MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nhân loại đã và đang bước vào kỷ nguyên của công
nghệ thông tin cùng với nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá mạnh
mẽ, giáo dục và đào tạo đang diễn ra những biến đổi sâu sắ
c trên quy mô toàn cầu. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết
định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức,
tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại vào năm 2020. Trước đó, tại Báo cáo chính trị Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII - Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định các
nguồn lực tác động đến sự phát triển của xã hội ta trong giai đoạn hiện nay
gồm: nguồn lực con người Việt Nam; nguồn tài nguyên thiên nhiên; cơ sở
vật chất kỹ thuật; các nguồn lực ngoài nước. Trong các nguồn lực đó, Đảng
ta khẳng định nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất và đóng vai
trò then chốt.
Nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy sáng tạo, có ý
chí và có trí tuệ, biết sử dụng và vận dụng các nguồn lực khác, gắn kết
chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng góp phần tác động
vào quá trình đổi mới đất nước. Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị
khai thác cạn kiệt, trong khi đó trí tuệ con người là nguồn lực vô tận.
Đối với nước ta, phát triển nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước đang là nhu cầu cấp bách, đòi hỏi chất lượng
nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá. Trong xu thế
toàn cầu hoá kinh tế, vấn đề phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng xu thế
chuyển dần sang nền kinh tế tri thức đang được các nước ưu tiên. Trong đó,
lao động tri thức là nhân lực đóng vai trò hàng đầu của sự phát triển kinh tế.
1
Dạy học được xem là con đường giáo dục cơ bản nhất để thực hiện
mục đích của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó tự học là phương thức cơ
bản để người học có được những hệ thống tri thức phong phú và thiết thực.
Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người, đó
quan, khách quan khác nhau, trong đó, các biện pháp quản lý có thể là một
trong những yếu tố tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo. Lý luận về
khoa học quản lý cho thấy, hoạt động có ý thức của con người luôn bao hàm
ý nghĩa của quản lý. Để đạt được mục đích đề ra, các biện pháp, phương
thức quản lý luôn được xem là một nhân tố quan trọng. Xuất phát từ cơ sở
nhận thức đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Quản lý hoạt động tự
học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo
theo học chế tín chỉ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục đại học và thực tiễn quản lý
của Nhà trường, làm rõ và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khi áp dụng phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học An Giang, góp phân nâng cao nhận
thức về công tác quản lý hoạt động tự học trong môi trường đại học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự học và công tác quản lý
hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang.
- Đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động tự học
của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học
chế tín chỉ.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu. Hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học.
3
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của
sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế
tín chỉ.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, kết quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An
Giang còn hạn chế. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và
học như trung bình cộng, thống kê và phân tích số liệu,...
8. Giới hạn của đề tài
Mục đích nghiên cứu đã xác định và sự chi phối của các điều kiện
khách quan về nhận thức, về cơ chế đảm bảo, nên luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiện nay, với hy
vọng qua việc phân tích cho Khoa Sư phạm sẽ mở rộng kết quả cho các
Khoa khác trong giai đoạn tiếp theo.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương l: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường
Đại học An Giang.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh
viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín
chỉ.
5
Chương l
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò to
lớn thức đây sự tiến bộ của xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo
dục. Ý thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của tri thức, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Trong giai đoạn
hiện nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập với phương
hướng, con đường thực hiện là kết hợp đến trường, giáo dục từ xa và tự học.
Trong đó tự học để trưởng thành là vô cùng quan trọng.
Một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng nhất trong xã hội học
hợp nhất với khả năng, điều kiện của mình và cơ sở đào tạo phải thích ứng
dễ dàng trước nhu cầu biến động nhanh chóng, đa dạng của đời sống xã hội.
Với ý nghĩa đó, đào tạo theo học chế tín chỉ phát triển nhanh và lan rộng ra
toàn nước Mỹ. Từ đầu thế kỷ XX, học chế tín chỉ phát triển ra nhiều nước
trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như: Nhật, Philippines,
Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc,
Senegal, Mozambic, Nigieria, Uganda,… Trước sự lớn mạnh đó, 29 Bộ
trưởng đặc cách giáo dục đại học ở các nước Liên minh Châu Âu ký “Tuyên
ngôn Boglona” với mục đích hình thành “Không gian giáo dục đại học Châu
Âu” (European Higher Education Area) nhằm triển khai học chế tín chỉ
trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học.
Ở Việt Nam, trước năm 1975, học chế tín chỉ được triển khai ở Viện
Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức. Sau năm 1975, tư tưởng về học
phần xuất hiện năm 1987, quy chế đào tạo theo học phần tạm thời ra đời
năm 1988 và hoàn chỉnh vào năm 1990 với khái niệm HỌC PHẦN và ĐƠN
7
VỊ HỌC TRÌNH, đào tạo theo 2 khối kiến thức và 3 học phần, điểm trung
bình chung. Học chế học phần được xây dựng với mục đích tạo điều kiện
cho người học tích luỹ dần kiến thức theo các mô-đun. Như vậy, học chế
học phần có điểm giống nhau cơ bản với học chế tín chỉ, nhưng nó chưa
phải hoàn toàn là tín chỉ mà thực chất là sự kết hợp giữa niên chế và tín chỉ.
Trường Đại học tiên phong áp dụng học chế học phần triệt để - học chế tín
chỉ là Trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh, năm học 1993 – 1994.
Sau đó, các Đại học khác như Đà Lạt, Cần Thơ, Khoa học Tự nhiên TP. Hồ
Chí Minh, Thuỷ sản Nha Trang, Dân lập Thăng Long – Hà Nội, Hải Phòng,
Thương Mại, Nông Nghiệp Hà Nội, Hoa Sen TP. Hồ Chí Minh, Dân lập
Phương Đông,… cũng đã triển khai học chế tín chỉ. Trong "Chương trình
hành động của Chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khoá XI,
kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: "Mở rộng, áp dụng học
chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,...".
nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững. Để
lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách thức
chiếm lĩnh khác nhau. Đó có thể là do được người khác truyền thụ, do tự
quan sát, đúc kết từ lao động, môi trường sống,...
Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và
nó diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc
qua lao động sản xuất, hoạt động vui chơi,... không có chủ định dẫn đến kết
quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống. Ở
người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại.
Nhưng thực tiễn để có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con
người thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội
và quy luật về sự hình thành, phát triển con người. Nói một cách khác, ngoài
9
việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần phải
nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà
cách học ngẫu nhiên không tạo ra được. Để có được những năng lực đó,
người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để thực hiện mục tiêu đó là
hoạt động học (học có chủ định).
1.2.1.2. Khái niệm tự học
Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản
thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích
nhất định.
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học ở nhiều góc độ khác nhau.
Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này:
Thông thường khái niệm "Tự học" được hiểu là "Tự học lấy một mình
trong sách chứ không có thầy dạy" (Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân từ
điển) cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học".
Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, trong quyển "Tự học - một
nhu cầu thời đại” ông lại cho rằng khái niệm "Tự học" nếu được hiểu là "…
không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm và có thầy
riêng và của giáo dục nói chung.
1.2.2. Sinh viên
Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có
nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri
thức. Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ "Student" trong tiếng
Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Cmgenm" trong tiếng Nga. "Sinh
viên" là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh
đang theo học ở bậc phổ thông.
11
Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người
bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "sinh
viên" được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [12]. Theo Quy chế công
tác Học sinh Sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo
thì: " sinh viên" là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng.
Từ đó ta có thể hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang học
tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu của xã hội.
1.2.3. Quản lý
1.2.3.1. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo
từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Quản
lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học
nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa
khác nhau. Chúng tôi sẽ trình bày dưới đây một số định nghĩa, quan niệm về
"Quản lý" của các nhà triết học, nhà khoa học quản lý như sau:
Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích
của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằn hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời
gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực
quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều
chỉnh của pháp luật. Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các đối tượng, các
quan hệ làm cho việc quản lý càng phức tạp và khó khăn hơn. Do vậy, quản
lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã
hội ở tầm vĩ mô hay vi mô.
13
1.2.3.2. Chức năng quản lý
Tiến trình quản lý là một phức hợp những kỹ năng có tính hệ thống
rất sinh động và phức tạp. Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều
loại công việc khác nhau. Những loại công việc quản lý này gọi là các chức
năng quản lý. Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ
quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá
trình chuyên môn hoá hoạt động quản lý. Có 4 chức năng cơ bản nhất là: lập
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
+ Chức năng lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức
phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được
những mục tiêu, nhiệm vụ đó. Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản
nhất trong hệ thống chức năng quản lý theo giai đoạn, là cơ sở của các chức
năng còn lại. Để lập kế hoạch bao gồm có ba giai đoạn:
. Xác định các mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức
. Nhận diện các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các mục tiêu đó
. Quyết định về những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu
đã đề ra.
+ Chức năng tổ chức:
Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng
liên kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống
thống nhất như một cơ thể sống. Đó là sự liên kết những cá nhân, những quá
trình, những hoạt động trong hệ thống, thông qua đó để thực hiện các mục
tiêu chung của hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc quản lý. Bằng cách thiết
15
. Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều
chỉnh hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn.
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai
đoạn với sự tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và
quyết định. Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản
lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
Hình 1.1. Sơ đồ chức năng của quản lý
1.2.3.3. Vai trò quản lý
Quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Từ xa
xưa, vai trò của quản lý đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân
gian: "Một người biết lo bằng cả kho người làm". Về sau, Các-Mác đã khẳng
định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên
một quy mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”, và
ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng trong
một dàn hợp xướng.
Các nhà lý luận về khoa học quản lý như Taylor (l856 - 1915) của
Mỹ, Fayol (1841 - 1925) của Pháp và Max Weber (1864 - 1920) của Đức
đều khẳng định rằng quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy
sự phát triển xã hội.
Trong xã hội, mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống đều có hoạt động
quản lý, ví dụ như: quản lý giáo dục, quản lý kinh tế, quản lý văn hoá, quản
16
Kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Chỉ đạo
lý khoa học và công nghệ,... Mỗi lĩnh vực quản lý sẽ có nét đặc thù riêng,
song tựu trung lại đều có những nét về bản chất và đặc trưng chung của hoạt
động quản lý và nó góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3. thời gian
dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài,...;
đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ
chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các
môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1
giờ chuẩn bị ở nhà); đối với việc tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc
trong 1 tuần [6].
Quyết định 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt
nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ thì xác định: Tín
chỉ là đơn vị dùng để đo khối lượng kiến thức đồng thời là đơn vị để đánh giá
kết quả học tập của sinh viên dựa trên số lượng tín chỉ đã tích luỹ được. Mỗi
tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết. Để tiếp thu được 1 tiết học lý
thuyết sinh viên cần ít nhất 2 tiết chuẩn bị cá nhân. Cứ 30 tiết thảo luận trên
lớp bài tập thí nghiệm hoặc 45 - 60 tiết thực tập, kiến tập, làm tiểu luận, đồ
án, khoá luận tốt nghiệp được tính tương đương 1 tín chỉ [1].
1.2.4. 2. Đặc điểm của học chế tín chỉ [5]
Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần).
- Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng
học phần.
- Đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo từng học phần.
18
- Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học và 3 tuần thi)
và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm 3 học kỳ (12
tuần học và 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2 tuần thi).
- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A,B,C,D hay 4,3,2,l)
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng.
Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ đã tích luỹ.
- Có hệ thống cố vấn học tập để tư vấn cho người học tự thiết kế
chương trình học tập của mình.
tuệ của nhân loại. Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập,
sinh viên không thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động
nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo
phát triển ở mức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có
chuyên môn năng lực cao. Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên còn
gọi là hoạt động học tập nghề nghiệp. Vốn học vấn tiếp thu được trong
quá trình này hết sức quan trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham
gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và là nền tảng cho hoạt động tự
học, tự nghiên cứu.
Một điều khác nữa so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông
thì hoạt động học tập của sinh viên mang tính tự giác, tích cực chủ động
hơn. Sinh viên ngoài giờ lên lớp theo chương trình chính khoá, họ còn
phải tích cực đọc thêm sách và tài liệu tham khảo để tự phát triển kiến
thức cho mình, tranh thủ sự giúp đỡ của giảng viên để đào sâu kiến thức
chuyên môn. Có như vậy, sau khi ra trường họ mới vững vàng trong công
việc của mình. Chính sự khác biệt này đòi hỏi, sinh viên phải có sự thay
đổi lớn về nhận thức, tư duy. Do vậy, khác với giáo dục phổ thông, yêu
cầu về chất lượng kiến thức thì ở đại học không chỉ học sự kiện hay hiện
tượng, không chỉ học biết, học hiểu và học vận dụng mà còn học phân
20
tích, học tổng hợp, học đánh giá và nhất là học phương pháp học tập, đó
là học có kế hoạch, học có tư duy và học có sáng tạo để học một biết
mười, để có năng lực học suốt đời.
Theo quan niệm của UNESCO về yêu cầu đối với sản phẩm đại học
trong thời đại hiện nay là:
- Có năng lực trí tuệ và có khả năng sáng tạo và thích ứng.
- Có khả năng hành động (các kỹ năng sống) để có thể lập nghiệp.
- Có năng lực tự học, tự nghiên cứu để học thường xuyên, suốt đời.
- Có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, tin học, văn hoá toàn cầu,...) để có
khả năng hội nhập.
Hiện nay, trong các trường đại học áp dụng phương thức đào tạo theo
hình thức niên chế học phần, kết quả học tập môn học (học phần) của sinh
viên được đánh giá bằng điểm thi kết thúc học phần. Theo Quy chế đào tạo
đại học ban hành theo Quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày
11/02/1999 và Quy chế 25/2006/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo: “Điểm để đánh giá kết quả học tập của học phần lý thuyết là
điểm thi kết thúc học phần"; đối với các học phần có cả thực hành và lý
thuyết thì phần thực hành đạt được coi là đủ điều kiện để được xét dự thi
phần lý thuyết và "điểm thi phần lý thuyết là điểm thi kết thúc học phần".
Theo quy định này sẽ tạo cho sinh viên một thói quen không tốt đó là không
chủ động, tích cực học tập một cách thường xuyên, mà họ chỉ tập trung học
tập vào thời gian chuẩn bị thi kết thúc học phần [5].
Khác với đào tạo theo hình thức niên chế học phần, học chế tín chỉ coi
trọng phần tự đào tạo, tự học của người học trong quá trình đào tạo. Do đó ,
đặt ra những yêu cầu cao, chặt chẽ, liên tục về kiểm tra và đánh giá. Việc
đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo theo học
22
chế tín chỉ không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn
bằng nhiều cách đánh giá khác:
a) Hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, thảo
luận),
b) Việc tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời
gian và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà do giảng viên giao),
c) Làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế,
d) Bài thi kết thúc môn học.
Khi tổ chức hoạt động giảng dạy, giảng viên có trách nhiệm cung cấp
cho sinh viên bản đề cương môn học (syllabus), trong đó thể hiện rõ về cách
thức, trọng số đánh giá kết quả học tập cũng như các yêu cầu, nội dung khác
của môn học trong ngay từ khi bắt đầu học. Việc kiểm tra, đánh giá thường
xuyên trong quá trình dạy và học buộc sinh viên phải học chăm chỉ, không
giảng dạy phải thực hiện hết sức chính xác, không được đổi giờ hoặc bỏ giờ;
mỗi giảng viên, mỗi sinh viên đều có thời khoá biểu riêng, không theo một
quy luật nào cả. Vì thế, nếu trước kia, sinh viên phải "chạy" theo kế hoạch
của Nhà trường thì bây giờ Nhà trường phải "chạy" theo kế hoạch của từng
sinh viên, do vậy, quản lý đào tạo, quản lý dạy học theo học chế tín chỉ cần
một hệ thống quản lý khoa học, chặt chẽ, linh hoạt và mềm dẻo. Để quản lý
dạy học trong học chế tín chỉ đạt hiệu quả cao, Nhà trường phải thực hiện
đồng bộ các nội dung sau:
+ Một là, phải ổn định và công khai hoá nội dung chương trình đào
tạo của tất cả các ngành nghề trong Trường bằng một Niên lịch đào tạo. Để
đảm bảo tổ chức giảng dạy theo học chế tín chỉ, các học phần phải được xây
dựng sao cho kiến thức chứa đựng trong mỗi học phần phải ở cùng một trình
độ. Theo cách đó, các học phần thuộc giai đoạn 1 chỉ có thể là những học
24
phần đại cương hoặc nhập môn, còn những học phần có tính chất nâng cao
và chuyên sâu và những học phần cơ sở ngành đều phải dạy ở giai đoạn 2.
Chương trình nội dung đào tạo của các ngành cũng cần được xây dựng lại
sao cho có nhiều học phần chung, không phải chỉ ở giai đoạn 1 mà còn ở cả
giai đoạn 2. Một bộ phận các học phần phải được bố trí dưới dạng tự chọn.
+ Hai là, phải thay đổi cách tổ chức quá trình đào tạo. Theo phương
thức đào tạo niên chế học phần, lớp học được tổ chức theo khoá tuyển sinh
nhưng khi chuyển sang học chế tín chỉ, lớp học phải được tổ chức theo mỗi
học phần mà sinh viên đã đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ. Muốn làm được
điều đó, thời khoá biểu học tập và hệ thống các phòng học phải được phòng
Đào tạo của Trường tập trung quản lý thống nhất, không phân cấp cho các
Khoa như trước đây. Ngoài ra, để đảm bảo cho tất cả các học phần đều được
dạy rải đều trong suốt 15 tuần thực học của một học kỳ, số tiết giảng lý
thuyết ở mỗi tuần phải được bố trí đúng bằng số tín chỉ của từng học phần
được dạy trong học kỳ đó.
Vì vậy, phòng Đào tạo của các trường phải có các chuyên gia về giáo