PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRONG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ TỈNH TRÀ VINH NĂM 2003 – 2005 - Pdf 68

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRONG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT TẠI
CỤC THUẾ TỈNH TRÀ VINH NĂM 2003 – 2005
I. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC TẾ TRONG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT
TẠI CỤC THUẾ TỈNH TRÀ VINH NĂM 2003 – 2005:
1. Phân tích Công tác quản lý đối tượng nộp thuế:
Theo quy định của Bộ Tài Chính và Tổng Cục Thuế thì các đối tượng nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ sẽ do Cục Thuế trực tiếp quản lý thu thuế, còn đối
với các đối tượng là hộ kinh doanh cá thể nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
sẽ do các Chi Cục Thuế trực tiếp quản lý thu thuế. Để thực hiện tốt công tác chỉ đạo
quản lý thu hộ cá thể, Tổng Cục Thuế quy định phòng dự toán và tổng hơp giúp Cục
Trưởng tổng hợp số liệu quản lý hộ cá thể của các huyện, thị.
Bảng 4: TỔNG HỢP ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ GTGT QUA 3 NĂM 2003 – 2005
Ở CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
Đơn vị tính: Doanh nghiệp
SỐ
TT
THÀNH
PHẦN KINH
TẾ
DOANH NGHIỆP
CHÊNH LỆCH
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2004/2003
Năm
2005/2004

so với năm 2004. Nguyên nhân của sự gia tăng này cũng là do các đơn vị này mở thêm
chi nhánh ỏ các Huyện, Thị xã ( cụ thể là mở thêm chi nhánh Công ty thủy sản ở huyện
Duyên Hải và Công ty Trà bắc….) cộng thêm việc thành lập một số doanh nghiệp theo
quyết định của UBND tỉnh.
Nhìn chung vì đây là thành phần kinh tế DNNN nên số doanh nghiệp nộp thuế tại
Cục Thuế rất phù hợp số đăng ký tại Sở kế hoạch đầu tư. Các doanh nghiệp thuộc thành
phần kinh tế này đều chấp hành đăng ký thuế để cấp mã số thuế đúng theo quy định.
Tất cả các doanh nghiệp các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh đều được Cục Thuế
quản lý chặt chẽ.
1.3. Thành phần kinh tế DNNQD: hàng năm số lượng doanh nghiệp này tặng
lên rất cao, cụ thể là: năm 2003 chỉ có 357 doanh nghiệp, sang năm 2004 lên đến 536
doanh nghiệp tăng về số tuyệt đối là 179 doanh nghiệp tương đương tăng 50,14% so
với năm 2003, qua năm 2005 tăng thêm 169 doanh nghiệp tương đương tăng 31,53% s
với năm 2004. Trong đó số tăng nhiều là doanh nghiệp tư nhân (một phần do một số hộ
kinh doanh ở các ngành nghề hoạt động kinh doanh thuận lợi nên chuyển lên thành lập
doanh nghiệp tư nhân), riêng công ty TNHH và công công ty cổ phần cũng có xu hướng
tăng lên. Theo thống kê của phòng dự toán và tổng hợp thì năm 1999 chỉ có 5 công ty
TNHH, chưa có công ty cổ phần thì đến năm 2005 đã có đến 123 công ty TNHH và 32
công ty cổ phần.
Riêng hợp tác xã và quỹ tín dụng cũng có xu hướng tăng: năm 2003 Cục Thuế
quản lý 32 hợp tác xã, 15 quỹ tín dụng, sang năm 2004 tăng lên 38 hợp tác xã (tăng
12,77% so với năm 2003), đến năm 2005 có đến 41 hợp tác xã và 16 quỹ tín dụng (tăng
7,57% so với 2004).
Nhìn chung sự gia tăng của các DNNQD qua các năm là do hiện nay kinh tế đất
nước ngày một phát triển, tình hình chính trị của đất nước ổn định, cơ sở hạ tầng và đời
sống nhân dân ngày một nâng cao, luật doanh nghiệp được sửa đổi ngày một thông
thoáng, cộng thêm nhiều chính sách ưu đãi của tỉnh nhằm khuyến khích các doanh
nghiệp bỏ vốn đầu tư kinh doanh…. tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu
tư kinh doanh, phát triển ngày càng nhiều. Số lượng doanh nghiệp thuộc thành phần
kinh tế DNNQD được Cục thuế quản lý chặt chẽ phù hợp với số doanh nghiệp đăng ký

629 620 581 -9 -1,43 -39 -6,29
5 Duyên Hải
607 567 584 -40 -6,59 17 3,00
6 Tiểu Cần
775 896 912 121 15,61 16 1,79
7 Cầu Kè
742 643 630 -99 -13,34 -13 -2,02
8 Càng Long
1.104 1.076 1.602 -28 -2,55 526 48,88
Tổng cộng
7.195 7.228 7.125 33 0,46 -103 -1,43
(Nguồn: Phòng dự toán và tổng hợp)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy số hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh có xu
hướng tăng, giảm không ổn định và không đồng đều giữa các huyện, thị qua các năm.
Tuy năm 2004 số hộ có tăng lên 33 hộ tương đương tăng 0,46% so với năm 2003,
nhưng sang năm 2005 chỉ còn 7.125 hộ giảm 103 hộ tương đương giảm 1,43% so với
năm 2004, so với 2003 vẫn giảm gần 1%. Các huyện có số hộ tương đối giảm qua các
năm là: Cầu Ngang, Châu Thành, Duyên Hải, Cầu Kè, các huyện, thị còn lại có số hộ
tương đối tăng qua các năm. Nguyên nhân của sự tăng, giảm của các hộ là do một số hộ
được thành lập mới và một số hộ kinh doanh thuận lợi chuyển lên thành lập doanh
nghiệp, cũng như một số hộ kinh doanh (làm ăn) thua lỗ dẫn đến việc giải thể, phá
sản….
Theo thống kê của phòng dự toán và tổng hợp thì hàng năm số hộ mà các Chi
Cục quản lý thu thuế GTGT chỉ đạt khoảng 73% so với số hộ đã lập môn bài, còn so
với hộ đã được cấp mã số thuế thì chỉ đạt khoảng 64%. Nguyên nhân là do:
Số hộ đã lập môn bài nhưng có thu nhập thấp (dưới mức lương tối thiểu của
cán bộ công chức Nhà nước 290.000 đồng/ tháng năm 2003 và lên 350.000 đồng/ tháng
năm 2005) thuộc diện đối tượng không chịu thuế GTGT nên không lập bộ thu thuế
GTGT.
Số hộ lập bộ môn bài thấp hơn số hộ đã cấp mã số thuế và cấp đăng ký kinh

Tình hình kê khai thuế GTGT qua 3 năm 2003 – 2005 của các DNNQN cũng chỉ
đạt khoảng 90% số doanh nghiệp phải kê khai. Chất lượng kê khai có nâng lên so với
các năm trước đây, song vẫn còn tình trạng khai dấu doanh số hoặc châm kê khai doanh
số, nhất là các ngành kinh doanh vàng bạc, xăng dầu, đối với các doanh nghiệp kinh
doanh ngành xay xát lương thực thường dấu doanh số gia công; đối với ngành kinh
doanh xe gắn máy thì thường ra hóa đơn thấp hơn giá thanh toán; một số doanh nghiệp
kinh doanh vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp chỉ kê khai doanh số bán chịu khi
được thu tiền, chỉ có các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thủy sản là kê khai sát
đúng với tình hình kinh doanh.
(Nguồn: Bảng tổng kết thu ngân sách Nhà nước năm 2005 tại Cục Thuế tỉnh Trà Vinh)
2.3. Đối với khu vực hộ kinh doanh cá thể:
Theo quy định thì các hộ cá thể kinh doanh có quy mô tương đối lớn phải thực
hiện sổ sách kế toán để nộp thuế theo kê khai hàng tháng, cụ thể là những hộ có môn
bài bậc 1 và bậc 2 phải nộp thuế theo kê khai. Tuy nhiên tình hình kê khai thuế của các
hộ trên địa bàn huyện, thị xã còn gặp nhiều bất cập về chất lượng tờ khai cũng như về
công tác quản lý hộ kê khai: Có hộ kinh doanh phát triển đi lên, thực hiện kê khai thuế
GTGT hàng tháng nhưng số kê khai lại thấp hơn số mức thuế khoán trước đây và thấp
hơn hộ kinh doanh cùng ngành nghề nộp thuế khoán ổn định hàng tháng, việc kê khai
khống, kê khai dấu doanh số diễn ra thường xuyên.
3. Phân tích tình hình quản lý và thực hiện số sách, hóa đơn chứng từ:
Về phía Cục Thuế:
Đã tổ chức thực hiện tốt việc niêm yết công khai thủ tục mua bán hóa đơn tại cơ
quan thuế đúng theo chỉ đạo của Tổng Cục Thuế.
Thực hiện tốt công tác cấp phát, quản lý hóa đơn, ấn chỉ đúng theo quy trình quy
định của Tổng Cục Thuế; đồng thời hàng năm đều triển khai thực hiện công tác kiểm kê
hóa đơn của các đối tượng nộp thuế, các đơn vị sử dụng hóa đơn đúng theo định kỳ quy
định. Ngoài ra còn thực hiện kiểm kê đột xuất theo chỉ đạo của Tổng Cục Thuế.
Về phía đối tượng nộp thuế:
Đối với các DNNN nhìn chung đều thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp, tuy
nhiên việc chấp hành nguyên tắc về chế độ kế toán ở một số doanh nghiệp còn chưa

giảm đi 14,24% so với kế hoạch nguyên nhân là do việc thay đổi cách phân bố thuế của
Bưu điện theo doanh thu nên đã làm giảm số thuế GTGT phải nộp tại tỉnh lúc đầu so
với dự toán, nhưng so với cùng kỳ năm 2004 vẫn tăng về số tuyệt đối là 1.607 triệu
tương đương tăng 8,7%. Điều đó chứng tỏ rằng số thu thuế GTGT từ Bưu điện hàng
năm chiếm phần rất lớn trong tổng số thu thuế GTGT từ DNNN TW. Ngoài ra còn có 2
đơn vị có số thuế GTGT nộp lớn đó là: Điện lực Trà Vinh, Công ty mía đường , số
doanh nghiệp còn lại có số nộp không đáng kể.
1.2. Đối với DNNN Tỉnh (địa phương):
Tuy số thu thuế GTGT đều tăng qua các năm nhưng số này đạt rất thấp, chỉ có
năm 2003 là thu được 5.944 triệu vượt kế hoạch 1,69% do năm này có một số hoạt
động khá tốt như Công ty cấp thoát nước, Công ty xây lắp láng, Công ty tư vấn xây
dựng tổng hợp, đặc biệt là Công ty xây dựng cơ bản trúng thầu nhiều công trình trọng
điểm của tỉnh. Hai năm 2004 và 2005 không hoàn thành kế hoạch giao, nhưng số thu
thuế GTGT ở năm 2005 so với cùng kỳ 2004 vẫn tăng 1.480 triệu tương đương tăng
31,36%. Điều này cần phải xem xét lại việc giao kế hoạch sao cho phù hợp với tiến độ
phát triển của thành phần kinh tế này, trong khi những năm tới có xu hướng là các
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế này sẽ giảm do việc sáp nhập, cổ phần hóa để
giúp các doanh nghiệp này làm ăn hiệu quả hơn.
Trong số 15 doanh nghiệp trọng điểm có kế hoạch thu hàng năm thì có 6 doanh
nghiệp luôn hoàn thành kế hoạch là: Công ty xây lắp láng, công ty phát triển điện nông
thôn, Công ty tư vấn xây dựng tổng hợp, Công ty sách và thiết bị trường học, Công ty
du lịch, Công ty khai thác công trình thủy lợi. Các doanh nghiệp còn lại có số thu luôn
thấp hơn mức kế hoạch giao như là: Công ty dược và vật tư tế, Công ty Giống và Dịch
vụ kĩ thuật nông nghiệp, Công ty khai thác và dịch vụ thủy sản, Công ty thủy sản cửu
long, đặc biệt là công ty chế biến dừa chỉ hoàn thành được thuế môn bài. ( nguồn:
Phòng dự toán và tổng hợp)
1.3. Công ty xổ số kiến thiết:
Xổ số kiến thiết là nguồn thu có tính chất và đặc thù riêng trong khu vực kinh tế
quốc doanh. Do mới thành lập từ năm 1992 trên cơ sở tách ra từ Công ty xổ số kiến
thiết cửu long, chính vì vậy gặp không ít khó khăn trong hoạt động kinh doanh vừa phải

kế hoạch thu thuế GTGT cao nhất từ năm 1992 đến nay.
Tuy nhiên số thu từ khu vực này thường không ổn định, song việc xét giao kế
hoạch đối với khu vực này hàng năm là rất khó do đây là khu vực do các Chi Cục Thuế
huyện, thị xã quản lý và đặc biệt là đa số cá hộ kinh doanh nhỏ lẻ, do đó việc thành lập,
giải thể, nghỉ kinh doanh là chuyện xảy ra thường xuyên, làm cho các Chi Cục Thuế rất
khó khăn trong việc quản lý vì vậy việc bỏ soát hộ trong quản lý thu thuế là khó tránh
khỏi, gây nên khó xác định chính xác được kế hoạch thu cho khu vực này.
2. Phân tích kết quả thu thuế GTGT theo địa bàn Huyện, Thị xã:
Để thấy rõ được số thuế GTGT thu theo địa bàn huyện, thị xã ở các hộ kinh
doanh cá thể do các Chi Cục Thuế trực thuộc quản lý ta lập bảng sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status