Attributes và Reflection Gvhd: Nguyễn Tấn Trần Minh Khang
200 Chương 18 Attributes và Reflection
Xin được nhắc lại rằng một ứng dụng .NET bao gồm mã chương trình, dữ liệu,
metadata. Metadata chính là thông tin về dữ liệu mà ứng dụng sử dụng như kiểu dữ
liệu, mã thực thi, assembly,…
Attributes là cơ chế để tạo ra metadata. Ví dụ như chỉ thị cho trình biên dịch, những
dữ liệu khác liên quan đến dữ liệu, phương thức, lớp, …
Reflection là quá trình một ứng dụng đọc lại metadata của chính nó để có cách thể
hiện, ứng xử thích hợp cho từng người dùng.
18.1 Attributes
Một attribute là một đối tượng, trong đối tượng đó chứa một mẩu dữ liệu, mà lập
trình viên muốn đính kèm với một phần tử (element) nào đó trong ứng dụng. Phần
tử (element) mà lập trình viên muốn đính kèm attribute gọi là mục tiêu (target) của
attribute. Ví dụ attribute:
[NoIDispatch]
được đính kèm với một lớp hay một giao diện để nói rằng lớp đích (target class) nên
được thừa kế từ giao diện IUnknown chứ không phải thừa kế từ IDispatch.
18.2 Attribute mặc định (intrinsic attributes)
Có 2 loại attribute:
• Attribute mặc định: là attribute được CLR cung cấp sẵn.
• Attribute do lập trình viên định nghĩa (custom attribute)
18.2.1 Đích của Attribute
Mỗi attribute chỉ ảng hưởng đến một đích (target) mà nó khai báo. Đích có thể là
lớp, giao diện, phương thức … Bảng sau liệt kê tất cả các đích
Bảng 18-1 Các đích của attribute
Loại Ý nghĩa
All Áp dụng cho tất cà các loại bên dưới
việc ghi nội dung, trạng thát xuống dĩa từ hay truyền qua mạng.
18.3 Attribute do lập trình viên tạo ra
Lập trình viên hoàn toàn tự do trong việc tạo ra các attribute riêng và đem sử dụng
chúng vào nơi nào cảm thấy thích hợp.
18.3.1 Khai báo Attribute tự tạo
Đầu tiên là thừa kế một lớp từ lớp System.Attribute:
Public class XYZ : System.Attribute
Sau đó là báo cho compiler biết attribute này có thể đem áp dụng lên mục tiêu nào.
[AttributeUsage(AttributeTargets.Class |
AttributeTargets.Constructor |
AttributeTargets.Field |
AttributeTargets.Method |
AttributeTargets.Property,
AllowMultiple = true)]
Attributes và Reflection Gvhd: Nguyễn Tấn Trần Minh Khang
202
Attribute “AttributeUsage” trên có mục tiêu áp dụng là Attribute khác: gọi là
meta-attribute.
18.3.2 Đặt tên một attribute
Lập trình viên hoàn toàn tự do trong việc đặt tên cho attribute. Tuy nhiên, compiler
của .NET còn có thêm khả năng tự nối thêm chuỗi “Attribute” vào tên. Điều đó có
nghĩa là nếu lập trình viên định nghĩa một attribute có tên là “MyBugFix” thì khi
tìm kiếm hoặc truy xuất attribute trên, lập trình viên có thể viết tên attribute:
“MyBugFix” hoặc “MyBugFixAttribute”. Nếu một attribute có tên là
“MyBugFixAttribute” thì lập trình viên cũng có thể ghi tên attribute là
“MyBugFix” hoặc “MyBugFixAttribute”.
Ví dụ:
[MyBugFix(123, "Jesse Liberty", "01/01/05", Comment="Off by one")]
18.3.3 Khởi tạo Attribute
203
18.4 Reflection
Để cho việc lưu attribute trong metadata có ích, cần phải có cơ chế truy xuất chúng
vào lúc chạy. Các lớp trong vùng tên (namespace) Reflection, cùng với các lớp
trong System.Type và System.TypeReference, cung cấp sự hỗ trợ truy xuất
metadata.
Reflection là một khái niệm chung cho bất kỳ thao tác nào trong các thao tác sau
đây:
•
Xem xét metadata
• Tìm hiểu kiểu dữ liệu (type discovery): lớp, interface, phương thức, đối số của
phương thức, properties, event, field, …
•
Nối kết trễ các phương thức và properties (late binding to methods and
properties)
• Tạo ra một kiểu dữ liệu mới ngay trong lúc thực thi. Lập trình viên có thể định
nghĩa một assembly mới ngay lúc chạy, có thể lưu xuống dĩa từ để dùng lại.
Marshaling và Remoting Gvhd: Nguyễn Tấn Trần Minh Khang
204 Chương 19 Marshaling và Remoting
Ngày nay, các ứng dụng không còn đơn thuần chỉ gồm một module, khi thực thi thì
chỉ cần chạy trong một process mà là một tập hợp nhiều thành phần (component)
phức tạp. Các thành phần đó không chỉ phân cách với nhau bằng ranh giới giữa các
process mà còn có thể phân cách với nhau qua ranh giới máy - mạng - máy.
Tiến trình di chuyển một đối tượng vượt qua một ranh giới (process, máy, …) được
thường, ứng dụng chỉ cần một miền ứng dụng là đủ. Tuy nhiên, trong những ứng
dụng lớn cần sử dụng những thư viện do người khác viết mà thư viện đó không