GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY
I. Quan điểm và định hướng công tác quản lý thu thuế trong thời gian tới
1. Quan điểm
Kinh tế NQD sẽ cùng tồn tại khách quan với các thành phần kinh tế khác
trong thời kỳ quá độ, và tự nó đã và đang phát huy vai trò nhất định trong việc phát
triển kinh tế tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; góp phần
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy nhận thức đúng đắn vị trí
kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ là cực kỳ quan trọng.
Xác định đúng vị trí vai trò của nó còn giúp các ngành chức năng hoạch định
chính sách, cơ chế thực sự khuyến khích nó phát triển.
Cần coi các thành phần kinh tế NQD như những tế bào của nền kinh tế thống
nhất. Cần phải có cái nhìn đúng đắn hơn với những người chủ khu vực kinh tế
NQD và những người lao động trong khu vực kinh tế này.
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò kinh tế NQD thể hiện trong xây dựng
chính sách thuế và quản lý thu thuế là tìm mọi giải pháp để khuyến khích khu vực
kinh tế này phát triển, xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa kinh tế quốc doanh và kinh
tế NQD, xoá bỏ ngay những quy định không phù hợp đang kìm hãm sự phát triển
của khu vực kinh tế này.
Cơ quan thuế, cán bộ thuế phải xác định khu vực kinh tế NQD là đối tượng
mình phục vụ thay cho quan niệm quản lý như hiện nay. Các cơ sở kinh tế là
nguồn cung cấp tài chính cho ngân sách, cơ sở kinh tế tồn tại và phát triển nguồn
thu tài chính cho ngân sách mới ổn định và ngày càng tăng, từ đó hướng dẫn giúp
đỡ cơ sở kinh doanh thực hiện đúng chính sách, lắng nghe ý kiến phản ánh của cơ
sở về những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, vướng mắc trong việc thực hiện
chính sách thuế để giải đáp giúp cơ sở vượt qua.
Bản thân chủ cơ sở sản xuất kinh doanh cũng cần phải nhận thức cho đúng
đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về chủ trương phát triển lâu dài
kinh tế NQD, tự xoá bỏ mặc cảm, tranh thủ nắm bắt thời cơ mạnh dạn đầu tư, đổi
mới công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời qua sản xuất kinh
lập hoá đơn chứng từ.
- Đối với hộ kinh doanh vừa và nhỏ, phối hợp với Hội đồng tư vấn xác định
lại doanh số, tổ chức công khai lấy ý kiến và công bố ổn định cho hộ kinh doanh.
Cục thuế phải giao chỉ tiêu tăng thu và chỉ đạo chặt chẽ các Chi cục Thuế, các đội
thuế thực hiện bằng và cao hơn chỉ tiêu đã giao. Mức tăng thu tối thiểu phải bằng
mức tăng trưởng kinh tế.
- Đối với hộ kinh doanh có thu nhập thấp, phải thực hiện các thủ tục miễn
giảm thuế đúng chính sách và công bố công khai để các hộ kinh doanh biết.
2.2. Đẩy mạnh việc triển khai chế độ kế toán:
- Đối với các doanh nghiệp: Yêu cầu 100% doanh nghiệp phải thực hiện
chế độ kế toán và thu thuế theo kê khai, nghiêm cấm thu thuế khoán. Kết hợp kiểm
tra quyết toán thuế, kiểm tra hoàn thuế với kiểm tra việc thực hiện chế độ kế toán,
kê khai nộp thuế, xử ký nghiêm khắc các doanh nghiệp vi phạm.
- Đối với các hộ kinh doanh cá thể: Yêu cầu các hộ kinh doanh có môn bài
bậc 1, bậc 2 phải mở sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ và nộp thuế theo kê khai.
Để chống thất thu thuế và chống các hành vi lợi dụng đối với những hộ kinh doanh
qua triển khai chế độ kế toán nếu kê khai doanh số và mức thuế lại thấp hơn doanh
số ấn định hoặc doanh số của hộ kinh doanh cùng ngành nghề cùng quy mô thì
phải xử phạt vi phạm hành chính và ấn định doanh số, mức thuế mới bằng hoặc
cao hơn doanh số và mức thuế của hộ kinh doanh cùng ngành nghề cùng quy mô,
không được ấn định bằng mức khoán trước đây.
- Đối với những hộ kinh doanh được cơ quan thuế chấp nhận cho nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ hoặc được xác định GTGT theo doanh số bán ra
trừ doanh số mua vào, yêu cầu các Chi cục Thuế phải thường xuyên kiểm tra để
phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm tránh lợi dụng. Thời gian qua, đã có
một số hộ kinh doanh lợi dụng chủ trương khuyến khích đăng ký nộp thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ chuyển từ nộp theo phương pháp trực tiếp sang nộp
theo phương pháp khấu trừ, số thuế phải nộp không những giảm mà còn được
hoàn. Cục Thuế cần chỉ đạo chặt chẽ các Chi cục Thuế trong việc duyệt cho hộ
kinh doanh được nộp thuế theo phương pháp khấu trừ.
tờ khai nộp thuế TNDN nếu doanh nghiệp kê khai thấp hơn thu nhập thực tế của
năm 2001 và mức độ tăng trưởng năm 2002 thì yêu cầu kê khai lại, trường hợp
doanh nghiệp không kê khai lại hoặc không nộp tờ khai thì căn cứ vào thu nhập
năm 2001, mức tăng trưởng kinh doanh năm 2002 để ấn định mức tạm nộp quý I.
II. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ KHU VỰC KINH
TẾ NQD TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Một số giải pháp về các chính sách thuế
1.1. Thuế môn bài
Cần xây dựng hai biều thuế để áp dụng riêng cho hai loại đối tượng, một
biểu áp dụng cho tổ chức kinh tế có mức thuế môn bài cao, một biểu áp dụng cho
hộ kinh doanh cá thể có thể chỉ duy trì hoặc điều tiết chút ít so với mức hiện hành.
1.2. Thuế GTGT
- Về đối tượng áp dụng thuế GTGT chỉ nên áp dụng với các cơ sở kinh
doanh đạt một quy mô nhất định còn các cơ sở kinh doanh có quy mô nhỏ thì áp
dụng thuế doanh thu như trước đây.
- Về thuế suất: Nên đơn giản về thuế suất chỉ nên áp dụng ba mức:
+ 0% với hàng xuất khẩu.
+ 15% hoặc 20% đối với hàng dịch vụ không khuyến khích sản xuất và
tiêu dùng.
+ 5% hoặc 10% đối với hàng sản xuất và tiêu dùng.
- Về kê khai nộp thuế: Nên có sự phân biệt: Doanh nghiệp kê khai nộp
thuế theo tháng. Doanh nghiệp vừa kê khai nộp thuế 3 tháng 1 lần. Doanh nghiệp
nhỏ kê khai nộp thuế 6 tháng 1 lần.
- Về kê khai nộp thuế: Nên bỏ khấu trừ theo tỷ lệ, chỉ áp dụng khấu trừ
nếu mua hàng hóa có hoá đơn GTGT.
1.3. Thuế TNDN
Đề nghị bác bỏ thuế thu nhập bổ sung vì phân biệt lợi thế khách quan là rất
phức tạp và mang tính chủ quan, hoặc nếu áp dụng thì chỉ áp dụng đối với một số
mặt hàng Nhà nước độc quyền giá cả do Nhà nước quyết định.
Về miễn thuế đối với hộ kinh doanh có thu nhập thấp: đề nghị nâng mức từ
doanh mà các cơ sở kinh tế NQD không được áp dụng như hướng dẫn về xử lý
chênh lệch giá, về trích lập quỹ đề phòng rủi ro....
Theo văn bản này thực hiện luật thuế lợi tức các doanh nghiệp Nhà nước
được chuyển lỗ 5 năm - trong khi luật thuế lợi tức quy định chỉ được chuyển lỗ 2
năm, với văn bản này lợi thế lại thuộc về doanh nghiệp Nhà nước, điều mà các cơ
sở kinh tế NQD không được hưởng.
- Đối với các chính sách mới ban hành hoặc mới được bổ sung, sửa đổi có
liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở kinh tế nói chung và
các cơ sở kinh tế NQD nói riêng cần được phổ biến rộng rãi cho cơ sở biết và phải
quan tâm đến khả năng thực hiện của cơ sở kinh doanh. Một chính sách mới hoặc
điều mới được sửa đổi, bổ sung có thể sẽ tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cho
doanh nghiệp thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do
đó doanh nghiệp cần phải biết và có thời gian để điều chỉnh cho phù hợp. Đây chưa
phải điều đã được các cơ quan hoặc chính sách quan tâm.
- Các văn bản hướng dẫn dưới luật phải tuyệt đối tuân theo mục đích, nội
dung đã nêu ra trong luật, không được vì quyền lợi cục bộ mà vi phạm vào những
mục đích nội dung luật quy định. Làm cho mục tiêu xuyên suốt của luật không
được thực hiện hoặc thực hiện không đúng đắn, sai lệch.
Trong hướng dẫn chính sách thuế và tổ chức thực hiện thường mắc tồn tại
này.
Thí dụ: Để khuyến khích các cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng cơ sở sản
xuất, luật thuế thu nhập doanh nghiệp và luật khuyến khích đầu tư đều quy đinh: cơ
sở sản xuất mới thành lập được miễn giảm thuế TNDN, thuế nhập khẩu, tiền thuê
đất tuỳ theo dự án đầu tư thuộc ngành nghề, địa bàn cần khuyến khích hay không.
Thực hiện chủ trương này thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính có quy định
một điểm không rõ ràng dẫn đến khó khăn cho thực hiện và rất dễ dẫn đến tuỳ tiện.
Cụ thể quy định là: Các cơ sở sản xuất được thành lập trên cơ sở sát nhập, chia
tách, mua lại cơ sở sản xuất cũ không thuộc đối tượng miễn giảm thuế. Thế là
trong tổ chức thực hiện luôn xảy ra: Một cơ sở sản xuất cũ làm ăn thua lỗ bán cho
một người khác, đối với người mua đây là cơ sở sản xuất mới nhưng theo quyết
thông tư hướng dẫn thực hiện (thực tế Nghị định của Chính phủ và thông tư của Bộ
Tài chính ký sau ngày trên). Khi các văn bản này được các cơ sở kinh tế NQD tiếp
nhận sớm nhất vào giữa tháng 2/2001. Và thực tiễn xảy ra do tháng 1/2001 các cơ
sở kinh doanh chưa tiếp nhận được văn bản hướng dẫn nên vẫn tính toán chi phí,
kết quả kinh doanh, mức thuế theo hướng dẫn trước đó, nay hướng dẫn có một số
điều chỉnh làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã đề
nghị Bộ Tài chính, Chính phủ phải xem xét chấp nhận thực tiễn đó, nếu không sẽ
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tương tự như vậy, mỗi khi điều chỉnh tăng thuế XNK, điều chỉnh lại khung
giá tính thuế hàng nhập khẩu thời gian thực hiện chỉ sau ngày ký khoảng 1 tháng,
nhiều trường hợp doanh nghiệp đã ký hợp đồng với khách hàng trước đó trên cơ sở
tính toán hiệu quả theo chính sách tại thời điểm, nay tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ
ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, bỏ hợp đồng sẽ bị phạt, thật là tiến
thoái lưỡng nan.
Mới đây nhất ngày 18/4/2001 Bộ Tài chính vừa có quyết định thu chênh lệch
giá đối với một số mặt hàng nhập khẩu. Theo quyết định này một số mặt hàng hoá
nhập khẩu từ 1/1/2001 sẽ phải nộp chênh lệch giá, một số trường hợp từ 1/5/2001.
Đối với các trường hợp đã nhập từ 1/1 đến ngày quyết định ban hành chắc chắn
doanh nghiệp đã bán hoặc tính toán giá bán không tính đến khả năng này, còn các
trường hợp nhập từ 1/5 cũng sẽ không thể thay đổi được vì hợp đồng đã ký rồi,
hàng hóa đã xuống tàu rồi...
Kiến nghị rằng: Mỗi khi ban hành chính sách mới hoặc sửa đổi, bổ xung
chính sách cũ, nếu có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thì cho phép cơ
sở kinh doanh được tiếp tục hưởng quy định trước trong một thời gian nhất định đủ
để cơ sở kinh doanh tính toán thay đổi hoặc điều chỉnh phương án sản xuất kinh
doanh.
4. Mở rộng hoạt động hỗ trợ, dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn thuế.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc nắm thông tin nhanh hay chậm,
chính xác hay không chính xác đều có ảnh hưởng trực tế tiếp đến kết quả sản xuất
kinh doanh của cơ sở. Đối với khu vực kinh NQD thường tiếp nhận thông tin và
- Hỗ trợ, tư vấn về mặt công nghệ, kỹ thuật giúp các cơ sở kinh tế NQD có
thể bắt kịp đựơc những tiến bộ về khoa học và công nghệ trên thế giới để ứng dụng
vào sản xuất kinh doanh và không bị đối tác lừa gạt.
- Hỗ trợ về mặt đào tạo nâng cao trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của
người lao động.
Như trình bày ở phần những tồn tại của bản thân khu vực kinh tế NQD có
một tồn tại về mặt trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, đa số những người quản
lý và người lao động ở khu vực kinh tế này đều không qua các trường lớp đào tạo,
họ thực hiện chức năng quản lý hoặc chức năng kỹ thuật chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm.
Việc nâng cao trình độ cho họ cần có sự hỗ trợ của Nhà nước vì bản thân
mỗi cơ sở không đủ khả năng làm được. Nhà nước cần mở rộng các hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng cho những cán bộ quản lý và người lao động ở khu vực kinh tế này.
5. Nâng cao năng lực và hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước, thuế
Bộ máy Nhà nước là cơ quan thể chế đường lối của Đảng thành pháp luật,
chính sách, đồng thời cũng là cơ quan quản lý và giám sát các cơ sở kinh tế NQD