THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN TỪ LIÊM.
I. TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NHN0 &PTNT TỪ LIÊM
NHN0 &PTNT Từ Liêm được thành lập ngày 01/07/1963 với tên gọi đầu
tiên là chi điếm ngân hàng huyện Từ Liêm ( gọi tắt là ngân hàng Từ Liêm).
Thời kì này ngân hàng Từ Liêm chỉ là một ngân hàng cơ sở đảm nhận nhiệm
vụ huy động vốn tiết kiệm và thực hiện chức năng cung ứng vốn tiền mặt cho
toàn bộ các cơ quan hành chính sự nghiệp và các đơn vị sản xuất trên địa bàn
huyện. Lúc này hoạt động của ngân hàng thực chất là thay ngân sách Nhà Nước
cấp phát vốn tiền mặt cho các đơn vị theo kế hoạch. Hoạt động tín dụng mang
tính chất bao cấp, đồng vốn cho vay không tính đến hiệu quả kinh tế.
Sau đại hội Đảng VI (1986), nền kinh tế Việt Nam được chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước
thì nền kinh tế nước ta bắt đầu có sự thay đổi lớn. Từ đây hoạt động ngân hàng
cũng có sự thay đổi, phát triển mạnh về qui mô và số lượng, các Ngân hàng
Thương mại đã thực sự ra đời và phát triển. Cùng với sự phát triển chung của
đất nước và của hệ thống ngân hàng, ngân hàng Từ Liêm đã có sự chuyển mình
quan trọng. Năm 1988 theo quyết định số 53/QĐ/HĐBT, ngân hàng Từ Liêm
đổi tên thành NHN0 &PTNT Từ Liêm với nhiệm vụ chủ yếu của một tổ chức
chuyên doanh tiền tệ , tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Ban đầu hình thức cho
vay đơn giản, sau đó hình thức cho vay đa dạng hơn và dần dần ngân hang thực
hiện thêm các dịch vụ khác như chuyển tiền thanh toán quốc tế. Đến nay NHN0
&PTNT Từ Liêm đã trở thành một ngân hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và
dịch vụ ngân hàng với tổng số 80 cán bộ nhân viên trong đó hơn 80% có trình
độ đại học ,cao đẳng và gần 20% trình độ trung cấp. Trụ sở chính của ngân hàng
được đặt tại thị trấn Cầu Diễn.
1
Chi nhánh đựợc chia làm 4 phòng: phòng hành chính, phòng kinh doanh,
phòng kế toán và ngân quĩ, phòng thanh toán quốc tế.
Về hạch toán: chi nhánh là đơn vị hạch toán độc lập, không phụ thuộc chi
tăng trưởng khá, tuy có sự chênh lệch giữa các năm (năm 1999 tăng so với năm
1998 chỉ có 8,4% và năm 2000 tăng 20% so với năm 1999) nhưng đây vẫn là cơ
sở vững chắc cho việc mở rộng đầu tư, mở rộng qui mô tín dụng của ngân hàng.
Không những đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn của khách hàng trên địa bàn mà ngân
hàng còn thường xuyên đóng góp với Trung Ương hàng trăm tỷ đồng để đầu tư
cho các vùng kinh tế khác.
Như vậy với tư cách là Ngân hàng Thương mại chuyển sang kinh doanh đa
năng tổng hợp nhưng với chức năng hoạt động chủ yếu là phục vụ sự nghiệp
phát triển nông nghiệp - nông thôn, Ngân hàng đã tích cực huy độngvốn trong
địa bàn bằng nhiều hình thức. Ngân hàng đã kịp thời và thường xuyên điều
chỉnh lãi suất huy động bám sát thị trường, đồng thời đẩy mạnhhuy động vốn
trong nước bằng nhiều biện pháp để khai thác tiềm lựcvốn của các tổ chức kinh
tế, triển khai nhiều hình thức huy động dân cư như đa dạng cách phát hành kì
phiếu trả lãi trước và ta có thể thấy nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng liên
tục trong các năm qua bảng 1.
2. Hoạt động tín dụng - đầu tư:
Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn là
công việc có tính chất sống còn của ngân hàng. Thực hiện định hướng tiếp tục
đổi mới toàn diện sâu sắc, đáp ứng cao nhất yêu cầu của công nghiệp hoá- hiện
đại hoá đất nước, kinh doanh đa năng tổng hợp lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh
của khách hàng làm mục tiêu kinh doanh của ngân hàng.
Bước sang hoạt động theo cơ chế của một Ngân hàng Thương mại và thực
hiện chức năng của một ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, chi
nhánh NHN0 &PTNT Từ Liêm đã tập trung cho các Doanh nghiệp quốc doanh,
các hộ sản xuất vay phần lớn vốn để phát triển sản xuất, xây dựng cơ bản và hạ
3
tầng cơ sở. Chính vì vậy hoạt động đâù tư - tín dụng của chi nhánh rất đa dạng,
phong phú.
Qua từng thời kì thì vấn đề sử dụng vốn hay công tác đấu tư tín dụng có
nhiều biến động do nhiều nguyên nhân gây ra. Bảng 2 cho thấy dư nợ của ngân
II. nghiệp vụ đầu tư 5956 6% 6256 5,4% 12532 6,3%
Tổng 99789 100% 119326 100% 198194 100%
Nguồn: phòng kinh doanh NHN0 &PTNT Từ Liêm
6
7
Cụ thể là: năm 1999 dư nợ ngắn hạn là 69250 triệu tăng +9395 triệu về
số tương đối là +15.7% và năm 2000 là 113709 tăng +44459 triệu, về số
tương đối tăng +64,2%. Dư nợ ngắn hạn thường xuyên chiếm một tỷ trọng
lớn trong tổng dư nợ tuy về mặt tỷ trọng thì có xu hướng giảm sút nhưng về
số tuyệt đối vẫn tăng trưởng mạnh.Dư nợ dài hạn có chiều hướng gia tăng qua
các năm: năm 1998 tỷ lệ cho vay trung hạn là 34%, dài hạn là 0%, năm 1999
và năm 2000 tỷ lệ cho vay dài hạn là 12%. Điều này cho thấy nhu cầu về vốn
trung ,dài hạn của các doanh nghiệp ngày càng tăng. Đây là chuyển biến tích
cực trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Song song với việc tăng trưởng tín dụng và đầu tư, Ngân hàng còn chú
trọng nâng cao chất lượng tín dụng. Tổng dư nợ quá hạn đến năm 2000 là
1100 triệu chiếm tỷ trọng0,56% dư nợ giảm rất nhiều so với năm 1999, do
ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp thu hồi nợ quá hạn cũ và tăng cường
đảm bảo an toàn cho những khoản tín dụng mới. Ngân hàng đã sử dụng một
số biện pháp để không ngừng nâng cao hiệu quả tín dụng như :
• Thông qua các hợp đồng kinh tế( hợp đồng thi công,tín dụng ngắn hạn,
hợp đồng cung ứng vật tư thiết bị cho dự án, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, tín
dụng trung và dài hạn) chi nhánh đã xác định chính xác nhu cầu vay vốn cho
từng doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho vay an toàn. Đối với tín dụng trung và
dài hạn, chi nhánh sử dụng các quá trình thẩm địng đàu tư để xác định khách
hàng tốt, đáng tin cậy cũng như sự cần thiết đầu tư và nhu cầu vay vốn của
từng doanh nghiệp. Quan trọng hơn nó giúp các cán bộ ngân hàng xác định
được hiệu quả của các phương án, dự án đầu tư.
• Thành lập tổ định giá tài sản thế chấp và ban hành qui chế làm việc của tổ
Các hoạt động bảo lãnh chủ yếu của ngân hàng bao gồm: bảo lãnh dự
thầu(trong xây dựng cơ bản),bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo đảm tiền ứng
trước. Nghiệp vụ bảo lãnh của chi nhánh cũng tăng dần qua các năm,tu nhiên