ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
PHẠM THỊ HỒNG NGỌC
HOÀN THIỆNCHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỂ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
PHẠM THỊ HỒNG NGỌC
HOÀN THIỆNCHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỂ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
ở Việt ........................................................................................................... 35
2.2.1. Quá trình triển khai chính sách thuế đối với phát triển DNNVV ở
Việt Nam thời gian qua ........................................................................... 35
2.2.2. Đánh giá chung việc triển khai chính sách thuế đối với phát triển
DNNVV ở Việt Nam trong thời gian qua ............................................... 57
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
THUẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DNNVV Ở VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN
2020 ................................................................................................................. 74
3.1. Định hướng hoàn thiện chính sách thuế ở Việt Nam ........................... 74
3.1.1 Dự báo tình hình kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2020 ............. 74
3.1.2 Mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế đến năm 2020 ...................... 76
3.1.3 Định hướng chính sách thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, thuế
TNDN ở Việt Nam trong thời gian tới .................................................... 77
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách thuế để phát triển DNNVV ở
Việt Nam ..................................................................................................... 78
3.2.1 Về thuế GTGT................................................................................ 79
3.2.2 Về thuế xuất, nhập khẩu. ................................................................ 81
3.2.3 Về thuế TNDN ............................................................................... 83
3.2.4. Tăng cường công tác quản lý thuế ................................................ 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 93
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Doanh nghiệp
6
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
7
DNNVV
Doanh nghiê ̣p nhỏ và vừa
8
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
9
GTGT
Giá trị gia tăng
10
IMF
DANH MỤC BẢNG
STT
Số hiệu
Tên bảng
1
Bảng 1.1
2
Bảng 2.1 Tình hình thu thuế GTGT từ các DNNVV
42
3
Bảng 2.2 Tình hình thu thuế xuất nhập khẩu từ các DN
48
4
Bảng 2.3 Tình hình thu thuế TNDN từ các DNNVV
56
34
3
Hình 2.3
Lợi nhuận trước thuế của các DNNNVV Việt Nam
34
iii
Trang
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.
DNNVV có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi
nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh tranh
toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNNVV nhằm
huy động tối đa các nguồn lực, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. Về số
lượng, các DNNVV chiếm ưu thế tuyệt đối: chiếm trên 97% ở Nhật Bản, Đức
và ở Việt Nam cũng chiếm khoảng 97% trong tổng số các doanh nghiệp. Sự
phát triển của DNNVV đã góp phần quan trọng giải quyết những mục tiêu
kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, DNNVV đăng ký hoạt động chiếm 97% tổng số DN trong
nền kinh tế. Tỷ lệ tăng trưởng DNNVV thành lập mới tại các tỉnh, thành phố
bình quân là 22%/năm, còn đối với các tỉnh khó khăn là 15%. Các DNNVV
Việt Nam phát triển ở tất cả các ngành, vùng miền trong cả nước, huy động
nguyên nhân của những hạn chế này do đâu?
- Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện chính sách thuế để phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong thời gian sắp tới?
2. Tình hình nghiên cứu:
Vấn đề hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh nói chung, tài
chính nói riêng của các DNNVV ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã được
một số nhà khoa học, các viện, các trung tâm nghiên cứu kinh tế quan tâm
nghiên cứu, đã có một số công trình được công bố như:
Luận án tiến sỹ “Phát huy vai trò của nhà nước trong phát triển
DNNVV ở Việt Nam” của Lê Quang Mạnh đã chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh
hưởng đến sự phát triển của các DNNVV. Bằng việc phân tích tính hiệu quả
của những can thiệp từ nhà nước vào các yếu tố này, luận án đã rút ra những
2
thành tựu bước đầu và cả những hạn chế của nhà nước ta trong thời gian qua
và xây dựng mô hình nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để phát triển
DNNVV. Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu xem xét vai trò của nhà nước trong
việc hỗ trợ nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp; ....
Luận án tiến sỹ “Phát triển chiến lược cạnh tranh cho các DNNVV Việt
Nam trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới ” của Phạm Thuý Hồng phân
tích năng lực cạnh tranh của các DNNVV từ đó đề ra một số giải pháp phát triển
chiến lược cạnh tranh cho các DNNVV trong quá trình hội nhập
Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế “Sử dụng các công cụ tài chính
để khuyến khích và định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam”của Bạch Đức Hiển(1996) đã đánh giá thực trạng sử dụng các công cụ
tài chính vĩ mô như chính sách tín dụng, thuế, chi NSNN... trong việc phát
triển DNNVV và đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển DNNVV bằng việc
sử dụng công cụ tài chính; Luận án tiến sỹ "Các giải pháp tín dụng nhằm thúc
đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam" của Nghiêm Văn
sách thuế nhằm thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV ở Việt Nam trong thời
gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thuế ở Việt Nam tác động tới
DNNVV
Phạm vi nghiên cứu: Trong chính sách thuế tại Việt Nam bao gồm
nhiều sắc thuế nhưng có ba sắc thuế cơ bản, áp dụng nhiều và có ảnh hưởng
trực tiếp đối với phần lớn các DNNVV là thuế giá trị gia tăng; thuế xuất, nhập
khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt,…
chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận nhỏ các DNNVV). Trong phạm vi luận văn,
tôi xin đi sâu nghiên cứu 3 sắc thuế cơ bản: thuế giá trị gia tăng; thuế xuất,
nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2009 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
4
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong quá trình nghiên cứu,
luận giải tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học
kinh tế như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,... sử dụng
các đồ thị, sơ đồ, bảng biểu để minh họa.
6. Kết cấu của luận văn:
Nội dung của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận bao gồm các
chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách thuế đối
với phát triển DNNVV
Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với phát triển DNNVV ở
Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với
6
cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp
đối với DNNVV của mỗi nước. Chính vì thế, khái niệm DNNVV mang tính
tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển KTXH nhất định của
từng quốc gia.
Ở Việt Nam, trước tháng 6/1998 sử dụng 2 tiêu thức chủ yếu là lao
động và vốn, song do không có quy định chính thức của Chính phủ nên việc
lượng hoá các tiêu thức tuỳ thuộc quy định của từng cơ quan chức năng và
không có sự thống nhất. Theo quy định tại công văn số 681/CP-KTN ngày
22/06/1998 của Chính phủ thì các doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ VND
và có số lao động dưới 200 thuộc DNNVV. Theo quy định tại Nghị định số
90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, khái niệm DNNVV được
hiểu như sau: DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập; đã đăng ký kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc
số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình
KTXH cụ thể của ngành, của địa phương, trong quá trình thực hiện các biện
pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí
vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên.
Đến năm 2009, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ
giúp phát triển DNNVV, khái niệm DNNVV được định nghĩa như sau:
DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,
được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng
nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong Bảng cân đối kế
toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu
tiên). Đối với ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, ngành công nghiệp và xây
dựng: doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 trở xuống;
doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống
8
1.1.3.Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
Thứ nhất, DNNVV đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế và
ổn định xã hội của mỗi nước. Phát triển DNNVV góp phần quan trọng vào
tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt đối với những nước có trình độ phát triển kinh tế
thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNNVV tạo ra
thường chiếm tỷ trọng lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng kinh
tế. Ở các nước Châu Âu, DNNVV tạo ra khoảng 65% tổng doanh thu trong
nền kinh tế; ở các nền kinh tế APEC, DNNVV đóng góp 35% tổng doanh số
xuất khẩu (chiếm khoảng 12% GDP của APEC). DNNVV cũng đã và đang
góp phần quan trọng vào thực hiện thành công chiến lược toàn diện về tăng
trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
Thứ hai, DNNVV có vai trò quan trọng trong tạo công ăn việc làm, thất
nghiệp, góp phần ổn định chính trị xã hội. Ở hầu hết các nước, lao động làm
việc trong các DNNVV thường chiếm trên 60% tổng lao động cả nước. Ở các
nước Châu Âu, DNNVV thu hút khoảng 66% tổng lao động xã hội; ở các nền
kinh tế APEC, DNNVV thu hút khoảng 80% tổng lao động xã hội.
Thứ ba, DNNVV là lực lượng quan trọng đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu
dùng cho xã hội, sản xuất các sản phẩm công nghiệp, thủ công mỹ nghệ và duy
trì, phát huy ngành nghề truyền thống. Các DNNVV lớn về số lượng và năng
động trong SXKD nên đã tạo ra một khối lượng hàng hoá dịch vụ đáng kể, đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng.
Thứ tư, DNNVV tạo nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho bộ
phận lớn dân cư, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa
các bộ phận dân cư, giữa các vùng, các địa phương, đồng thời tạo ra sự phát
triển tương đối đồng đều giữa các vùng, miền trong mỗi quốc gia.
9
phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện các kế hoạch và chiến lược phát triển
KTXH của quốc gia trong thời kỳ tương ứng.
Ở đây, nội hàm của chính sách thuế là chính sách về sử dụng các công
cụ thuế, là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Nhà nước về sử
dụng các công cụ thuế và bao gồm cả các giải pháp thực hiện để đạt được
mục tiêu đó. Bản chất của chính sách thuế đó là chính sách sử dụng các công
cụ luật thuế của Nhà nước để phát triển, khai thác, động viên và sử dụng
nguồn tài chính một cách có hiệu quả nhất định, hạn chế đến mức thấp nhất
tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Chính sách thuế có phạm vi rất rộng,
bao gồm toàn bộ việc sử dụng các luật thuế như thuế GTGT, thuế TNDN,
thuế XNK,… Nói cách khách, mỗi chính sách về sử dụng từng loại thuế khác
nhau là một bộ phận hợp thành của chính sách thuế.
Các luật thuế là các công cụ được sử dụng để thu hút, tập trung các
nguồn tài chính, để tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ như: thuế
GTGT, thuế TNDN, thế XNK,… Đây là một bộ phận hợp thành của hệ thống
công cụ quản lý KTXH của Nhà nước. Số lượng và chủng loại các luật thuế
xuất hiện và tồn tại tuỳ thuộc vào sự xuất hiện và tồn tại của các quỹ tiền tệ
bắt nguồn từ đòi hỏi khách quan của đời sống KTXH.
Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế là những biện pháp cụ thể được
Nhà nước sử dụng nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các luật thuế trong từng
giai đoạn, từng điều kiện cụ thể, đảm bảo thực hiện được mục tiêu của chính
sách thuế. Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế là một bộ phận không tách rời
của chính sách thuế, được đề ra để phát huy tối đa hiệu quả của các luật thuế.
1.2.2. Nội dung chính sách thuế
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa
vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp
11
DN) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu
thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu. Đối tượng chịu thuế giá trị gia
tăng (GTGT) là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng
ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước
ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT ( Sản phẩm trồng trọt (bao
gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh
bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu; Sản
phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng; Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo
vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch
sản phẩm nông nghiệp;… ).
- Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.
Thuế GTGT = Giá tính thuế x thuế suất thuế GTGT.
+ Giá tính thuế GTGT được qui định cụ thể cho từng loại hàng hoá,
dịch vụ, hàng hoá nhập khẩu, tiêu dùng nội bộ, hàng hoá dùng để trao đổi...
+ Mức thuế suất thuế GTGT được qui định cho từng nhóm hàng, loại sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước cần đẩy mạnh khuyến khích phát triển
như mức thuế suất thấp nhất (0%) được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất
khẩu; mức trung bình (5%) áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho nhu
cầu, đời sống của con người như sản xuất nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt
của dân cư, phân bón, thuốc trừ sâu, dụng cụ y tế, giáo cụ phục vụ giảng dạy và
học tập... và mức cao nhất (10%) áp dụng đối với hoạt động khai thác, hoá chất,
mỹ phẩm, khách sạn, du lịch, ăn uống, xây dựng, lắp đặt,v.v...
- Phương pháp tính thuế GTGT:
Thuế GTGT phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc
phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.
13
Giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ bán ra là giá bán chưa có thuế
GTGT.
+ Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Thuế GTGT
phải nộp
=
GTGT của
hàng hoá,
dịch vụ
GTGT của hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế
Giá thanh toán của
=
hàng hoá, dịch vụ
bán ra
x
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ đó
Giá thanh toán của hàng
- hoá, dịch vụ mua vào
tương ứng
về hải quan; hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại của
các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên chính phủ,
các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài, các tổ chức
kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại, nhằm phát
triển kinh tế-xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông
qua các văn kiện chính thức giữa hai bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến
tranh, thiên tai, dịch bệnh; hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước
ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử
dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang
15
khu phi thuế quan khác; hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của
Nhà nước khi xuất khẩu.
- Phương pháp tính thuế:
Thuế xuất, nhập khẩu
phải nộp
= Giá tính thuế
x
Thuế suất
thuế XNK
+ Giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu theo
hợp đồng.
Giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến
1.2.2.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) là một loại thuế trực thu
đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp. Đây là sắc thuế trực thu, người nộp
thuế và người chịu thuế là một; là sắc thuế đảm bảo công bằng theo chiều
dọc; có tác dụng đảm bảo an sinh xã hội, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và
mang lại nguồn thu lớn cho NSNN. Thuế TNDN là nguồn thu chủ yếu của
NSNN; là công cụ quan trọng để phân phối lại thu nhập, giảm khoảng cách
giàu nghèo và là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Người nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (gọi là doanh nghiệp). Người nộp thuế cụ
thể bao gồm: doanh nghiệp; các đơn vị sự nghiệp công lập , ngoài công lập có
sản xuất kinh doanh hàng hoá , dịch vụ có thu nhập trong tấ t cả các lĩnh vực ;
các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã; Doanh nghiệp
được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh
nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Tổ chức khác có hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ và có thu nhập chịu thuế;
17
- Thông thường thuế TNDN được xác dịnh theo công thức sau:
Thuế TNDN = Thu nhập chịu thuế * Thuế suất thuế TNDN
+ Thu nhập chịu thuế: Phương pháp tính thuế ảnh hưởng quan trọng đối
với mỗi sắc thuế mà các DNNVV chịu sự điều tiết. Cách thức xác định doanh
thu, chi phí khác nhau cũng ảnh hưởng đến nội dung nghĩa vụ thuế của
DNNVV. Thông thường, thu nhập chịu thuế được xác định bằng hiệu số giữa
doanh thu chịu thuế trong kỳ và chi phí hợp lý, hợp lệ để tạo ra doanh thu đó.
Đối với mỗi loại hình DNNVV hay trong những ngành nghề kinh doanh khác
nhau thì các yếu tố cấu thành doanh thu và chi phí cũng khác nhau, trong khi
pháp luật thuế chưa bao quát được mọi khoản thu nhập và chi phí phát sinh