LỊCH SỬ OLYMPIC VẬT LÍ QUỐC TẾ (IPhO)
Waldemar GORZKOWSKI
Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học Balan1. Tóm tắt lịch sử của IPhO
Olympic Vật lí Quốc tế là cuộc thi Vật lí mang tầm quốc tế dành cho các học sinh
trung học. Cuộc thi đầu tiên do Giáo sư Czesław Ścisłowski tổ chức ở Warsaw (Ba Lan)
vào năm 1967. Từ thời gian đó Olympic Vật lí Quốc tế đã được tổ chức hàng năm ở mỗi
quốc gia khác nhau, trừ một số ngoại lệ sẽ được đề cập sau đây.
Việc tổ chức Olympic Vật lí Quốc tế đã được đề xuất trước năm 1967. Olympic
Vật lí Quốc tế cần phải là một sự kiện hàng năm giống như Olympic Toán học Quốc tế đã
được tổ chức vào năm 1959. Thành công của Olympic Toán học Quốc tế và kinh nghiệm
có được từ việc tổ chức đã khích lệ các nhà vật lí trong ngành giáo dục vật lí và những
nhà vật lý quan tâm đến tương quan kiến thức của những sinh viên giỏi nhất đến từ các
nước khác nhau. Sự cống hiến và quá trình làm việc miệt mài của ba giáo sau là rất đáng
khen ngợi: Giáo sư ZcisBowski CzesBaw của Ba Lan, Giáo sư Rostislav Kostial của
Czechoslovakia và Giáo sư Rudolf Kunfalvi của Hungary. Mỗi giáo sư đều đã cân nhắc
những khả năng tổ chức Olympic Vật lí Quốc tế đầu tiên ở nước mình. Và họ kết luận
rằng Ba Lan là nước có những điều kiện tốt nhất và môi trường thuận lợi nhất cho việc tổ
chức một sự kiện như vậy. Chính nhờ điều này cùng với đóng góp to lớn của cá nhân
Giáo sư CzesBaw ZcisBowski, cuộc thi vật lí quốc tế đầu tiên đã được tổ chức ở Warsaw
vào năm 1967.
Một điều cần phải nhấn mạnh ở đây là có sự khác nhau giữa Olympic Toán học
Quốc tế và Olympic Vật lí Quốc tế. Tại cuộc thi Olympic Vật lí Quốc tế, các thí sinh phải
giải quyết không chỉ bài thi lý thuyết mà còn có cả bài thi thực hành. Vì lí do đó mà việc
tổ chức cuộc thi vật lí phức tạp hơn và tốn kém hơn.
Một vài tháng trước khi IPhO đầu tiên diễn ra, thư mời được gửi tới tất cả các
nước Châu Âu. Thư mời này đã được các nước Bungaria, Czechoslovakia, Hungary và
sàng đứng ra tổ chức mặc dù số lượng các nước tham gia đã tăng hơn năm trước. Khi mà
Olympic Vật lí Quốc tế đứng trước nguy cơ không được tổ chức nước, Ba Lan - nước
khởi xướng cuộc thi Quốc tế này đã tiếp tục tổ chức IPhO lần thứ bảy ở Warsaw vào năm
1974 (đây là lần thứ hai Ba Lan tổ chức IPhO). Lần này đã có thêm sự tham gia lần đầu
tiên của Cộng hòa Liên bang Đức. Thực tế này chắc chắn mang một ý nghĩa tượng trưng.
Trước cuộc thi Ban tổ chức giới thiệu trong Quy chế những thay đổi đã được
thảo luận và được chấp nhận ở Bucharest. Bản Quy chế mới này được gửi tới tất cả các
nước được mời tham dự cuộc thi. Các câu chữ trong bản Quy chế do Ban tổ chức đề nghị
đều được đa số các nước chấp nhận (chỉ có duy nhất 1 nước phản đối).
Những thay đổi quan trọng nhất là:
a) Số các câu hỏi lý thuyết đã được giảm từ 4 câu xuống còn 3 câu.
b) Ngôn ngữ làm việc của Olympic Vật lí Quốc tế (trước đây là: tiếng Nga, tiếng Anh,
tiếng Đức và tiếng Pháp, sau này được rút xuống còn tiếng Anh và tiếng Nga).
c) Giữa 2 ngày thi lý thuyết và thực hành có 1 ngày nghỉ.
d) Tiêu chí cho các giải thưởng cần phải được biểu thị bằng tỉ lệ phần trăm đối với điểm
cao nhất đạt được trong một cuộc thi (trước đây khung điểm giải thưởng được tính đối
với điểm lý thuyết khả dĩ cao nhất).
Vào các năm 1975, 1976, 1977 Olympic Vật lí Quốc tế được tổ chức lần lượt tại
CHDC Đức, Hungary và Czechoslovakia. Mùa xuân năm 1977 tại Ulan-Bator, Mông Cổ,
đã diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước Xã hội Chủ nghĩa. Hội nghị đã quyết
định các nước Xã hội Chủ nghĩa sẽ tổ chức các cuộc thi Olympic Hóa học, Toán học và
Vật lí quốc tế 2 năm 1 lần. Một số người cho rằng quyết định này có mục đích chính trị,
đó là làm giảm sự liên kết giữa các học sinh của các nước phương Đông và các nước
phương Tây. Khía cạnh này không nên bỏ qua, nhưng chắc chắn quyết định đó xuất phát
từ việc tăng số lượng nước tham gia và nhanh chóng tăng chi phí tổ chức. Nêú không xét
đến những lý do thực tế thì theo cách hiểu chung, quyết định trên thông thường được
ngầm hiểu như một lời mời đối với những nước khác để đảm đương Olympic khoa học
quốc tế. Điều này giải thích lý do vì sao năm 1978 và năm 1980 không tổ chức Olympic;
không có 1 nước không thuộc khối Xã hội chủ nghĩa nào sẵn sàng đứng ra tổ chức cuộc
thi khi mà họ chưa có được những chuẩn bị cần thiết cho cuộc thi. Chính nhờ nỗ lực làm
đồng Quốc tế đều biết rất rõ về nhau. Đó là một môi trường làm việc thân thiện, thoải
mái, vui vẻ. Chính nhờ thái độ và thiện chí này mà những khó khăn đều được giải quyết
nhanh chóng. Đây cũng là lý do vì sao Ban thư ký có thể giải quyết việc tổ chức Olympic
Vật lí Quốc tế trong các năm 1985, 1986 và 1987. Năm 1985 Olympic Vật lí Quốc tế đã
diễn ra tại Portoroż (Yugoslavia), năm 1986 - ở London-Harrow (Anh) và năm 1987 - ở
Jena (Cộng hòa Dân chủ Đức).
Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là Vương quốc Anh đã tổ chức IPhO XVII ở
London-Harrow trong vòng chỉ 2 năm sau khi tham gia cuộc thi. Đấy chính là nhờ quá
trình làm việc vất vả và sự nhiệt tình của Tiến sĩ Cyril Isenberg, Tiến sĩ Guy Bagnall và
ngài William Jarvis.
Nhờ những nỗ lực chung của Ban thư ký và Ban tổ chức của cuộc thi năm 1985 (Giáo sư
Anton Moljk và Tiến sĩ Bojan Golli) và năm 1986 (Tiến sĩ Guy Bagnall và Tiến sĩ Cyril
Isenberg) mà bản Đề cương thi mới đã được soạn ra. Phần thi lý thuyết đã được thông
qua trong kỳ thi ở Portoroż năm 1985 và lần đầu tiên được áp dụng trong kỳ thi ở
London-Harrow năm 1986. Sau đó, theo đề nghị của Hội đồng Quốc tế, Ban thư ký đã
chuẩn bị một đề cương mới còn được gọi là Đề cương có chia cột. Bản Đề cương này
không chỉ thể hiện chiều rộng về nội dung của vật lí mà còn yêu cầu tiếp cận cả chiều sâu
của môn học. Trong thực tế Đề cương của Olympic Vật lí Quốc tế rất hiện đại. Tuy vậy,
Hội đồng Quốc tế luôn sẵn sàng cải tiến Quy chế và Đề cương và sẽ cải tiến khi cần thiết.
Sau này, Cuộc thi đã được tổ chức hàng năm - danh sách của các quốc gia tham
dự và tổ chức được nêu trong Bảng 1 và 2.
Theo đề nghị của Tiến sĩ Rodney Jory (Úc) năm 1996 Hội đồng quốc tế đã quyết định
thành lập Ban cố vấn do Chủ tịch triệu tập. Hiện tại Ban cố vấn gồm có 14 thành viên đã
có nhiều năm kinh nghiệm về Olympic.
Mỗi năm trong bản Quy chế đều có 1 số thay đổi. Thường thì những thay đổi đó
chỉ là những thay đổi thứ yếu. Đôi khi, những thay đổi đó cũng là những thay đổi chính
trong Quy chế. Điểm thay đổi chính gần đây nhất được đưa ra là vào năm 1999. Bản Quy
chế được chia thành 2 phần: Quy chế và Quy định. Những thay đổi trong phần “Quy
chế” phải là những thay đổi được đa số tán thành về mặt chuyên môn khi biểu quyết,
trong khi đó những thay đổi trong “Quy định” chỉ đơn giản là cần được đa số tán thành
trong bản Quy chế.
Chúng tôi xin lưu ý một số đặc trưng quan trọng:
1. Bài thi được dịch ra ngôn ngữ quốc gia của thí sinh và thí sinh đó làm bài bằng
tiếng mẹ đẻ; IPhO là cuộc thi vật lí không dùng ngoại ngữ trong bài thi.
2. Những điểm thưởng bởi Ban tổ chức được so sánh với những điểm thưởng bởi
Hội đồng quốc tế, được Ban tổ chức và Hội đồng Quốc tế thảo luận cho đến khi đưa ra
được mức điểm chuẩn của bài thi. Theo cách này đảm bảo được công bằng trong việc
phân loại.
3. Theo Quy chế hiện hành, người thắng cuộc được phân loại theo luật lệ sau: