ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
VƢƠNG THỊ THU HẰNG
TÍNH SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
VƢƠNG THỊ THU HẰNG
TÍNH SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Thành Nghị
Hà Nội - 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 4
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 5
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu ........................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................. 5
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................................... 6
6. Giả thuyết khoa học ................................................................................... 6
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
8. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 7
9. Cấu trúc của luận văn ................................................................................ 7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ................................................ 8
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................. 8
1.1.1. Nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới................................................ 8
1.1.2. Nghiên cứu về sáng tạo, tính sáng tạo ở Việt Nam ........................ 18
1.2. Các khái niệm cơ bản............................................................................ 22
1.2.1. Khái niệm sáng tạo ......................................................................... 22
1.2.2. Khái niệm tính sáng tạo.................................................................. 26
1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính sáng tạo .......................................... 33
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 36
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................. 37
2.1. Tổ chức nghiên cứu .............................................................................. 37
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 37
2.2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu .................................................... 37
2.2.2. Phƣơng pháp chuyên gia ................................................................ 38
2.2.3. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi. ............................................. 39
2.2.4. Phƣơng pháp trắc nghiệm.............................................................. 39
2.2.5. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu .......................................................... 42
Bảng 3.1: Điểm trung bình các kỹ năng lĩnh vực phù hợp ............................. 45
Bảng 3.2: Các chỉ báo đánh giá kỹ năng sáng tạo phù hợp ............................ 51
Bảng 3.3: Các chỉ báo đánh giá động cơ nội sinh ........................................... 54
Bảng 3.4: Các chỉ báo đánh giá hứng thú tìm kiếm ý tƣởng sáng tạo ............ 56
Bảng 3.5 : Tƣơng quan giữa các thành tố của tính sáng tạo .......................... 60
Bảng 3.6: Điểm trung bình các chỉ báo đánh giá tính sáng tạo ...................... 64
Bảng 3.7 : Kết quả Mức độ tính sáng tạo theo Test TST................................ 66
Bảng 3.8: Ý nghĩa của tính sáng tạo đối với ngƣời học.................................. 70
Bảng 3.9: Cơ chế ủng hộ, môi trƣờng tin tƣởng khuyến khích tính sáng tạo ..... 74
Biểu đồ 3.1: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp .......................................................... 48
Biểu đồ 3.2: Kỹ năng sáng tạo phù hợp .......................................................... 52
Biểu đồ 3.3: Động cơ sáng tạo của sinh viên .................................................. 55
Biều đồ: 3.4: Tính sáng tạo của sinh viên theo ba thành tố ............................ 64
Biểu đồ 3.5 Kết quả tính sáng tạo theo Test TST ........................................... 66
Biểu đồ 3.6: Điểm trung bình của tính sáng tạo đo bằng test TST ................. 67
Biểu đồ 3.7: Điểm trung bình tính sáng tạo do sinh viên tự đánh giá ............ 69
Biểu đồ 3.8: Môi trƣờng tin tƣởng, khuyến khích tính sáng tạo ..................... 76
Sơ đồ 3.1:Quan hệ nội tại giữa các yếu tố cấu thành tính sáng tạo ................ 61
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính sáng tạo là thuộc tính của nhân cách, đƣợc hình thành và phát triển
trong quá trình học tập và lao động của con ngƣời. Trong cuốn The World is
Flat (2006), tác giả của tờ báo nổi tiếng New York Times, Thomas Friedman
phát biểu rằng các quốc gia nhƣ Mỹ từ lâu xem tính sáng tạo nhƣ điều gì đó
đƣơng nhiên phải có – bởi lẽ nó đã ăn quá sâu vào tiềm thức. Nhiều quốc gia
khác, tuy thế, vẫn đang tìm kiếm một cách có hệ thống các phƣơng pháp
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
tiềm năng sáng tạo nói chung của sinh viên trong môi trƣờng học tập thông
qua việc đánh giá ba thành tố của tính sáng tạo: Kỹ năng lĩnh vực phù hợp, kỹ
năng sáng tạo phù hợp và động cơ nội sinh.
Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Với quy mô đề tài luận văn Thạc
sỹ, đề tài nghiên cứu tính sáng tạo của sinh viên Trƣờng Đại học Hà Nội đƣợc
thực hiện trên 150 sinh viên khoa tiếng Anh của cả bốn khóa; phỏng vấn và
trao đổi với 10 giảng viên trong khoa Tiếng Anh.
6. Giả thuyết khoa học
Tính sáng tạo của sinh viên Trƣờng Đại học Hà Nội có thể xem xét
trên ba cấu thành theo lý thuyết thành tố của Amabile: Kỹ năng lĩnh vực phù
hợp, kỹ năng sáng tạo phù hợp và động cơ nội sinh. Trong ba thành tố cấu
thành tính sáng tạo của sinh viên thì yếu tố động cơ nội sinh đóng vai trò thúc
đẩy mạnh nhất, tiếp đến là kỹ năng sáng tạo phù hợp và kỹ năng lĩnh vực phù
hợp. Nếu quá trình dạy học tác động phù hợp tới những yếu tố này sẽ tăng
cƣờng đƣợc tính sáng tạo của sinh viên.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn sử dụng
phối hợp các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
- Phƣơng pháp chuyên gia
- Phƣơng pháp trắc nghiệm
- Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi
6
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
- Phƣơng pháp thống kê toán học: Xử lý kết quả nghiên cứu bằng
phƣơng pháp thống kê toán học thông qua việc sử dụng phần mềm thống kê
càng đƣợc các học giả quan tâm trên nhiều lĩnh vực không chỉ đƣợc nghiên
cứu trong ngành Tâm lý học mà nó còn đƣợc nghiên cứu trong nhiều ngành
khoa học khác nữa. Quan điểm của các nhà khoa học trƣớc đây thƣờng gắn
sáng tạo với thiên tài, tài năng trong trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật.
Vì vậy, họ chỉ tập trung mô tả, giải thích mà không đi sâu vào nghiên cứu bản
chất và quy luật của hoạt động sáng tạo. Cũng từ quan điểm đó mà trƣớc đây
nguồn duy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo là các tiểu sử, hồi ký, các tác
phẩm văn học, nghệ thuật của các danh nhân, nghệ sĩ, nhà văn, nhà phát minh
nhƣ: Leonadovanhxi, Vangogh, Moza, Newton... Quan điểm này đã làm hẹp
đi phạm vi nghiên cứu của các nhà khoa học, làm hạn chế khả năng thu thập
số liệu nghiên cứu bởi vì chỉ mô tả. Trong khi đó, chúng ta đều biết khả năng
sáng tạo hay hoạt động sáng tạo không chỉ có ở những thiên tài mà còn tiềm
ẩn trong mỗi cá nhân.
Tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế
giới, có thể tiếp cận nghiên cứu sáng tạo theo bảy xu hƣớng chính, đó là
[15, tr 35]:
(1) Tiếp cận thần bí
(2) Tiếp cận thực dụng
(3) Tiếp cận động lực tâm lý
(4) Tiếp cận trắc đạc tâm lý
(5) Tiếp cận nhận thức
(6) Tiếp cận xã hội – nhân cách
(7) Tiếp cận hội tụ
8
Với bảy xu hƣớng tiếp cận này có thể thấy có nhiều góc độ khác nhau
để nghiên cứu về sáng tạo. Cách tiếp cận thần bí cho ta thấy sáng tạo giống
nhƣ một phạm trù vô cùng bí ẩn mà thần thánh ban tặng cho con ngƣời,
lẫn mô phỏng tƣ duy sáng tạo trên máy tính. Các tác giả Finke, Ward, Smith,
Sternberg, Davidson đã đề xuất mô hình tƣ duy sáng tạo gồm hai giai đoạn:
(1) - tạo ý tƣởng, (2) – khai thác ý tƣởng. Ở giai đoạn tạo ý tƣởng, cá nhân
xây dựng dạng thức tâm lý, đƣợc gọi là cấu trúc tiền sáng tạo, nó có các thuộc
tính đƣợc sử dụng để xúc tiến phát kiến sáng tạo. Trong giai đoạn khai thác ý
tƣởng, các thuộc tính này đƣợc dùng để đi đến ý tƣởng sáng tạo. Hàng loạt
các quá trình tâm lý đi vào hai giai đoạn này nhƣ là sự phục hồi, liên tƣởng,
tổng hợp, chuyển hóa…
Tiếp cận xã hội – nhân cách: cùng với tiếp cận nhận thức, tiếp cận xã
hội – nhân cách tập trung vào nghiên cứu nhân cách, động cơ và môi trƣờng
văn hóa xã hội nhƣ nguồn gốc của sáng tạo. Các nhà nghiên cứu nhƣ Amabile
và Csikszentmihalyi đã đƣa ra đƣợc đặc điểm nhân cách của ngƣời sáng tạo
nhƣ khả năng phê phán độc lập, tự tin, bị lôi cuốn bởi tính phức tạp, định
hƣớng mỹ học và ƣa mạo hiểm… Nếu nhƣ tiếp cận nhận thức bỏ qua việc
xem xét khía cạnh nhân cách và xã hội thì tiếp cận xã hội – nhân cách lại bỏ
qua việc nghiên cứu quá trình sáng tạo. Nhƣ vậy, dù có nghiên cứu tiếp cận
theo hƣớng nào cũng chỉ là một chiều và đơn tuyến. Do đó, cách tốt nhất là sử
dụng tiếp cận đa ngành trong nghiên cứu sáng tạo.
Tiếp cận hội tụ: những nghiên cứu gần đây cho rằng cần phải có nhiều
yếu tố giúp cho sáng tạo xuất hiện. Có thể nói tiếp cận hội tụ cho phép xem
xét sáng tạo theo các chiều cạnh khác nhau. Ở cấp độ lý thuyết, Amabile mô
tả sáng tạo nhƣ sự hội tụ của động cơ bên trong, những kiến thức và kỹ năng
lĩnh vực phù hợp và những kỹ năng sáng tạo phù hợp. Sternberg và Lubart
đƣa ra lý thuyết đầu tƣ sáng tạo. Theo lý thuyết này, sáng tạo đòi hỏi phải có
sự hội tụ của 6 nguồn lực khác biệt nhƣng liên quan với nhau: năng lực trí tuệ,
kiến thức, kiểu tƣ duy, nhân cách, động cơ và môi trƣờng.
10
việc chăm chỉ trong giai đoạn chuẩn bị và những trăn trở trƣớc đó, không thể
có thời điểm ý tƣởng sáng tạo xuất hiện một cách bất ngờ nhƣ vậy.
Đánh giá và cụ thể hóa: Khi cá nhân nhận đƣợc ý tƣởng bất ngờ, câu
hỏi cần đƣợc giải đáp là liệu ý tƣởng này có giá trị và có đáng theo đuổi hay
không. Đây cũng là lúc các tiêu chuẩn bên trong lĩnh vực và ý kiến chuyên
môn là quan trọng nhất. Đánh giá và cụ thể hóa ý tƣởng là giai đoạn chiếm
nhiều thời gian nhất và gồm những công việc nặng nhọc nhất.
Chấp nhận về cơ bản mô hình quá trình của Wallas và tách 4 bƣớc ra
thành 2 bƣớc kiểm tra ý tƣởng và đánh giá ý tƣởng, Amabile (1983) đề xuất
mô hình sáng tạo gồm 5 bƣớc: Sự xuất hiện vấn đề (thông qua tác động bên từ
bên trong và bên ngoài); Chuẩn bị (thu thập thông tin phù hợp để giải quyết
vấn đề); Sản sinh ý tưởng (đƣa ra những phƣớng án có thể cho việc giải quyết
vấn đề); Kiểm tra ý tưởng (kiểm tra từng ý tƣởng đã đƣa theo sự phù hợp với
vấn đề); Đánh giá sản phẩm (lựa chọn cấu trả lời cho vấn đề). Hogarth(1980)
cũng đề xuất quá trình sáng tạo gồm 4 bƣớc: chuẩn bị; đưa ra giải pháp;
đánh giá giải pháp; áp dụng giải pháp. Stein (1967) lại đề xuất xem xét mô
hình quá trình sáng tạo chỉ với 3 bƣớc: hình thành giả thuyết; kiểm tra giả
thuyết; trao đổi kết quả.
Theo Csikszentmihalyi, ông nghiên cứu tính sáng tạo dƣới góc độ quá
trình nhƣng nhấn mạnh yếu tố hứng thú, đam mê, nhấn mạnh vai trò của thời
gian rảnh rỗi, của yếu tố trực giác. Ông là ngƣời đƣa ra thuật ngữ Dòng sáng
tạo - để chỉ dòng chảy dẫn đến kết quả, đến sự phát hiện. Sự thích thú, sự
cuốn hút của chính công việc làm ngƣời sáng tạo đắm mình trong diễn biến
của sự kiện, tình huống xảy ra trong tƣ duy; ngƣời sáng tạo hòa vào dòng
chảy cho đến khi ý tƣởng sáng tạo xuất hiện mà không ý thức đƣợc sự tồn tại
tách bạch của mình trong suốt quá trình đó. Mỗi ngƣời sáng tạo theo những
cách khác nhau, nhƣng ngƣời sáng tạo giống nhau ở một điều: “họ yêu thích
công việc họ làm”.
ý thức nào đó. Nếu vấn đề đƣợc nhận ra, tránh đƣợc lối ra 1 và lối ra 2, thì
câu trả lời bắt đầu đƣợc tạo ra. Ở lối ra 3, giai đoạn mà phần đông mọi ngƣời
13
từ bỏ giải quyết vấn đề, vì rằng giải quyết vấn đề đƣợc xem là nhiệm vụ khó
khăn. Đó thƣờng là cuộc đấu tranh cần sự kiên trì, bền bỉ. Đầu ra mới và phong
phú hơn thêm vào sự hiểu biết sâu hơn và nếu ngƣời tƣ duy không lựa chọn thoát
ra ở lối ra 4, họ có thể đi tới ý tƣởng có giá trị độc đáo ở giai đoạn 2 và tạo ra sản
phẩm mới. Ngƣời giải quyết vấn đề ở lối ra 5 là ngƣời sáng tạo thực sự.
Mô hình của Guilford đã đƣa ra sự chia nhánh thú vị để phát hiện ra
rằng chúng ta nuôi dƣỡng tƣ duy sáng tạo nhƣ thế nào. Tuy nhiên, việc giải
quyết vấn đề sáng tạo ở đây đƣợc Guildford giải thích một cách máy móc,
đơn giản, khó áp dụng trong thực tiễn giải quyết vấn đề sáng tạo.
Tư duy theo chiều ngang: Edward de Bono cho rằng tƣ duy theo chiều
ngang đóng vai trò chính yếu trong tƣ duy sáng tạo. Theo ông, tƣ duy theo
chiều dọc là tìm một lời giải đúng, tƣ duy theo chiều ngang liên quan đến tính
phong phú hơn là tính đúng đắn và do đó hƣớng tới tạo ra nhiều cách suy
nghĩ; tƣ duy theo chiều ngang là sự chấp nhận những thông tin có thể không
phù hợp; tƣ duy theo chiều ngang có thể tiến hành theo cách nhảy cóc; tƣ duy
theo chiều dọc có thể cung cấp một câu trả lời tốt, nhƣng chúng ta cũng cần tƣ
duy theo chiều ngang để có câu trả lời vĩ đại.
Tiếp cận theo thành tố: Sternberg đƣa ra lý thuyết ba thành tố là: (1)
tiếp thu kiến thức, (2) quá trình kiểm tra, lập kế hoạch và ra quyết định ở cấp
độ cao; (3) thực hiện nhiệm vụ.
Tư duy ẩn dụ và giải quyết vấn đề sáng tạo
Kịch bản xã hội: là quá trình giải quyết vấn đề nhóm với những nút
xoắn. Theo cách bản chất, giải quyết vấn đề nhóm đƣợc đặt trong bối cảnh
kịch tính. Cá nhân liên quan tập trung và quyết định vấn đề, đặt nó trong môi
(4) Tự do chức năng;
(5) Tính mềm dẻo của nhân cách;
(6) Ƣa mạo hiểm;
(7) Cởi mở với sự thiếu trật tự;
(8) Trì hoãn hƣởng thụ;
(9) Giải phóng khỏi vai trò giới;
15
(10) Tính kiên trì;
(11) Lòng dũng cảm;
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác cho thấy có thể bổ sung thêm
nhiều phẩm chất khác của nhân cách sáng tạo nhƣ nhạy cảm với sự tồn tại của
vấn đề; có khả năng tƣ duy phân tích và trực giác; cởi mở với kinh nghiệm và
ít bảo thủ trong việc chấp nhận thông tin mới; hứng thú với những điều vui vẻ
và tƣơi trẻ; có khả năng làm việc độc lập; luôn nghi ngờ những gì đang tồn
tại; độc lập trong đánh giá; lạc quan với những nhiệm vụ khó khăn; rất tháo
vát khi có sự cố bất thƣờng xảy ra; có ý tƣởng rất độc đáo, khác biệt về định
tính với ý tƣởng của ngƣời khác.
Nhƣ vậy, tiếp cận nghiên cứu sáng tạo nhƣ thuộc tính nhân cách đã cho
ta thấy những những phẩm chất nhân cách cơ bản có trong ngƣời sáng tạo.
Chúng ta có thể không tìm thấy đƣợc toàn bộ những phẩm chất này ở một
ngƣời sáng tạo nhƣng một ngƣời có những phẩm chất nhân cách này sẽ đảm
bảo cho sự ra đời của các ý tƣởng sáng tạo.
Hướng thứ ba: tiếp cận nghiên cứu sáng tạo như sản phẩm hoạt động
Hƣớng nghiên cứu này tập trung nghiên cứu tính sáng tạo dƣới góc
độ sản phẩm của hoạt động sáng tạo. Tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu
này có thể thấy là tác giả Eward De Bono với hƣớng tiếp cận thực dụng
trong nghiên cứu sáng tạo. Ông dùng công cụ là phƣơng pháp 6 chiếc mũ tƣ duy
LĨNH VỰC PHÙ HỢP
SÁNG TẠO PHÙ HỢP
CÔNG VIỆC
Bao gồm:
Bao gồm:
- Kiến thức về lĩnh vực
- Kiểu nhận thức thích - Thái độ đối với
- Kỹ năng kỹ thuật đòi hợp
hỏi
Bao gồm:
công việc
- Kiến thức về phƣơng - Nhận thức về động
- Tài năng đặc biệt phù pháp tìm tòi khám phá để cơ của mình để thực
hợp với lĩnh vực chuyên tạo ra những ý tƣởng mới
hiện công việc
môn
nhân giảm thiểu những
cản trở bên ngoài
17
Bên cạnh các hƣớng nghiên cứu về sáng tạo nêu trên, còn có các hƣớng
nghiên cứu nhƣ: Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ văn hóa. Các tác giả Carl
Roger, M.Stein. L.X. Vƣgốttxki.v.v… đã nghiên cứu những yếu tố văn hóa
tác động đến tính sáng tạo của con ngƣời. Đây là cơ sở để xây dựng môi
trƣờng phát triển cho mỗi cá nhân và cho cả cộng đồng; Nghiên cứu sáng tạo
dưới góc độ nhân cách. Các tác giả nhƣ Lewis Terman, MacKinnon,
M.Stein…nghiên cứu nhân cách của những ngƣời nổi tiếng và từ đó tổng hợp
đƣợc một số phẩm chất đặc trƣng của một nhân cách sáng tạo. Đây là cơ sở để
định hƣớng và phát triển những nhân cách sáng tạo trong thực tiễn; Nghiên
cứu dưới góc độ sinh lý thần kinh. Các tác giả nhƣ E.A. Spitzka, Thomas
S.Harvey, Guilford… đã nghiên cứu một số bộ não thông minh nhằm lý
giải dƣới góc độ sinh học về hoạt động, cấu tạo của não nhƣ thế nào để dẫn
đến ý tƣởng sáng tạo mới. Nhƣng kết quả nghiên cứu về thần kinh là cơ sở
quan trọng về mối tƣơng quan giữa sinh lý và tâm lý; Nghiên cứu sáng tạo
dưới góc độ phân tích sản phẩm hoạt động. Các tác giả B.Gheselin,
M.Stein, G.Claussa, Guilford… đã phân tích một số sản phẩm sáng tạo nổi
tiếng và từ đó chỉ ra những tiêu chí đặc trƣng của một sản phẩm sáng tạo.
Đây là cơ sở để đánh giá và công nhận mức độ sáng tạo của mỗi cá nhân và
cộng đồng; Nghiên cứu tính sáng tạo như là thuộc tính nhân cách bằng sử
dụng trắc nghiệm.
1.1.2. Nghiên cứu về sáng tạo, tính sáng tạo ở Việt Nam
* Về nghiên cứu
Ở Việt Nam, nghiên cứu về sáng tạo còn là một lĩnh vực khá mới và
chỉ đƣợc nghiên cứu trong vòng hai mƣơi năm trở lại đây. Công trình đầu tiên
nghiên cứu về khả năng sáng tạo, trí sáng tạo của học sinh đƣợc Viện khoa
tác giả Nguyễn Huy Tú cũng chính là ngƣời đã Việt hóa Test sáng tạo hữu
ngôn – TST – N của Schoppe hay còn gọi là Bộ trắc nghiệm VKT. Đây là bộ
Test đo trí sáng tạo của các khách thể là những ngƣời từ 15 tuổi trở lên (đƣợc
coi là đã có năng lực ngôn ngữ phát triển đầy đủ). VKT hay TST là một trong
5 bộ test sáng tạo đƣợc các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này khuyên
19
dùng ở Cộng hòa Liên bang Đức hiện nay. Tuy sử dụng vật liệu ngôn ngữ
nhƣng VKT của K.J.Schoppe là một bộ test đo tiềm năng sáng tạo nói chung
chứ không phải chỉ dùng để đo tính sáng tạo trong hoạt động ngôn ngữ. Kế
thừa những nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Tú, tác giả luận văn sử dụng
test VKT (hay TST) của K.J.Schoppe đã đƣợc Việt hóa vào quá trình nghiên
cứu của mình nhƣ là một công cụ để đo mức độ tính sáng tạo của sinh viên.
Năm 2000, tác giả Đức Uy viết trong cuốn Tâm Lý học sáng tạo, đã
chỉ ra động lực sáng tạo, vai trò của giao tiếp, trực giác và tƣởng tƣợng trong
sáng tạo khoa học, vai trò của tƣ duy sáng tạo và một số phẩm chất cơ bản của
ngƣời sáng tạo [17].
Năm 2011, tác giả Phạm Thành Nghị, trong cuốn sách “Những vấn đề
Tâm lý học sáng tạo” đã làm rõ đƣợc bản chất của sáng tạo và chỉ ra đƣợc
những đặc điểm nhân cách sáng tạo, làm rõ đƣợc cơ sở sinh học và xã hội của
sáng tạo, phân tích đƣợc mối quan hệ giữa sáng tạo và các hiện tƣợng tâm lý
khác từ đó nêu nên những ứng dụng sáng tạo trong tổ chức và việc giáo dục,
phát triển năng lực sáng tạo[14].
Năm 2012, cuốn “Giáo trình Tâm lý học sáng tạo” đƣợc tác giả Phạm
Thành Nghị viết đã hệ thống hóa những kiến thức về bản chất của sáng tạo,
cơ sở sinh học, xã hội của sáng tạo, mối quan hệ giữa sáng tạo với các hiện
tƣợng tâm lý khác nhƣ trí thông minh, tƣ duy, tƣởng tƣợng, động cơ cũng nhƣ
kiến thức về phƣơng pháp nghiên cứu sáng tạo.
ứng dụng vào công tác tổ chức, kinh doanh… tạo ra các ý tƣởng sáng tạo
trong quá trình làm việc.
Tại khoa Tâm lý học – Trƣờng đại học Khoa học xã hội & Nhân văn –
Đại học Quốc gia Hà Nội đã bắt đầu đƣa môn học Tâm lý học sáng tạo vào
giảng dạy cho học viên cao học từ năm 2009 do PGS.TS Phạm Thành Nghị
đảm nhiệm. Môn học này trang bị cho học viên cao học những kiến thức về
bản chất của sáng tạo, cơ sở sinh học, xã hội của sáng tạo, bản chất của
sáng tạo, mối quan hệ giữa sáng tạo với các hiện tƣợng tâm lý khác… cũng
nhƣ kiến thức về phƣơng pháp nghiên cứu sáng tạọ dƣới góc độ tâm lý học.
21