Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM PHẠM THỊ MAI LAN
CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM
THÔNG TIN – THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC HÀ NỘI – 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM PHẠM THỊ MAI LAN
HÀ NỘI 35
2.1. Vài nét khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội 35
2.2. Vài nét khái quát về Trung tâm Thông tin – Thƣ viện ĐHQGHN 38
2.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thƣ viện Đại
học Quốc gia Hà Nội 41
2.4. Nhận xét và đánh giá chung về tình hình quản lý các hoạt động của Trung tâm
Thông tin – Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội 66
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN – THƢ VIỆN ĐÁP ỨNG YEU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN
CHỈ Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 70
3.1. Các căn cứ để đề xuất biện pháp 70
3.2. Một số biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động thông tin – thƣ viện phục vụ đào
tạo theo học chế tín chỉ oqr ĐHQGHN 74
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí và tiềm lực khoa
học trở thành động lực chính của sự tăng tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục-
đào tạo (GD-ĐT) được coi là nhân tố quyết định sự thắng, bại của mỗi quốc gia.
Nghị quyết Hội Nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định: “Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách
hàng đầu”. Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự nghiệp GD-ĐT
càng có vai trò và vị trí quan trọng. Trong các cuộc họp của Trung ương Đảng bàn về

ứng với sự đổi mới đó.
Hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức và
nghiên cứu khoa học. Trong đó, một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng, quyết
định chất lượng chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học là khả năng cung cấp
nguồn tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu trước hết của các nhà quản lý, của
giảng viên, của sinh viên trong trường đại học. Đây chính là sứ mệnh của các Trung
tâm Thông tin-Thư viện trong các trường đại học. Vì vậy quá trình đổi mới giáo dục
đại học phải đồng nghĩa với quá trình đổi mới các Trung tâm TT-TV đại học nhằm
thoả mãn tốt nhất nhu cầu thông tin cho người dùng tin ở mọi lúc, mọi nơi.
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là một trong những trung tâm đại học đa
ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao của cả nước. Trong những năm qua, được sự quan
tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, ĐHQGHN đã đạt được những thành tựu to lớn
trong việc thực hiện sứ mệnh của Đảng và Nhà nước giao cho, đặc biệt là khẳng định
thế mạnh về khoa học cơ bản và một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn. Với mục
tiêu đào tạo và nghiên cứu khoa học (ĐT & NCKH) chất lượng cao, ĐHQGHN là nơi
đào tạo nhân tài và nguồn nhân lực có trình độ cao nhằm đáp ứng thị trường lao động
đa dạng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Để thực hiện được những mục tiêu trên, ngay từ những năm đầu ĐHQGHN đã
chú trọng phát triển các cơ sở phục vụ ĐT & NCKH, trong đó có Trung tâm Thông tin
- Thư viện (TT-TV). Trung tâm TT-TV có chức năng thông tin và thư viện phục vụ các
công tác ĐT & NCKH của ĐHQGHN và có nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, xử lý,
cung cấp tin, tài liệu khoa học phục vụ cán bộ, giảng viên và sinh viên ĐHQGHN. Trải

3

qua 10 năm hoạt động, cùng với sự đổi mới và phát triển của ĐHQGHN, Trung tâm
TT-TV đã đạt được những thành tích đáng kể trong công tác phục vụ TT -TV, góp
phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng ĐT & NCKH của ĐHQGHN.
Trong đề án “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam”, ĐHQGHN nằm trong số 14
trường ĐH được Chính phủ chọn để xây dựng thành những trường tiên tiến, sẽ là

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và thực trạng quản lý hoạt động của
Trung tâm thông tin-thư viện, đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động
của Trung tâm thông tin-thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Đại
học Quốc gia Hà Nội.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận của đề tài: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt
động thông tin-thư viện trong trường ĐH.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin-thư viện
ĐHQGHN.
- Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt đông của Trung tâm thông tin-
thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở ĐHQGHN trong giai đoạn
mới.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động của Trung tâm TT-TV ĐHQGHN.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động của Trung tâm thông tin-thư viện
đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm TT-TV ĐHQGHN từ
năm 2000 đến nay.
- Đề xuất các biện pháp tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động thông tin-thư viện
đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở ĐHQGHN trong giai đoạn mới.
6. Giả thuyết khoa học

5

Trong những năm qua, Trung tâm TT-TV đã đạt được những thành tích đáng kể
trong công tác phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của ĐHQGHN. Trước yêu cầu

6

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm quản lý
Theo từ điển tiếng Việt: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập
thể người khác để phối hợp điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung”.[28]
Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp
với nhau trong các tổ chức nhằm đạt những mục tiêu chung. Hoạt đông quản lý là hoạt
động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tập thể. Nếu mỗi cá nhân tự
mình hoạt động, sống một mình thì không có hoạt động quản lý.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát
triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến
phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và chịu một sự quản
lý nào đó.
Quản lý được Các- Mác coi là chức năng đặc biệt, sinh ra từ tính chất xã hội hoá
lao động. “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên
quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn
bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng”. [4]
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người
nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động giúp
cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng
đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý là vấn đề rất rộng và phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học nên có rất nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau:
 Định nghĩa về quản lý của một số nhà khoa học nước ngoài:

- Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động

8

của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật
khách quan” [30].
Mặc dù với những cách tiếp cận khác nhau, song các khái niệm quản lý đó có
thể thấy rõ được nội hàm như sau:
- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích, có tổ chức từ chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý bằng hệ thống các nguyên tắc, luật lệ, chính sách,
phương pháp, biện pháp tạo điều kiện cho sự phát triển đối tượng và uy tín của người
quản lý.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa 2 bộ phận: đó là chủ thể quản lý (là cá nhân
hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu
sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh-phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động điều khiển lao động. Đó là
quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử
dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra
trong điều kiện biến động của môi trường.
1.1.2. Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là nội dung cơ bản của quá trỡnh quản lý, là nhiệm vụ khụng
thể thiếu được của chủ thể quản lý. Lao đông quản lý là một dạng lao động đặc biệt,
lao động sáng tạo, hoạt động quản lý cũng phỏt triển khụng ngừng
từ thấp đến cao; gắn liền với quy trỡnh phỏt triển, đó là sự phân công, chuyên
môn hoá lao động quản lý. Sự phân công chuyên môn hoá lao động quản lý là cơ sở
hỡnh thành cỏc chức năng quản lý.
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt đông tất yếu của chủ thể
quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực
hiện mục tiờu.

"Chúng ta phải hiểu rằng, muốn quản lý tốt cũn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn
nữa". Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa
các bộ phận trong hệ thống quản lý nhằm làm cho họ thực hiện thành cụng cỏc kế
hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động
lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.

10

c. Chức năng chỉ đạo (lónh đạo)
Chỉ đạo là quá trỡnh tỏc động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi và
thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đó đề ra. Chỉ đạo thể hiên quá
trỡnh ảnh hưởng qua lại giũa chủ thể quản lý và mọi thành viờn trong tổ chức nhằm
gúp phần thực hiện hoá các mục tiêu đó đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động
lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ giữa con người
với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó do họ tự nguyện và nhiệt
tình phấn đấu.
Quỏ trỡnh chỉ đạo (lónh đạo) bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và
động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, việc lónh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy
đó hoàn tất, mà nú thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.
d. Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những giải pháp tốt nhất để đạt tới
các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để hiện thực hoá các mục
tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động giám sát, kiểm tra để xem xét việc triển
khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu
cần thiết.
Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện;
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn;

loại hình quản lý đặc biệt. Một số tác giả đưa ra các khái niệm quản lý GD như sau:
Theo tác giả M.I. Konđacốp: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ
chức, kế hoạch, kiểm tra…) nhằm đảm bảo vận hành bình thường các cơ quan trong hệ
thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất
lượng ".[14]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
Môi trường quản lý
Kế hoạch hoá
Chỉ đạo
Tổ chức
Kiểm tra, đánh giá
Thông tin

12

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh".[25]

Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: đối tượng của quản lý quá trình giáo dục đào tạo
là sự hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên và tổ chức sư phạm của nhà
trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình GD-ĐT nhằm đạt được mục tiêu
giáo dục đã quy định với chất lượng cao. 1.1.4. Quản lý trường học
Theo Cố GS. Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý GD nói chung và quản lý trường
học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của
chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thể hiện đúng tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất”.[19]
Về khái niệm quản lý nhà trường GS. Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa:
"Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi GD của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu
ĐT đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng học sinh". [25]
Trên cơ sở quan niệm về quản lý trường học, ta thấy: Quản lý nhà trường là tập
hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các bộ
phận khác nhằm tận dụng các nguồn lực do nhà nước đầu tư cũng như các lực lượng xã
hội đóng góp, hoặc vốn tự có của nhà trường, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động
của nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là quá trình ĐT thế hệ trẻ. Tất cả nhằm thực hiện có
chất lượng mục tiêu và kế hoạch ĐT, đưa nhà trường phát triển.
Vậy,” Quản lý trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý có
hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh và các lực lượng xã
hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi
mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả”
[29]

14


15
Đ
Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành tố
M
Th Tr

QL

N P
Đ

Điều kiện đào tạo ở đây chính là nguồn lực: Nguồn lực vật chất: là cở sở vật
chất, thư viện , phòng thí nghiệm, thiết bị trường học… Trong đó, thư viện là yếu tố
quan trọng, không thể thiếu trong cấu trúc toàn vẹn của quá trình giáo dục, đào tạo. Nó
góp phần quyết định trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo. Tính hiện đại
của một nhà trường được phản ánh qua trình độ của thư viện trường học.
1.1.5. Thư viện trường đại học
1.1.5.1. Khái niệm
Trong Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học do Bộ
trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ban hành ngày 14/7/1986 nêu rõ:
“Thư viện trường đại học là trung tâm thông tin văn hóa, khoa học kỹ thuật của trường
đại học. Thư viện trường đại học có chức năng tổ chức, xây dựng và quản lý vốn tư
liệu văn hoá khoa học, kỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập nghiên cứu
khoa học của cán bộ và học sinh trong toàn trường.” [33]
1.1.5.2. Nhiệm vụ của thư viện đại học
Thư viện trường đại học có những nhiệm vụ chính sau:

chức năng khác trong trường để làm tốt nhiệm vụ được giao. [33]

17

Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đã kéo theo sự phát
triển của các chuyên ngành, các lĩnh vực khoa học khác, trong đó có chuyên ngành
thông tin-thư viện. Đặc biệt, cùng với xu thế phát triển của lĩnh vực thông tin-thư viện
trên thế giới, các thư viện ở Việt Nam trong đó có các thư viện trường ĐH đã và đang
thay đổi về chất, đó là cùng với thư viện truyền thống, đã ra đời những thư viện điện
tử, thư viện số, thư viện đa phương tiện Vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ
XXI, hầu hết các thư viện trường đại học ở nước ta được gọi với tên mới là Trung tâm
Thông tin-Thư viện <trường đại học>. Ví dụ như: Trung tâm TT-TV ĐHQGHN,
Trung tâm TT-TV ĐH Sư phạm Hà Nội, Trung tâm TT-TV ĐH văn hoá HN…. Tên
gọi này đã phản ánh rõ các chức năng chủ yếu bao gồm:
- Là một tổ chức đảm nhận việc tạo lập và phát triển thông tin của trường đại
học;
- Là một tổ chức đảm nhận việc bảo đảm thông tin phục vụ công tác giảng dạy,
học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ và sinh viên trong toàn trường. [17]
1.2. Hoạt động thông tin-thƣ viện trong trƣờng đại học
1.2.1. Đặc điểm của hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
1.2.1.1. Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu thông tin trong trường đại học
Trường ĐH có nhiệm vụ cơ bản là ĐT và NCKH, trong đó nhiệm vụ đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ ĐH và trên ĐH cho đất nước là quan trọng nhất. Tuy nhiên,
để nâng cao chất lượng đào tạo, các trường đại học thường phải tham gia NCKH. Công
tác NCKH gắn kết với đào tạo và làm tăng thêm vai trò của nhà trường đại học với xã
hội. Công tác ĐT và NCKH trong trường ĐH đều rất cần thông tin khoa học. Người
dùng tin /bạn đọc với nhu cầu tin của họ là một bộ phận cấu thành của một hệ thống
TT-TV.
Đặc điểm người dùng tin là cán bộ và nhu cầu thông tin của họ trong trường
ĐH:

báo cáo tổng kết các công trình nghiên cứu, bộ sưu tập CSDL các bài trích, toàn văn về
các lĩnh vực KHTN, KHXH &NV, kinh tế, giáo dục
Tóm lại. Thư viện các trường ĐH với các nhóm bạn đọc không đa dạng như ở
hệ thống TV công cộng, nhưng qua phân tích trên ta thấy nhu cầu của nhóm bạn đọc
rộng hơn và ở mức độ cao hơn, đòi hỏi các TV phải có các hình thức xử lý, phục vụ

19

thông tin một cách phù hợp với từng đối tượng bạn đọc; ứng dụng công nghệ thông tin
mới trong quản lý, lưu trữ và chuyển giao thông tin. Thư viện tổ chức, quản lý tốt công
tác này sẽ nâng cao hiệu quả phục vụ ĐT & NCKH của nhà trường.
1.2.1.2. Đăc điểm nguồn lực thông tin trong trường đại học
Nguồn lực thông tin trong trường ĐH tập trung chủ yếu trong TV/ Trung tâm
TT-TV trường, còn được gọi là vốn tài liệu thư viện. Nguồn lực thông tin là khái niệm
khá mới, nó phản ánh phần thông tin tiềm tàng trong xã hội, được con người kiểm soát
đưa về dạng thức mà dễ dàng khai thác, có giá trị phục vụ cho sự phát triển xã hội.
Hiệu quả của hoạt động thông tin-thư viện phụ thuộc vào 4 yếu tố có quan hệ
hữu cơ trong quá trình thông tin:
- Nguồn lực thông tin (NLTT)
- Cán bộ thông tin - thư viện
- Người dùng tin
- Cơ sở vật chất-kỹ thuật, phương tiện thông tin
Trong 4 yếu tố trên đây, yếu tố NLTT là tài sản quý giá, là tiềm lực của thư
viện. NLTT càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin càng lớn và do vậy càng
có sức lôi cuốn đối với ngưòi dùng tin.
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất, hình thức thể hiện thông tin, người ta phân chia
NLTT thành 2 loại:
- NLTT truyền thống (còn gọi là NLTT dạng in ấn)
- NLTT điện tử (còn gọi là NLTT số hoá)
NLTT truyền thống được thể hiện dưới dạng tài liệu in ấn như: sách, báo, tạp

1.2.2. Vị trí,vai trò của hoạt động thông tin-thư viện trong trường đại học
Thư viện trường ĐH là trung tâm thông tin văn hoá, khoa học kỹ thuật của một trường
ĐH, là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của trường ĐH. Cơ cấu một trường ĐH
thường được hình thành bởi 2 khối: Khối đào tạo và khối phục vụ đào tạo. Trong cơ
cấu đó, thư viện trường ĐH/Trung tâm TT-TV thuộc vào khối phục vụ cho sự nghiệp
ĐT & NCKH của nhà trường. Thường thì khối này gồm: thư viện, nhà xuất bản, nhà
in, tạp chí khoa học. [22]

21

Trong trường ĐH, thư viện là một bộ phận không thể thiếu được đối với hoạt
động dạy và học, nó đảm bảo cung cấp thông tin, tư liệu tạo điều kiện cho người học
phát triển toàn diện, góp phần giúp nhà trường hoàn thành sự nghiệp đào tạo nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Đã có lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
khẳng định: "Trường đại học cần phải có thư viện, mà thư viện không đồng nghĩa với
nghĩa của nó thì không phải là trường đại học"[27]. Trong trường đại học, thư viện là
một bộ phận không thể thiếu, mang tính tất yếu để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào
tạo của nhà trường. “Muốn có chất lượng ĐT tốt cần phải có đội ngũ thầy giáo giỏi
cùng với CSVC, trang thiết bị, giáo trình, sách giáo khoa, thư viện phục vụ giảng dạy
và học tập. Những điều kiện đảm bảo chất lượng là vô cùng quan trọng, không thể đòi
hỏi chất lượng đào tạo cao khi điều kiện phục vụ cho đào tạo quá thấp. Thư viện và
trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học ở các trường ĐH, CĐ có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, là thành phần không thể thiếu
trong quá trình đào tạo”.[2]
Nếu xác định từ góc độ cấu trúc của hoạt động giáo dục-dạy học (GD-DH) thì
TV là công cụ, phương tiện, điều kiện đảm bảo chất lượng GD-DH của trường ĐH.
Hoạt đông GD nói chung và dạy học nói riêng (gọi tắt là GD-DH) có cấu trúc
gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết và tác động tương hỗ nhau để tạo ra chất
lượng, hiệu quả GD nói chung và dạy học nói riêng, đó là các thành tố: thầy, trò, mục
đích GD-DH, nội dung GD-DH, phương pháp GD-DH, phương tiện - điều kiện GD-

một số yêu cầu chính sau đây:
- Có khả năng cung cấp một lượng tài liệu lớn cho nghiên cứu giảng dạy và đào
tạo.
- Cho phép thu thập và phổ biến thông tin tốt nhất cho GD và ĐT.
- Phục vụ cho các chuyên gia GD trong quá trình ĐT.
- Đáp ứng nhu cầu tự đào tạo “tự học suốt đời”.[28]
1.3. Quản lý hoạt động thông tin-thƣ viện trong trƣờng đại học
1.3.1. Khái niệm quản lý thông tin-thư viện trong trường đại học/thư viện đại học
Với những cách tiếp cận quản lý nhà trường ( mục 1.1.1.4), quản lý trung tâm
TT-TV/ thư viện ĐH là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của

Trích đoạn Nhận xét và đánh giá chung về tình hình quản lý các hoạt động của Trung tâm Một số biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động thông tin – thƣ viện phục vụ đào Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status