Đề tài "Hoàn thiện công tác thẩm định
tài chính dự án tại công ty cho thuê tài
chính I - NHNN và PTNT"
1
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kỳ hiện nay, đất nước ta đang thực hiện kế hoạch 5 năm (từ
năm 2001 đến năm 2005) thời kỳ phát triển một nền kinh tế công nghiệp hoá
hiện đại hoá. Nền kinh tế của một đất nước tiếp tục phát triển với tốc độ cao và
2
đang trên đà đạt được những thành tựu to lớn. Góp phần vào thành công đó, là
quá trình vận động và phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều
lĩnh vực. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển đó, đầu tư là phương
pháp hữu hiệu được các nhà kinh doanh lựa chọn. Tuy nhiên, đứng trước những
cơ hội đó, khả năng tài chính của những chủ thể kinh tế không phải lúc nào cũng
đáp ứng được. Đặc biệt là khi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra ngày càng
sôi động, những cơ hội đầu tư xuất hiện ngày càng nhiều, các chủ thể kinh tế
càng phải tiếp cận với các hình thức tài trợ vốn từ bên ngoài. Tuy nhiên, các
hình thức tín dụng thông thường có những yêu cầu, ràng buộc nghiêm ngặt mà
một số công ty nhỏ khó có thể đáp ứng. Cho thuê tài chính ra đời đã giải quyết
được vấn đề này.
Với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hoạt động đầu
tư ngày càng được khuyến khích ở Việt Nam, nhưng cho đến nay, khả năng tài
trợ vốn cho những dự án đầu tư từ các ngân hàng thương mại trong nước và thị
trường chứng khoán còn hạn chế. Trong bối cảnh như vậy, cho thuê tài chính
sẽ là một phương thức hữu hiệu giúp các tổ chức kinh tế ở Việt Nam có thể thực
hiện những dự án một cách hiệu quả.
Đối với các nhà đầu tư thì mong muốn của họ đó là, dự án đầu tư mang lại
hiệu quả, hạn chế được rủi ro, làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. Còn đối
dưới sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn và cán bộ công nhân viên
công ty cho thuê tài chính I-NHN
0
&PTNT
Để bài viết được hoàn chỉnh hơn em mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy cô và bạn bè.
Em chân thành cảm ơn!
4
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1. Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
1.1. Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp những ý tưởng, giải pháp, hành động cụ thể nhằm
đạt được một mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định nào đó.
Dù được xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm
các thành phần chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt đựoc khi thực hiện dự án:
Cụ thể là khi thực hiện, dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho chủ đầu tư.
Những mục tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể, mang tính định
lượng rõ ràng.
- Các hoạt động của dự án:
Dự án phải nêu rõ những hoạt động cụ thể phải tiến hành, địa điểm diễn ra
các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn thành, và các bộ phận có
trách nhiệm thực hiện những hoạt động đó. Cần lưu ý rằng các hoạt động đó có
mối quan hệ với nhau vì tất cả đề hướng tới sự thành công của dự án và các mối
quan hệ đó diễn ra trong một môi trường không chắc chắn. Bởi vì môi trường dự
án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai.
- Các nguồn lực:
Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về
được những rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng tới quá trình triển khai thực hiện dự
án như yếu tố công nghệ, sự biến động của thị trường, thay đổi về công suất, thị
hiếu khách hàng, chi phí sản xuất… Từ đó chủ đầu tư có thể đưa ra các giải
pháp hoặc kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư và giảm tối đa rủi ro có thể xảy ra.
Với những vai trò quan trọng trên, khẳng định sự cần thiết của công tác
thẩm định tài chính dự án đầu tư - một phần quan trọng trong thẩm định dự án
6
đầu tư, đã và đang trở thành nội dung không thể thiếu được trước khi ra quyết
định đầu tư cho bất kỳ dự án nào.
1.2.3. Mục đích thẩm định dự án
Các dự án đầu tư mang tính chiến lược một mặt thường có ảnh hưởng rất
lớn đối với đơn vị thực hiện, mặt khác luôn có những rủi ro đi kèm quá trình đầu
tư dù dự án đó đã được tính toán kỹ lưỡng. Để đánh giá hết hiệu quả cũng như
tính khả thi của dự án, các chủ đầu tư, các nhà quản lý và các nhà tài trợ đều
phải tiến hành thẩm tra, xem xét các chỉ tiêu tài chính, kinh tế, xã hội môi trường
của dự án. Qua quá trình thẩm tra đó, họ có thể thất được những mặt tích cực và
tiêu cực của dự án, từ đó cân nhắc xem có nhên thực hiện dự án hay không. Như
vậy, mục đích của việc thẩm định dự án là nhằm loại bỏ ở mức độ có thể những
rủi ro có nguy cơ mắc phải của dự án và trợ giúp cho việc ra quyết định đầu tư.
1.2.4. Ý nghĩa của việc thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư có thể được xem là quá trình thẩm tra, xem xét,
đánh giá một cách khoa học, toàn diện những nội dung ảnh hưởng tới hiệu quả
kinh tế, xã hội và tính khả thi của dự án; từ đó ra quyết định có đầu tư hay
không.
Các dự án kinh tế thường dự tính một thực tế trong tương lai, vì vậy
thường mang tính phỏng đoán và vì độ chính xác không đạt đến 100%. Mặt
khác, các chủ đầu tư khi tiến hành phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế thường
không lường hết được những thay đổi của thị trường nên những đánh giá đó
thường mang tính thời điểm và chủ quan. Bên cạnh đó, một quyết định đầu tư là
Thẩm định mục tiêu của dự án để xem xét tính phù hợp của dự án đối với
các chương trình kinh tế của địa phương, vùng, ngành. Ngành nghề trong dự án
có thuộc nhóm ngành cho phép hoạt động hay ưu tiên không?
- Thẩm định về thị trường của dự án
Cho phép xem xét sản phẩm của dự án sản xuất ra phục vụ cho đối tượng
nào, được kinh doanh trên thị trường địa phương, trong nước hay xuất khẩu. Sức
mạnh của các đối thủ cạnh tranh và ưu thế của dự án… Xem xét thị trường là cơ
sở cho việc lựa chọn quy mô dự án, thiết bị, công nghệ và dự kiến khả năng tiêu
8
thụ. Độ chính xác của công đoạn này thường không lớn nhưng có vai trò rất
quan trọng, quyết định mức độ thành công của dự án.
- Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án
Thông tin về đời sống của dự án và tính phù hợp của công nghệ đối với
dự án là tiêu thức quan trong trong công đoạn này. Nắm được thông tin này sẽ
trành cho dự án không bị hao mòn vô hình quá nhanh. Khía cạnh này thường
được quan tâm ngay từ khi lập dự án vì các chủ đầu tư phải ra quyết định lựa
chọn tràng thiết bị máy móc cũng như dây chuyền công nghệ. Khâu thẩm định
này đòi hỏi sự chính xác trong khâu tính toán thông số kỹ thuật của dự án, kiểm
tra sự phù hợp với điều kiện môi trường của các dây chuyền sản xuất.
- Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lý
Các dự án đầu tư muốn hoạt động hiệu quả không thể không tính đến khía
cạnh nhân lực và tổ chức quản lý. Rất nhiều dự án dù tính toán chi phí và hiệu
quả kinh tế chính xác vẫn thất bại khi thực hiện trong điều kiện quản lý yếu
kém, thiếu nhân lực có trình độ. Hiệu quả về kinh tế và tài chính có đạt được
như dự tính hay không phụ thuộc không nhỏ vào năng lực quản lý của cơ quan
có trách nhiệm triểu khai dự án.
- Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án
Phân tích tài chính là khâu tối quan trọng của thẩm định dự án, đòi hỏi sự
tính toán cùng khả năng tổng hợp và dự đoán chính xác những dòng tiền của dự
án. Là khâu cung cấp những dữ liệu cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự
ngày 17/5/1995.
Đến 9-10-1995 chính phủ ban hành nghị định 64CP "Quy chế tạm thời về
tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam". Ngày 9-2-
1996 Thống đốc NHNN-VN có thông tư số 03/TT-NH5 hướng dẫn thực hiện
quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt
Nam.
Đến 02/05/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/NĐ-CP về tổ chức
và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính thay thế Nghị định: 64/CP ngày 9-
10-1995.
10
2.2. Những nội dung cơ bản của cho thuê tài chính
2.2.1. Khái niệm
Từ khi ra đời cho đến nay, thuật ngữ cho thuê (Leasing) được hầu hết các
quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm hàm chỉ hoạt động cho thuê tài sản được
các định chế tài chính (trong đó nhất thiết phải có Công ty cho thuê tài chính)
mua và cho thuê theo yêu cầu của bên thuê. Hết thời hạn thuê bên thuê được
phép chuyển quyền sở hữu hoặc mua lại tài sản đó theo các điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính.
Theo Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của chính phủ thì khái
niệm cho thuê tài chính được hiểu như sau:
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng và dài hạn, thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê. Bên cho thuê cam kết
mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu
cầu của bên mua và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử
dụng tài sản thuê va thanh toán thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên
thoả thuận.
2.2.2. Đối tượng cho thuê
Tài sản trong cho thuê tài chính phổ biến là động sản, có thời hạn sử dụng
bao gồm:
trong hợp đồng cho thuê.
- Phí cho thuê cụ thể đối với từng khách hàng do Giám đốc Công ty cho
thuê tài chính quyết định nhưng phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắp
chi phí quản lý, phí rủi ro và có tỷ lệ lãi tích luỹ hợp lý.
- Phí phạt nợ quá hạn được xác định theo quy định về cách tính lãi suất nợ
quá hạn của cho vay cùng loại do NHNo và PTNT Việt Nam quy định tại thời
điểm hợp đồng cho thuê và được ghi trong hợp đồng. Thông thường thì phí phạt
vì quá hạn bằng 150% phí cho thuê trong hạn.
2.2.6. Đồng tiền cho thuê
12
Mọi giao dịch cho thuê tài chính chủ yếu thực hiện bằng đồng Việt Nam
2.2.7. Giá cho thuê
Giá cho thuê bao gồm
- Số tiền thuê bằng giá mua và các chi phí có liên quan để hình thành tài
sản cho thuê bao gồm:
Giá mua tài sản: là giá được ghi trên hoá đơn bán hàng của bên cung ứng
hoặc căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền (trong trường hợp mua
hàng của các cơ quan quản lý nhà nước thanh lý, đấu giá tài sản).
+ Đối với tài sản mới: Giá mua tài sản không vượt quá giá chào hàng của
Bên cung ứng đã được bên thuê chấp nhận hoặc giá bán được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt (nếu có) của tài sản đó.
+ Đối với tài sản đã qua sử dụng
Căn cứ vào giá trị còn lại trên sổ sách kế toán, thời giá hiện hành trên thị
trường tại thời điểm mua bán hoặc giá do cơ quan giám định hợp pháp xác định
(nếu có) để ba bên (Bên cung ứng, Bên cho thuê và Bên thuê) thoả thuận quyết
định.
- Các chi phí liên quan đến tài sản thuê như: thuế, chi phí nhập khẩu,
chuyển, bốc xếp, giám định, tư vấn kỹ thuật, đăng kiểm.
2.2.8. Các bên tham gia quan hệ cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính gồm ba bên: Người cho thuê (bên cho thuê), Người di
bán tài sản cho thuê với người bán.
14
BÊN
THUÊ
NHÀ CUNG
CẤP MÁY
MÓC
THIẾT BỊ
CÔNG TY
CHO THUÊ
TÀI CHÍNH
1
4
3
5
2
6
- Giao hàng, lắp đặt và bảo dưỡng: Người bán giao hàng, lắp đặt tại địa
điểm do người thuê chỉ định. Người thuê ngay lập tức xem xét thiết bị theo các
điều kiện đã thoả thuận với người bán để kiểm tra tình trạng thiết bị và quyết
định có chấp nhận tài sản hay không. Cùng lúc người thuê nên ký hợp đồng bảo
dưỡng với người cung cấp.
- Thanh toán tiền mua tài sản: Sau khi nhận giấy xác nhận chấp nhận thiết
bị của người thuê Công ty cho thuê tài chính I mới thanh toán tiền mua tài sản
cho người bán.
- Thanh toán tiền thuê: Người thuê trả tiền thuê (gốc + phí) theo kỳ 30, 60
hoặc 90 ngày cho đến khi hết thời hạn thuê hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng
thuê tài chính không được huỷ bỏ giữa chừng.
2.4. Vai trò, lợi ích của cho thuê tài chính đối với nền kinh tế
2.4.1. Lợi ích cho thuê tài chính
Một hệ thống tài chính hoàn thiện phải tồn tại các kênh dẫn vốn hoạt động
hiệu quả. Xét riêng về số lượng, cho thuê tài chính đã đóng góp vào thị trường
tài chính một kênh dẫn vốn trung dài hạn quan trọng. Hơn nữa, trong điều kiện
các quốc gia đang phát triển, khi thị trường chứng khoán còn ở dạng sơ khai, sự
thiếu hút nghiêm trọng nguồn cung cấp vốn trung dài hạn là không thể phủ nhận,
vì thế, cho thuê tài chính càng có vai trò lớn đối với những nền kinh tế này. Về
mặt chất, cho thuê tài chính là một kênh dẫn vốn hấp dẫn, nguyên nhân là ở
phạm vi tài trợ rộng lớn, cung ứng đến mọi khu vực, thành phần kinh tế rất có
lợi đối với khách hàng, đồng thời giảm bớt rủi ro của người cho thuê, áp dụng
hình thức cho thuê tài chính trong nền kinh tế và đặc biệt là việc hình thành các
cong ty cho thuê tài chính chuyên doanh, tách khỏi hoạt động của các ngân hàng
thương mại càng tạo điều kiện phát triển hệ thống tài chính quốc gia; Cụ thể, các
công ty cho thuê tài chính chuyên doanh sẽ cung cấp dịch vụ hữu hiện hơn hẳn
những đơn vị trực thuộc, tạo sức cạnh tranh đáng kể trong thị trường tài chính,
thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tiền tệ ngân hàng.
- Cho thuê tài chính góp phần nâng cao năng lực công nghệ đất nước
Đối với các quốc gia đang phát triển, việc lạc hậu về công nghệ luôn luôn
là vấn đề gây đau đầu các nhà quản lý; cho thuê tài chính quốc tế sẽ tạo ra cơ hội
16
lớn cho việc nâng cao năng lực công nghệ quốc gia ngay cả trong điều kiện kinh
tế quốc gia đó gặp khó khăn. Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp tăng
năng lực kinh doanh bằng việc thay đổi, nâng cấp dây chuyền sản xuất, cải tiến
kĩ thuật, mở rộng quy mô sản xuất. Điều này đem lại cho quốc gia đó khả năng
bắt kịp với trình độ công nghệ thế giới.
Sở dĩ hoạt động này có được những tác động tích cực đó là bởi những ưu
điểm nhất định sau:
+ Về phía người thuê:
- Người thuê có thể được tài trợ toàn bộ giá trị tài sản cố định phục vụ cho
kinh doanh
Do việc tài trợ cho thuê được bảo đảm bằng chính tài sản thuê và người
Đây là ưu điểm nổi bật của cho thuê tài chính - sử dụng ngay tài sản thuê
làm vật thế chấp. Nguyên tắc tài sản thế chấp trong tín dụng ngân hàng để tránh
sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Tài sản thuê trong cho thuê tài chính
không đủ tính lỏng để người thuê có thể sử dụng sai mục đích. Mặt khác, tài sản
luôn thuộc quyền sở hữu của người cho thuê nên rủi ro mất vốn không lớn.
- Người thuê có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại
Các công ty cho thuê tài chính chuyên môn hoá trong lĩnh vực của họ nên
thường am hiểu kĩ về thị trường tài sản và thường được phép xuất nhập khẩu
trực tiếp. Nhờ đó người thuê có thể tiếp cận với nhà sản xuất và những sản phẩm
tiên tiến, hiện đại; tạo ra khả năng đổi mới công nghệ nhanh chóng với chi phí
thấp - đây là điều đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay
- cùng với những dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, bảo trì… kèm theo của nhà cung
cấp. Mặt khác, mối quan hệ kinh doanh cùng với những kinh nghiệm về thị
trường tài sản của công ty cho thuê tài chính cho phép người thuê có thể bán tài
sản cũ, tài sản không sử dụng để đổi mới công nghệ.
+ Về phía người cho thuê
- Cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay
Trong suốt thời hạn thuê, người cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sản
thuê nên họ có thể nhanh chóng chiếm hữu lại tài sản nếu người thuê không tuân
thủ hợp đồng. Như vậy, có thể coi tất cả các hợp đồng cho thuê tài chính đều có
18
tài sản thế chấp. Mặt khác, khi cơ chế xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của nước ta
còn chưa đồng bộ, hoạt động cho vay càng trở nên rủi ro hơn so với cho thuê tài
chính. Tuy nhiên, việc tịch thu tài sản không phải là biện pháp đảm bảo rủi ro
mà các công ty cho thuê tài chính mong muốn, hầu hết các công ty đều trông
chờ vào phẩm chất của người thuê. Khả năng giảm thiểu rủi ro đòi hỏi 2 yếu tố,
về pháp luật - là những văn bản quy phạm về quyền sở hữu - và về thị trường -
yêu cầu về sự tồn tại một thị trường thiết bị, máy móc cũ - để tài sản cho thuê có
thể dễ dàng được xử lý trong điều kiện rủi ro xảy ra.
- Tránh được rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch
đúng hạn và sự sử dụng quá các tiêu chuẩn kĩ thuật của tài sản thuê.
- Đối với các phương tiện vận tải phục vụ sản xuất hoặc vận chuyển hành
khách, giới hạn về số km di chuyển (Mile-age Limitations) cùng với những điều
khoản tăng phí kèm theo cùng là 1 điểm bất lợi đối với người thuê của các giao
dịch thuê tài chính.
3. Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong công tác thuê mua tài chính
3.1. Thẩm định tài chính dự án tại các công ty cho thuê tài chính
3.1.1. Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư
a) Thẩm định tổng mức đầu tư
• Tổng mức đầu tư: là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản
xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết
định đầu tư.
Theo giai đoạn triển khai công tác đầu tư một dự án, tổng mức đầu tư bao
gồm các thành phận chủ yếu sau:
* Vốn cho chuẩn bị đầu tư: bao gồm các khoản chi phí: điều tra, khảo sát,
nghiên cứu phục vụ cho lập báo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả
thi; lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi (kể cả tư
vấn) hoặc báo cáo đầu tư; chi phí đo đạc, khảo sát đính giá hiện trạng khi lập dự
án đầu tư cải tạo sửa chữa; phí và lệ phí thẩm định;
* Vốn thực hiện đầu tư gồm:
- Chi phí thiết bị bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả
thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công (nếu có) , các trang thiết bị khác
20
phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình (bao gồm thiết bị lắp đặt và
không cần lắp đặt); chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi
phí lưu kho, lưu bãi, lưu container (nếu có) tại cảng Việt Nam (đối với các thiết
bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường;
- Chi phí xây dựng và lắp đặt thiết bị: chi phí san lấp mặt bằng xây dựng;
chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thi
công, điện nước, nhà xưởng v.v…), nhà tạm tại hiện trường để ở vf thi công
hướng sử dụng vốn của mình mà chủ đầu tư có thể quyết định cơ cấu vốn cho dự
án. Tuy nhiên, cơ cấu này cũng ảnh hưởng bởi các quy định của Nhà nước. Ví
dụ theo Quy chế cho vay của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối với
các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam thì ngân hàng cho
vay hoặc tổ chức đồng tài trợ không được cho vay vượt quá 85% tổng mức đầu
tư đối với một dự án. Điều đó có nghĩa là chủ đầu tư phải có 15% vốn chủ sở
hữu trong cơ cấu vốn đầu tư của dự án.
Đối với từng loại nguồn vốn, cần xem xét ở các khía cạnh cơ bản sau:
- Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: phải được tiến hành kiểm tra,
đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó xác định nguồn
vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Thông thường đó là căn cứ vào các báo cáo
tài chính của doanh nghiệp trong tối thiểu ba năm liên tiếp tính đến thời điểm
lập dự án. Các báo cáo tài chính này phải được tổ chức kiểm toán tài chính độc
lập kiểm toán và xác nhận.
- Nguồn vốn vay: xem xét độ tin cậy về khả năng cho vay của các ngân
hàng cam kết cho vay. Về nguyên tắc, các ngân hàng cũng phải giải trình cho
chủ đầu tư về tình hình khả năng tài chính của mình, về hoạt động kinh doanh
của mình thông qua các báo cáo về kết quả kinh doanh của ngân hàng và chứng
minh khả năng ngân hàng sẽ cung cấp đủ, kịp thời vốn cho dự án theo đúng cam
kết với chủ đầu tư. Đặc biệt đối với các dự án có tổng mức đầu tư lớn, có nhu
cầu vay lớn thì việc xem xét khả năng cho vay của các ngân hàng hết sức quan
trọng nó đảm bảo khả năng cung cấp vốn cho dự án không làm ảnh hưởng đến
tiến độ từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án do có thể làm chậm tiến độ đưa
dự án vào vận hành kinh doanh.
22
Hiện nay, khi tiến hành công tác lập dự án cũng như xác định nguồn tài
trợ cho dự án, do còn nặng về cơ chế "xin-cho" nên chủ yếu là các doanh nghiệp
phụ thuộc vào các ngân hàng nên các chủ đầu tư phải giải trình với ngân hàng
theo các yêu cầu của ngân hàng để có được khoản tài trợ cho dự án chứ ngân
hàng không phải giải trình hay chứng minh năng lực với chủ đầu tư.
k
CF
k
CF
k
CF
)1(
...
)1()1(
2
2
1
1
+
++
+
+
+
Trong đó:
NPV: giá trị hiện tại ròng
CF
0
, CF
1
… là chênh lệch dòng tiền tại các năm 0,1…
CF
1
,…CF
n
= Lợi nhuận sau thuế + khấu hao TSCĐ
0
: Tổng vốn đi vay + vốn chủ sở hữu
Vì vậy, khi thẩm định dòng tiền của dự án cần xem xét kỹ phương thức tài
trợ cho dự án, phương thức trả nợ vốn vay để từ đó xác định dòng tiền phù hợp.
Từ đó tránh được việc đưa ra được các kết quả dòng tiền quá cao hoặc thấp dẫn
đến các kết luận thiếu chính xác.
24
d) Thẩm định tỷ lệ chiết khấu
Tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất chiết khấu chính là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà
nhà đầu tư yêu cầu đối với một dự án đầu tư, là cơ sở để chiết khấu các dòng
tiền trong việc xác định giá trị hiện tại ròng của dự án.
Về bản chất, lãi suất chiết khấu của một dự án chính là chi phí cơ hội của
dự án đó. Nếu thực hiện dự án, nhà đầu tư sẽ bỏ qua lợi tức kỳ vọng của các dự
án đầu tư khác hay các tài sản chính khác có cùng mức rủi ro.
Có thể hiểu lãi suất chiết khấu của một dự án chính là lợi tức kỳ vọng của
một tài sản tài chính có cùng mức độ rủi ro.
Có thể xác định tỷ lệ chiết khấu theo phương thức tài trợ cho dự án như
sau:
- Khi vốn đầu tư là nợ
Lãi suất chiết khấu chính là chi phí nợ sau thuế = (1 - T)Kinh doanh
Trong đó: T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Kd là chi phí nợ trước thuế = Tỷ lệ sinh lời tới thời điểm đáo hạn
- Khi vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu
Lãi suất chiết khấu chính là lợi tức kỳ vọng của vốn chủ sở hữu.
- Khi vốn đầu tư gồm nợ và vốn chủ sở hữu
Trong trường hợp này, tỷ lệ chiết khấu chính là chi phí vốn bình quân
Chi phí vốn bình quân =
)1( Txxr
BS
B
e) Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
25