trực tiếp quan sát được. Nó chỉ nghiên cứu những phản ứng
quan sát được của các cá nhân khi họ trả lời các kích thích. Do đó, tâm lý, ý thức
của con người không phải là đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hành vi.
J.Watson đã đưa ra mô hình hành vi gồm một chuỗi kích thích và phản ứng: S
→ R, trong đó S là tác nhân, R là phản ứng. Theo sơ đồ này, hành vi của con người
là hoàn toàn máy móc, cơ học, không có sự tham gia của ý thức. Như vậy, con người
dường như là những cái máy. Ví dụ, khi sợ hãi khi chúng ta thường la hét, mà không
giải thích được là vì sao. Hạn chế của lý thuyết này là nếu chúng ta không thấy được
phản ứng thì được xem là không có hành vi.
Sau này, thuyết hành vi phát triển, các nhà xã hội học chú ý tới tính xã hội của
hành vi và khái niệm hành vi xã hội trở nên thông dụng hơn. Hành vi xã hội là một
chỉnh thể hệ thống gồm các yếu tố bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo các
nhà hành vi xã hội, các cá nhân phải suy nghĩ, đối chiếu, cân nhắc…mỗi tác nhân trước khi
phản ứng chứ không phải phản ứng một cách máy móc. Chẳng hạn: Bác sĩ mổ cho bệnh
nhân thì bệnh nhân không phải trốn chạy vì đó là chữa bệnh cho mình.
Nhà xã hội học Mỹ G.Mead cho rằng: “Chúng ta có thể giải thích hành vi con
người bằng hành vi có tổ chức của nhóm xã hội. Hành vi không thể thiếu được nếu
xây dựng nó từ các tác nhân và phản ứng”.
Đặc điểm của hành vi: 1) Khi thực hiện hành vi, chúng ta hoàn toàn không suy
nghĩ (tức không đủ thời gian để suy nghĩ) xem ta thực hiện hành động đó như thế
14

15

Vùng ven bờ thường được hiểu là nơi tương tác giữa đất và biển, bao gồm các
môi trường ven bờ cũng như vùng nước kế cận. Các thành phần của nó bao gồm các
vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và
cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn, đầm phá, và các đặc trưng ven bờ
khác. Khái niệm vùng ven bờ thường được xác định một cách tùy tiện, hơi khác
nhau giữa các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp lý và ranh giới hành chính.
Ngoài ra, còn có những sai khác về địa văn (physiography), sinh thái và kinh tế giữa
các vùng khác nhau, do đó không có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về
vùng ven bờ. Thay vào đó, có nhiều định nghĩa bổ sung phục vụ cho những mục
đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét. Ví dụ ở một số
nước chấu Âu, vùng ven bờ mở rộng ra tới lãnh hải, một số nước khác thì lấy ranh
giới đường đẳng sâu làm giới hạn. Còn về ranh giới đất liền thì cũng rất mơ hồ do
tác động của biển vào khí hậu có thể vào đến vùng nội địa bên trong cũng như vùng
đồng bằng ngập lụt rộng lớn.
Theo IUCN (1986), vùng ven bờ được định nghĩa như sau: “Là vùng mà ở đó
đất và biển tương tác với nhau, trong đó ranh giới về đất liền được xác định bởi giới
hạn các ảnh hưởng của biển đến đất và ranh giới về biển được xác định bởi giới hạn
của các ảnh hưởng của đất và nước ngọt đến biển”.
Theo World Bank, vùng ven bờ được hiểu là “… dựa vào những mục tiêu thực
tiễn, mà vùng ven bờ là một vùng đặc biệt có những thuộc tính đặc biệt, mà ranh
giới được xác định, thường dựa vào những vấn đề được giải quyết”.
Từ cách nhìn hệ nhìn hệ thống, lãnh thổ nước ta theo các lát cắt: vùng miền,
trong mỗi vùng miền được chia thành các tiểu vùng và các vùng giáp ranh giữa
chúng. Theo địa hình vùng sinh thái lãnh thổ có các vùng: biển, ven biển, đồng
bằng, trung du, núi và núi cao. Theo không gian kiến tạo kinh tế-xã hội có đô thị,
nông thôn và vùng giáp ranh giữa chúng.
Vùng ven biển là một trong các vùng được xác định theo lát cắt địa hình.
Vùng ven biển được tiếp cận theo các góc độ sau: (1) địa hành chính, là phần lãnh

bản địa mang tính chất sau: Không gian cư trú là các vùng nhạy cảm sinh thái.
Nguồn sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi phi thị trường của các vùng đó.
17

Các vùng nhạy cảm sinh thái có những giá trị kinh tế phi thị trường to lớn, giá
trị này không thể chuyển đổi bằng tiền một cách ồ ạt nhanh chóng. Tuy nhiên nó
cung cấp những lợi nhuận bền vững và từ từ cho cộng đồng bản địa. Các nhà nghiên
cứu thuộc Đại học Mariland Hoa Kỳ (1996) đã xác định các giá trị phi thị trường
của các hệ tự nhiên như sau:
Đại dương và biển có giá trị 252 USD/ha/năm
Vùng ven biển có giá trị 4.052 USD/ha/năm
Rừng nhiệt đới có giá trị 2.007 USD/ha/năm
Đồng cỏ tự nhiên có giá trị 232 USD/ha/năm
Bãi lầy có giá trị 14.785 USD/ha/năm
Hồ, Sông có giá trị 8.498 USD/ha/năm
Khi chuyển đổi phương thức sử dụng, các giá trị phi thị trường bị tổn thất, huỷ
hoại và điều đó tác động xấu ngay đến cộng đồng bản địa.
Các cộng đồng bản địa cư trú trong các hệ thống sinh thái nhân văn nhạy cảm
thường nghèo và có trình độ học vấn thấp. Điều này hạn chế số đông trong cộng
đồng khó chuyển đổi nghề nghiệp và chậm thích nghi với nhịp độ nhanh của quá
trình công nghiệp hoá và quốc tế hoá. Khi quá trình xảy ra, phần đông thành viên
của cộng đồng bản địa mất đi lối sống truyền thống của mình, trở thành những
người làm công rẻ mạt và dễ bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển. Quá trình không
mong muốn này cần được điều chỉnh bằng các chính sách xã hội phù hợp, tuy nhiên
các chính sách này thường đến chậm hơn.
Giá trị của các hệ thống sinh thái nhân văn nhạy cảm trong phát triển bao gồm:
1) Tri thức bản địa là tài sản quốc gia: Các cộng đồng sống trong hệ thống SNN
thường tích luỹ được những tri thức bản địa rất giá trị, đảm bảo cho họ sống hoà
nhập với thiên nhiên; 2) Đa dạng văn hoá: Nếu coi văn hoá là mục tiêu cao nhất của
phát triển thì đa dạng văn hoá là một loại tài sản quý của cộng đồng. Chính các cộng

cho cộng đồng/ hệ sinh thái xã hội.
Tiếp cận sinh thái nhân văn đứng trên quan điểm xem vùng ven biển Thừa
Thiên Huế là một hệ sinh thái nhân văn. Sự phát triển bền vững của hệ được chi
phối bởi các giá trị tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Trích đoạn Xây dựng hệ thống thủy lợi Hình thành một thói quen mớ i bảo hiểm Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status