Giáo trình giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học - Pdf 67

ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
-------------------------------------------
HOÀNG NGỌC VĨNH
GIÁO TRÌNH
GIỚI THIỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT
HỌC
Nhà xuất bản Đà Nẵng
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
THS. GVC HOÀNG NGỌC VĨNH
GIÁO TRÌNH
GIỚI THỆU CÁC TÁC PHẨM
KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC
NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG -2005
2
GIỚI THIỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC
THS.GVC HOÀNG NGỌC VĨNH
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc: VÕ VĂN ĐÁNG
Tổng biên tập: NGUYỄN ĐỨC HÙNG
Biên tập: NGUYỄN KIM HUY
Bìa và trình bày: TIẾN LINH
In 1.000 cuốn, khổ 16x24 cm tại Công ty cổ phần in Thừa Thiên Huế – 57
Bà Triệu-Huế. Theo TNKH số 135/1834/XB – QLXB Cục xuất bản cấp ngày 17
tháng 12 năm 2004. Giấy trích ngang XB số: 174-XB, của NXB Đà Nẵng cấp
ngày 23/3/2005. In xong nộp lưu chiểu tháng 5 năm 2005.
MỤC LỤC
3
LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................................................................................................4

Chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 10 năm 2002
Th.s Hoàng Ngọc Vĩnh
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC
VÀ F.ENGHEN
I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
5
Vào những năm 1845-1846, Tây Âu đang tiến nhanh đến một cuộc cách
mạng mới. Phong trào công nhân phát triển mạnh và rộng rãi khắp châu Âu
nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Lúc này C.Mác và F.Enghen đã đi sâu vào hoạt động chính trị, hai ông
nhận thấy cần phải xây dựng một lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học để phân
ranh giới rõ ràng giữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản với hệ tư tưởng của giai
cấp tư sản, tiểu tư sản, vạch con đường đi đến chủ nghĩa cộng sản một cách hiện
thực mà giai cấp vô sản đang đi vào một cách tự phát.
Theo F.Enghen, lúc này (mùa xuân 1845) quan niệm duy vật ở C.Mác đã
hình thành đầy đủ. Hai ông nhất trí lấy quan niệm đó để phê phán toàn bộ nền
móng triết học cổ điển Đức sau Heghen.
Phê phán “Hệ tư tưởng Đức” là mục đích của tác phẩm: ”Muốn đánh giá
đúng cái bịp bợm triết học đó, nó thậm chí làm thức tỉnh trong lòng người thị
dân Đức trung thực một tình cảm dân tộc dễ chịu, muốn hiểu rõ tính nhỏ nhen,
tính thiển cận địa phương của toàn bộ phong trào của phái Hêghen trẻ đó, và đặc
biệt muốn hiểu rõ sự trái ngược vừa bi đát vừa buồn cười giữa những chiến công
hiện thực của các vị anh hùng đó, với những ảo tưởng của họ về chính những
chiến công ấy thì cần phải xem xét tất cả sự ầm ĩ đó theo một quan điểm ở bên
ngoài nước Đức”
1
.
“Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của C.Mác và F.Enghen vào
cuối giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác: Lúc mà hai ông đã khắc phục chủ

- I Phơ bách Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và duy tâm. Trang 7 -9
(261 - 263).
- Phơ bách A. Hệ tư tưởng nói chung, hệ tư tưởng Đức nói riêng. Trang
10 -13 (264 - 267).
- [1]. Hệ tư tưởng Đức nói chung, triết học Đức nói riêng. Trang 13
- 26 (267 - 279).
- [2]. Trang 26 - 64 (279 - 314).
- [3]. Trang 64 - 70 (314 - 321).
- [4]. Trang 71 - 114 (321 - 362).
- Quan hệ của nhà nước và pháp quyền với sở hữu. Trang 114 - 120
(363 - 369).
III. NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA TÁC PHẨM.
Tác phẩm có hai nội dung chính: Phê phán triết học Đức sau Hêghen và
Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác và
F.Enghen.
1. Phê phán triết học Đức sau Heghen.
- Trong tác phẩm hai ông đã chỉ rõ: Phái Heghen trẻ om sòm tự xưng là
cách mạng, nhưng trên thực tế họ không vượt qua chủ nghĩa duy tâm của
Heghen. Họ “tin rằng, tôn giáo, khái niệm, cái phổ biến thống trị trong thế giới
hiện tại”. Họ phê phán ý thức hiện nay - cái mà họ cho là sai lầm - đòi thay thế
nó bằng ý thức phê phán - những quan niệm của chính họ, nhưng trên thực tế họ
là những kẻ bảo thủ, chỉ cách mạng bằng lời lẽ mà thôi: “Mặc dù họ đã dùng
những lời lẽ khoa trương dường như làm đảo lộn thế giới, các nhà tư tưởng của
phái Hêghen trẻ vẫn là những kẻ đại bảo thủ. Những người trẻ nhất trong bọn họ
đã tìm được những từ ngữ chính xác để chỉ hoạt động của họ, khi họ tuyên bố
7
rằng họ chỉ đấu tranh chống lại “những câu nói”... Không một người nào trong
những nhà triết học đó có ý nghĩ tự hỏi xem mối liên hệ giữa triết học Đức với
hiện thực Đức là như thế nào, mối liên hệ giữa sự phê phán của họ với hoàn
cảnh vật chất của chính bản thân họ là như thế nào”

người là đối tượng cảm tính, một thực thể có cảm giác và tình cảm (ở điểm này
ông hơn các nhà triết học duy vật máy móc), nhưng ông ta không thấy giữa
người với người một mối quan hệ nào khác ngoài tình bạn, tình yêu. Thậm chí
ông ta coi tình bạn, tình yêu là động lực quan trọng nhất của lịch sử. Cái nơi cần
giữ lập trường duy vật nhất thì ông ta lại duy tâm sa lầy trong cái trừu tượng về
con người và không bao giờ đi tới được con người hiện thực, con người xã hội:
“Đành rằng so với những nhà duy vật thuần tuý thì Feuerbach có ưu điểm lớn là
ông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”; nhưng hãy gạt
bỏ việc ông coi con người chỉ là “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là
2
Sách đã dẫn - Trang 13.
3
Sđd - Trang 33.
8
“hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ông vẫn còn bám vào lý luận và
không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong
những điều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trở
thành những con người đúng như họ đang tồn tại, thì Feuerbach cũng không bao
giờ đi tới được những con người đang tồn tại và hành động thực sự, mà ông vẫn
cứ dừng lại một sự trừu tượng: “Con người” và có thể nhận ra con người ”hiện
thực, cá thể, bằng xương bằng thịt” chỉ trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không
biết đến những “quan hệ con người”, “giữa người với người” nào khác, ngoài
tình yêu và tình bạn, hơn nữa là tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá. Ông
không phê phán những điều kiện hiện tại”
4
.
+ Hai ông cũng chỉ rõ, thái độ tĩnh quan của Ludwig Feuerbach đã dẫn
ông ta đến tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử xã hội, coi con người là sản phẩm của
tự nhiên, phục tùng những quy luật của tự nhiên, những quy luật sinh học. Ông
ta chỉ thấy cái tự nhiên mà không thấy cái xã hội ở con người. Ông ta đã tách rời

sinh học ở con người; Ý thức con người hình thành và hoạt động trên cơ sở nền
tảng sinh học của con người; Hệ thống các quy luật xã hội tạo nên cái xã hội của
con người, nó quy định mối quan hệ giữa người với người. Trong đời sống hiện
thực ba quy luật đó không tách rời nhau mà đan quyện hoà vào nhau, tạo nên
bản chất con người với tư cách là cái đồng nhất của cái tự nhiên sinh học và cái
xã hội. Con người trước hết là một động vật bậc cao. Nhưng con vật chỉ tái sản
xuất ra chính mình, còn con người thì còn tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên.
Nhu cầu tự nhiên của con người được biểu hiện ở các mặt: nhu cầu ăn, ở, mặc...;
nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình
cảm và nhu cầu hiểu biết. Để đáp ứng những nhu cầu đó con người cần phải lao
động. Trong lao động con người quan hệ với nhau, hình thành nên những quan
hệ khác trong lĩnh vực đời sống tinh thần. Chính thế C.Mác khẳng định “trong
tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”. Bản
chất con người không là cái bẩm sinh cũng không là cái chỉ sinh ra một lần là
xong, mà nó là một quá trình được trải qua hoạt động thực tiễn. Trong quá trình
đó con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh vừa cải biến hoàn cảnh. Con người
vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của mình.).
+ Hai ông chỉ rõ “toàn bộ suy diễn của Ludwig Feuerbach về quan hệ
giữa người với người chỉ nhằm chứng minh người ta cần có nhau và bao giờ
cũng cần có nhau. Cũng như những nhà duy lý khác, Ludwig Feuerbach không
phải là một nhà cách mạng, mà là một nhà bảo thủ. Lý luận của Ludwig
Feuerbach chỉ là sự ca tụng tuyệt diệu cái đang tồn tại. Ông ta viết “Bản chất của
tôi như thế nào thì tồn tại của tôi như thế ấy”. Cái đang tồn tại mà Ludwig
Feuerbach ca ngợi chính là trật tự tư sản. Là người có tấm lòng nhân đạo,
Ludwig Feuerbach không thể thờ ơ với cảnh khổ của người lao động. Nhưng là
nhà dân chủ tư sản ông ta không thể nhìn thấy được nguyên nhân của tình cảnh
ấy và lối thoát hợp quy luật khỏi tình cảnh đó. Ông ta không có ý thức bênh vực
trật tự dân chủ tư sản, mà chính do hạn chế bản chất giai cấp của tư tưởng của
ông ta tạo ra. Ludwig Feuerbach không phủ định mà thừa nhận sự tồn tại của cáí
đang tồn tại. Mà cái đang tồn tại không là cái gì khác ngoài hơn là trật tự dân

việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất, và đó là một hành vi lịch sử, một
điều cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước
người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống con
người”
5
. Như vậy tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử suy cho cùng là việc sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt.
Hai ông chỉ ra quan hệ lịch sử thứ hai là sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên đưa
tới những nhu cầu mới. Và sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch
sử đầu tiên. Nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu thì phải sản xuất, nhưng chính sản
xuất lại tạo ra những nhu cầu mới. Đến lượt nó, những nhu cầu mới lại trở thành
nguyên nhân của sự phát triển sản xuất. “Bản thân nhu cầu đầu tiên được thoả
mãn - khi đã có được hành động được thoả mãn ấy và công cụ đạt được để thoả
mãn nhu cầu ấy - đưa tới những nhu cầu mới”, chính là tiền đề quan hệ lịch sử
thứ hai, trong xây dựng quan niệm duy vật lịch sử của hai ông.
Quan hệ lịch sử thứ ba là trong tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính
bản thân mình, thì con người cũng tái sản xuất ra con người thông qua quan hệ
gia đình. Tức là, trong khi tái sản xuất ra đời sống của chính mình, thì con người
cũng sản xuất ra những con người khác, con người luôn sinh sôi nảy nở. Khi
những nhu cầu đã tăng lên sinh ra những nhu cầu mới thì quan hệ gia đình cũng
là một quan hệ phụ thuộc. Gia đình lúc đầu là quan hệ xã hội duy nhất, về sau
trở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhu cầu đã tăng lên đẻ ra những
5
S đ d Trang 34.
11
quan hệ xã hội mới và dân số đã tăng lên đẻ ra những nhu cầu mới. Ba mặt đó
của hoạt động xã hội là ba mặt hay ba yếu tố tồn tại đồng thời với nhau ngay từ
buổi đầu của lịch sử, từ khi con người đầu tiên xuất hiện, và chúng còn biểu hiện
ra trong lịch sử.
Thứ tư là sự sản xuất ra bản thân đời sống (vật chất) là một quan hệ hai

vật chất với lao động tinh thần thì từ đó ý thức thực sự có thể tưởng tượng rằng
nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có. Phân tích
mối quan hệ giữa ý thức với thực tiễn, đặc biệt từ sau khi có sự phân công lao
động vật chất với lao động tinh thần, C.Mác và F.Enghen khẳng định: ý thức (lý
luận) chỉ mâu thuẫn với những quan hệ hiện có khi những quan hệ xã hội hiện
có mâu thuẫn với sức sản xuất hiện có. Hoạt động tinh thần không tách rời với
hoạt động vật chất. Ý thức không độc lập với đời sống vật chất, mà trái lại phải
phụ thuộc vào nó. Như vậy, quan hệ lịch sử thứ năm mà C.Mác và F.Enghen xét
đến là quan hệ giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần; giữa đời sống vật
6
S đ d Trang 36.
7
S đ d Trang 37.
12
chất và ý thức (hoạt động tinh thần, ý thức đã tách mình ra không thống nhất với
hoạt động vật chất, đời sống vật chất). Ý thức ở con người ban đầu dù chỉ là ý
thức về giới tự nhiên thì tự nó tất yếu phải quan hệ với những người xung quanh
nó phải là một ý thức xã hội. Bước đầu dù mang tính động vật thì con người
khác với động vật ở chỗ trong con người ý thức thay thế bản năng hoặc bản
năng của con người là bản năng được ý thức. Phân công lao động chỉ trở thành
phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật
chất và lao động tinh thần
C.Mac và F.Enghen đã hoàn thành việc xây dựng năm tiền đề cho quan
niệm duy vật về lịch sử của mình bằng cách: Từ sản xuất mà giải thích giao dịch
vật chất và giao dịch tinh thần, từ giai đoạn công nghiệp mà giải thích giai đoạn
xã hội và giai đoạn tư tưởng. Chính phương thức sản xuất vật chất quyết định
hình thức giao dịch (xã hội công dân, cơ sở của toàn bộ lịch sử), trên cơ sở đó
xây dựng nên chế độ nhà nước và mọi hình thái ý thức.
C.Mac và F.Enghen tom tắt “quan niệm đó về lịch sử là ở chỗ: xuất phát
từ chính ngay sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp mà xem xét quá trình

đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói một
cách khác giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực
lượng tinh thần thống trị. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất
thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung
tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị
giai cấp thống trị đó chi phối. Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì
khác, mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị,
chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư
tưởng; Do đó là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giai
cấp trở thành giai cấp thống trị; nói cách khác đó là những tư tưởng của sự thống
trị của giai cấp ấy.”
9

b) Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và F.Enghen.
1- C.Mac và F.Enghen xuất phát từ sản xuất vật chất mà lý giải “hình thức
giao dịch”. Hai ông đã phân tích quá trình sản xuất vật chất từ chiếm hữu nô lệ
đến tư bản chủ nghĩa rồi phát hiện ra: Trình độ phát triển của sức sản xuất biểu
hiện trong trình độ phát triển của phân công lao động, mà mỗi giai đoạn của
phân công lao động cũng quyết định những quan hệ cá nhân với nhau phù hợp
với những quan hệ của họ đối với tư liệu, công cụ và sản phẩm lao động. Hai
ông kết luận: Sức sản xuất (lực lượng sản xuất) quyết định hình thức giao dịch
(quan hệ sản xuất). Cốt lõi của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu. Hai ông đã
rút ra từ trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ cái cơ bản nhất quyết
định mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là quan hệ sản
xuất (quan hệ sản xuất được hai ông gọi là hình thức giao dịch, hay quan hệ giao
dịch, hay phương thức giao dịch, hay quan hệ sản xuất và giao dịch). Quan hệ
sản xuất là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất bởi lẽ nó trực tiếp quyết
định toàn bộ kết cấu bên trong của một dân tộc. Tức là, hai ông đã quy toàn bộ
quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người trên cả hai bình diện vật chất và
tinh thần) về sự quyết định của quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người

rõ bản chất giai cấp các hệ tư tưởng, chỉ rõ sự khác biệt giữa hệ tư tưởng của
giai cấp thống trị với hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng. “Tư tưởng của giai
cấp thống trị là tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại”. Điều đó có nghĩa là giai
cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì đồng thời là lực lượng
thống trị tinh thần trong xã hội. Hệ tư tưởng của mỗi giai cấp là phản ánh tồn tại
xã hội của giai cấp đó vào ý thức chủ quan của nó, là biểu hiện chủ quan của tồn
tại khách quan của nó. Sự tồn tại của những tư tưởng cách mạng trong mỗi thời
đại nhất định phải đã có sự tồn tại của giai cấp cách mạng làm tiền đề.
4- C.Mac và F.Enghen đã nêu ra và chứng minh rằng, tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội.
- Quan niệm duy tâm cho rằng dường như mỗi giai đoạn lịch sử có những
tư tưởng nào đó thống trị xã hội vì nó chính xác hơn, hợp lý hơn.
- Hai ông bác bỏ quan niệm đó và chỉ ra rằng, mỗi giai cấp mới thay thế
cho giai cấp thống trị cũ, bao giờ cũng buộc phải nêu lợi ích của bản thân mình
thành lợi ích chung của toàn xã hội. Nói một cách trừu tượng là làm cho những
tư tưởng của bản thân mình mang hình thức phổ biến, nêu nó thành tư tưởng duy
nhất hợp lý, có ý nghĩa phổ biến. Sở dĩ như thế là vì, ban đầu lợi ích của nó gắn
liền với lợi ích của các giai cấp bị trị chưa phát triển thành lợi ích riêng biệt của
một giai cấp riêng biệt được.
5- Xuất phát từ sự phát triển sức sản xuất biểu hiện trong trình độ của
phân công lao động, C.Mac và F.Enghen chỉ ra các hình thức sở hữu trong lịch
sử rằng: “Những giai đoạn khác nhau của phân công lao động đồng thời cũng là
những hình thức khác nhau của sở hữu”. Tức tương ứng với những giai đoạn
15
khác nhau của phân công lao động là những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
khác nhau ứng với nó.
- Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu thị tộc. Đây là hình thức sở hữu tập
thể (công xã) phù hợp với giai đoạn chưa phát triển sản xuất, con người còn
sống nhờ săn bắn, chăn nuôi và nhiều lắm là trồng trọt. Chế độ nô lệ gắn liền với
gia đình phụ quyền đã nảy sinh trong lòng nó hình thức sở hữu tư nhân dưới

quan hệ sản xuất, nó là động lực kinh tế, là nguồn gốc cơ bản của lịch sử).
6- C.Mac và F.Enghen chỉ ra những đặc điểm của phân công lao động
trong xã hội có giai cấp:
16
- Phân công lao động luôn gắn liền với chế độ tư hữu. Là sự phân công
lao động ngay từ đầu đã bao hàm sự phân chia không đồng đều về những điều
kiện của lao động, là sự tách rời giữa lao động tích lũy và lao động thực tại, do
vậy cũng bao hàm luôn cả sự phân phối không đồng đều những sản phẩm của
quá trình lao động tạo ra. Theo nghĩa đó, phân công lao động chỉ trở thành phân
công lao động thực sự khi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất, hưởng thụ
và lao động, sản xuất và tiêu dùng được chia phần cho những cá nhân khác
nhau. Tư hữu như vậy là hậu quả của phân công lao động. Tư hữu chính là
quyền chi phối sức lao động của người khác. (Nhưng tư hữu không phải là sở
hữu cá nhân. Bộ áo quần của cá nhân là sở hữu tư nhân chứ không là tư hữu, bởi
bộ áo quần cá nhân không cho cá nhân khả năng sử dụng bất kỳ một lực lượng
lao động nào dù là nhỏ nhất của kẻ khác. Ở đây cũng cần phải lưu ý phân biệt và
không bao giờ được nhầm lẫn rằng: xoá bỏ tư hữu cũng là xoá bỏ sở hữu tư
nhân. Chúng ta đang dần xóa bỏ tư hữu đối với tư liệu sản xuất, nhưng không
xóa bỏ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất. Bởi lẽ, người lao động nếu không
được sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất thì không thể tiến hành sản xuất vật
chất được.)
- Chính phân công lao động đã hình thành sự giao dịch giữa lợi ích cá
nhân với lợi ích chung. C.Mac và F.Enghen chỉ ra trong xã hội có giai cấp, lợi
ích chung dưới dạng nhà nước chỉ là một hình thức cộng đồng ảo tưởng, vì nó là
công cụ bảo vệ lợi ích chỉ cho giai cấp thống trị. Chính vậy, nhà nước - cái “xa
lạ không phụ thuộc” vào cá nhân - trở nên cần thiết để trấn áp những lợi ích
riêng biệt luôn luôn thực sự chống lại những lợi ích chung và chung một cách ảo
tưởng.
- Phân công lao động trong xã hội có giai cấp đẻ ra tình hình: hành động
của con người trở nên một lực lượng xa lạ, chống đối chính con người, nô dịch

liệt giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động; Hai là, sự
phát triển của sức sản xuất làm cho sản xuất và giao dịch có tính chất thế giới,
lịch sử biến thành lịch sử thế giới. Tức, sự phát triển của đại công nghiệp đã tạo
ra một lực lượng sản xuất có tính chất thế giới thì tất yếu với nó phải là một
quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất mang tính công cộng.
Theo C.Mac và F.Enghen cả hai tiền đề này đều đã có cùng với sự phân
công lao động rộng nhất (đại công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản). Ở đó, một mặt
sức sản xuất vật thể hóa (tư hữu) với những người lao động bị tách rời khỏi sức
sản xuất ấy là rất sâu sắc. Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã xóa bỏ
những hàng rào dân tộc, tạo ra thị trường thế giới, nền sản xuất thế giới, sự phụ
thuộc toàn diện của các cá nhân vào lực lượng tự phát có khả năng biến thành sự
kiểm soát toàn diện và sự thống trị có ý thức đối với các lực lượng tự phát ấy.
Chính ở đây, chủ nghĩa xã hội không còn là một tình trạng cần thiết lập, không
là một lý tưởng mà là một tình trạng hiện thực phải khuôn theo.
- Hai ông cũng phân biệt sự khác nhau về nguyên tắc giữa chủ nghĩa xã
hội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng về việc xóa bỏ tình trạng hiện
thực hiện nay. Người không tưởng lên án chủ nghĩa tư bản như là một xã hội
không có đạo đức đồng thời lên án cả đấu tranh giai cấp (tức lên án phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân), tưởng tượng và miêu tả rất tỷ mỷ về chủ
nghĩa cộng sản. C.Mac và F.Enghen chỉ vạch ra những nét cơ bản về chủ nghĩa
cộng sản và chứng minh rằng tiền đề vật chất (giai cấp công nhân và nền sản
xuất đại công nghiệp) của những nét cơ bản đó đã hình thành trong lòng xã hội
tư bản. Chủ nghĩa cộng sản là khuynh hướng phát triển hiện thực của lịch sử thế
giới.
8- Từ toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử đó, C.Mac và F.Enghen đưa ra
bốn kết luận:
18
1.. Lực lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ, mà quan hệ sản xuất
bắt đầu kìm hãm sự phát triển đó, gắn liền với nó giai cấp vô sản ra đời và phát
triển đối lập quyết liệt với trật tự hiện có và có ý thức về cuộc cách mạng cơ

Câu hỏi ôn tập:
1- Những nội dung triết học cơ bản của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”?
19
2- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac và F.Enghen đã phê phán những hạn
chế của phái Hêghen trẻ như thế nào?
3- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac và F.Enghen đã chỉ rõ chủ nghĩa
duy tâm của Phơ Bách biểu hiện ở những mặt nào?
4- Những tiền đề xuất phát của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen
trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” là gì?
5- Những nội dung cơ bản của quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và
F.Enghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” là gì?
6- Nêu và phân tích bốn kết luận quan trọng của C.Mac và F.Enghen về chủ nghĩa
cộng sản trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”?
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ PHRI-ĐRÍCH ĂNG-GHEN
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong kho
tàng của lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này, đánh
dấu sự thành công về cơ bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp
thành là Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa Cộng sản khoa học.
Tác phẩm này không chỉ là tác phẩm quan trọng trong kho tàng lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn là cương lĩnh chính trị của phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế. Nó tập trung luận giải vai trò lịch sử của giai cấp vô
sản, tính tất yếu và những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản. Nó là kim chỉ
nam cho hành động của toàn bộ phong trào công nhân và cộng sản quốc tế. Là
ngon cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong
cuộc đấu tranh chống chủ nghiã tư bản, giải phóng loài người vĩnh viễn thoát
khỏi mọi ách áp bức bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người thực sự sống trong
tự do, hoà bình, hạnh phúc.
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI
VÀ NHỮNG Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM.

đời cho đến nay đã trãi qua hơn 156 năm, nó vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và
cách mạng của nó:
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là văn kiện mang tính cương lĩnh của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nó đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa
Mác-Lênin. Tuy chỉ là một tập sách nhỏ chưa đầy 100 trang, nhưng chứa đựng
tri thức đồ sộ bằng nhiều bộ sách. Khi nghiên cứu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản” cần phải nghiên cứu những lời tựa C.Mác và Ph.Ăngghen viết cho những
lần xuất bản sau 1848.
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có những giá trị lâu dài sau: Lần đầu
tiên trong lịch sử tư tưởng, triết học, sử học xuất hiện một quan niệm khoa học
và có hệ thống về lịch sử phát triển của xã hội loài người, về những động lực của
phát triển lịch sử. Hai ông đã xuất phát từ sự vận động của đời sống kinh tế-xã
hội mà phân tích xã hội và xuất phát từ kinh tế-xã hội mà phân tích chính trị và
văn hoá. Tuyên ngôn đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật
biện chứng áp dụng triệt để trong lĩnh vực lịch sử, từ đó chỉ ra quy luật chung
của sự phát triển của xã hội loài người. Đây là cơ sở lý luận, phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin. Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế-xã hội đến
nay vẫn giữ nguyên giá trị.
+ Bằng thế giới quan khoa học, bằng phương pháp luận duy vật biện
chứng, hai ông đi sâu phân tích những quy luật vận động của xã hội tư bản, vạch
21
ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản là quy luật giá trị thặng dư, cũng
tức là vạch ra bản chất của chủ nghĩa tư bản. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
khẳng định tính tất yếu về mặt lịch sử của sự hình thành và phát triển của chủ
nghĩa tư bản, đồng thời vạch ra những mâu thuẫn nội tại của chủ nghiã tư bản,
phân tích những cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, khẳng
định cuộc đấu tranh này sẽ dẫn đến kết quả: Xã hội tư bản sẽ bị thay thế bằng
một xã hội khác tiến bộ hơn, phát triển hơn, đó là xã hội cộng sản.
+ Hạt nhân chủ đạo của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là: Phương
thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi cùng với cơ cấu xã hội do phương

có thể tự giải phóng khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột, nếu đồng thời và vĩnh viễn
22
giải phóng toàn bộ xã hội khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột, phân chia giai cấp và
đấu tranh giai cấp.
Ba là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” công khai trình bày trước toàn
bộ thế giới về chiến lược, sách lược của Đảng Cộng sản và đập tan những hư
truyền về “bóng ma cộng sản” mà các thế lực chính trị phản động đang loan
truyền ở châu Âu lúc bấy giờ.
Bốn là, Từ khi ra đời cho đến nay đã trên 156 năm, “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” luôn là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động của
phong trào cộng sản và công nhân thế giới, nó soi sáng con đường tiến lên của
cách mạng thế giới. Đồng thời, mỗi thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới lại càng khẳng định tính chất khoa
học và cách mạng, và làm phong phú thêm những tư tưởng thiên tài của C.Mác
và Ph.Ăngghen đã nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”.
II. BỐ CỤC CỦA TÁC PHẨM (cuốn tái bản năm 1976).
“Các lời tựa 1872, 1882, 1883, 1888, 1890, 1892, 1893” Trang 7 đến
trang 42.
“Tư sản và vô sản” trang 42 đến 66.
“Những người vô sản và những người cộng sản” trang 66 đến trang 81.
“Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghiã” trang 81 đến trang 99.
“Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập” trang 99
đến trang 102.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN
TRONG CÁC CHƯƠNG, MỤC CỦA TÁC PHẨM.
1. Các lời tựa.
Các lời tựa của C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến hai nội dung chính:
Một là, hai ông khẳng định “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là Cương
lĩnh của ‘Đồng minh những người Cộng sản’ công bố công khai với toàn thế
giới những nguyên lý của Đảng Cộng sản. Bản Cương lĩnh này gọi là “Tuyên

10
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Nga xuất bản năm 1882 C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ ra, nếu Tuyên ngôn được xuất bản bằng tiếng Nga vào đầu
những năm 60 giỏi lắm chỉ là một của lạ về văn chương mà thôi, thì tình hình
ngày nay không còn như thế nữa. Bởi lẽ, “Trong cuộc cách mạng 1848-1849,
bọn vua chúa ở châu Âu cũng hệt như giai cấp tư sản châu Âu, đều coi sự can
thiệp của nước Nga là phương tiện duy nhất để cứu thoát chúng thoát khỏi tay
giai cấp vô sản vừa mới bắt đầu giác ngộ về lực lượng của mình. Chúng tôn Nga
Hoàng làm trùm phe phản động châu Âu. Hiện nay Nga Hoàng, ở Ga-tsi-na, đã
là tù binh của cách mạng, và nước Nga đang đi tiên phong trong phong trào cách
mạng châu Âu”
11
. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay ở Nga có nhiệm
vụ tuyên bố diệt vong không tránh khỏi và sắp xảy ra của chế độ sở hữu tư sản.
Sau khi phân tích những thay đổi cơ bản của xã hội Nga, C.Mác và
Ph.Ăngghen tiên đoán tài tình rằng “nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách
mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau
thì chế độ ruộng đất công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một
sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa.”
12
10
C.Mác và F.Enghen - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1976 - trang 8, 9.
11
S đ d trang 11, 12.
12
S đ d trang 12.
24
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph.Ăngghen chỉ
ra, do C.Mác đã mất nên không thể nói đến việc sửa lai hay bổ sung Tuyên ngôn
nữa. Ph.Ăngghen khẳng định: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là:

dòng này, giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ đang điểm lại lực lượng chiến
đấu của mình, lực lượng lần đầu tiên được huy động thành một đạo quân duy
nhất, dưới cùng một ngọn cờ và nhằm cùng một mục đích trước mắt là đòi pháp
luật quy định ngày làm việc bình thường là tám giờ, yêu sách đã được tuyên bố
từ 1866 tại Đại hội của Quốc tế ở Giơ-ne-vơ và sau này lại được tuyên bố lần
nữa tại Đại hội công nhân ở Pa ri năm 1889. Cảnh tượng ngày hôm nay sẽ chỉ
cho bọn tư bản và bọn địa chủ tất cả các nước thấy rằng những người vô sản tất
cả các nước đã thật sự đoàn kết với nhau.”
14
13
S đ d trang 13, 14.
14
S đ d trang 31, 32.
25

Trích đoạn F.Enghe n Chống Đuy Rinh Nhà xuất bản Sự Thậ t Hà Nội 197 6 Trang 6. Lời mở đầu gồm hai chương: Thay lời dẫn “Một số người “mác-xít” 1908 và một số nhà duy tâm 1710 đã bài xích chủ nghĩa duy vật như thế nào?” Chương 1: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ nghĩa duy vật biện chứng (I) Tr 35 120. Chương 2: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ nghĩa duy vật biện chứng (II).Tr 121-187.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status