HỘ SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỘ SẢN XUẤT
I . KINH TẾ HỘ TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA :
1 . Đặc điểm sản xuất của kinh tế hộ nông dân :
Vị trí vai trò nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã được khẳng định trong các giai
đoạn lịch sử của đất nước đã đóng góp phần lớn trong công cuộc đổi mới. Nông nghiệp
nông thôn là thị trường rộng lớn và nhiều tiềm năng phát triển nhưng tích lũy từ nội bộ còn
thấp so với yêu cầu đầu tư phát triển. Trong dự thảo văn kiện đại hội IX của Đảng về
phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 -
2005 đã xác định các mục tiêu chiến lược phát triển cụ thể giá trị sản lượng nông nghiệp
tăng 4 % năm .
1 . 1 - Khái niệm hộ sản xuất :
Hộ sản xuất bao gồm chủ yếu cha mẹ, con cái, ông bà cùng chung hộ khẩu, các
thành viên trong hộ gắn bó với nhau chặt chẽ, thể hiện :
- Thông qua mối quan hệ hôn nhân và huyết thống .
- Về kinh tế : Các thành viên trong hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất, quan hệ sản xuất, phân phối sản phẩm và quan hệ quản lý .
Các thành viên trong hộ cùng chung mục đích và lợi ích thoát khỏi đói nghèo. Hoặc
nâng cao mức sống và làm giầu, do đó hộ sản xuất là một tế bào của nền kinh tế xã hội .
Hộ sản xuất là tập hợp các thành viên trong một gia đình, đại diện là chủ hộ, tự chủ
trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh. Là chủ thể trong quan hệ sản xuất kinh doanh, lao
động tự nguyện và tự giác, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình .
1 . 2 - Các hộ sản xuất tồn tại trong nông thôn ngày nay :
Có hai loại hộ sản xuất tồn tại trong nông thôn hiện nay đó là :
- Hộ loại I : Loại hộ này chiếm đại bộ phận (khoảng 90 %).
Là loại hộ chuyên sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp có tính chất tự cung, tự
cấp do một cá nhân đứng ra làm chủ hộ và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh
của mình .
Phương thức tổ chức của loại hộ này đơn giản, sản phẩm sản xuất chủ yếu là lương
thực, thực phẩm, cây ăn quả, thủy sản ...
- Hộ loại II : Chiếm tỷ trọng nhỏ trong nông thôn .
xuất khẩu gạo đứng thứ 2 Thế giới, cà phê thứ 3 Thế giới, các sản phẩm xuất khẩu khác
của nông nghiệp như chè, hạt tiêu, hạt điều, thủy hải sản ... đều ở thứ hạng cao. Sản xuất
nông nghiệp có vai trò lớn trong công cuộc đổi mới đất nước nhất là từ những năm đổi mới
nền kinh tế góp phần lớn trong công cuộc công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước để hòa
nhập Thế giới .
2 . 1 - Kinh tế hộ đối với sản xuất nông nghiệp :
Trước đây sản xuất với hình thức tập thể và quan điểm hợp tác xã là nhà, xã viên là
chủ. Song do vì chúng ta chưa có đủ điều kiện và kinh nghiệm để tổ chức sản xuất nông
nghiệp tập thể, mặt khác có nhiều vấn đề dẫn đến năng suất lao động hợp tác xã rất hạn
chế, tính làm chủ và khả năng vươn lên trong mỗi gia đình không phát huy được .
Thời kỳ 1961 - 1965 Miền Bắc đã có khoảng trên 4 vạn hợp tác xã bậc cao thu hút
khoảng 85 % hộ nông dân lao động, trong suốt những năm này và những năm tiếp theo
chúng ta lấy tập thể làm động lực mà coi nhẹ động lực trực tiếp là xã viên. Vì thế sản xuất
không phát triển được, tình trạng trì trệ kéo dài trong những năm cuối của giai đoạn này,
bên cạnh đó lại cấm đoán phát triển kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân, cá thể : Coi kinh tế tư
nhân, cá thể là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, địa vị xã hội bọ thấp kém, sản xuất kinh doanh
của họ bị trói buộc, kìm hãm vì bị kinh tế tập thể chèn ép ...
Thời kỳ 1966 - 1981 đây là thời kỳ mà quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi
kinh tế tập thể là kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, quyết định sự thành bại của đất
nước. Những năm kinh tế hợp tác xã nông nghiệp làm ăn sa sút , xuống cấp nghiêm trọng,
thu nhập kinh tế tập thể đối với một gia đình không còn đảm bảo với nhu cầu tối thiểu. Do
đó họ đã nghĩ tới việc phải phát triển kinh tế phụ gia đình song lại bị trói buộc bởi cơ chế,
chính sách .
Thời kỳ 1982 đến nay : Chị thị 100 của Ban Bí thư ra đời, Đảng ta đã xác định đưa
nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu . Kinh tế gia đình dần dần được đưa vào vị trí xứng
đáng, vị trí người nông dân được khôi phục trong quá trình sản xuất thông qua cơ chế
phân phối lợi ích thích hợp . Kinh tế cá thể trong sản xuất nông nghiệp đã được xác định và
đặt đúng vị trí của nó trong nền nông nghiệp nước ta. Chỉ thị 100 ra đời khẳng định mô
hình hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta hoạt động kém hiệu quả, về lâu dài là không phù
hợp còn kinh tế gia đình của nông dân ngày càng phát triển .
nghiệp trong dự thảo văn kiện đại hội Đảng lần IX của Đảng về phương hướng phát triển
nông nghiệp nông thôn 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 .
Sản xuất nông nghiệp đã đóng góp 80 % giá trị tổng sản phẩm xã hội, góp phần lớn
đưa giá trị tổng sản lượng, GDP đầu người tăng, tăng trưởng kinh tế.
Từ những nhận định đến thực tế đối với nông nghiệp Việt Nam. Ta có thể khẳng
định được vai trò của kinh tế hộ sản xuất đã và đang đóng một vị trí hết sức quan trọng
trong nền kinh tế của đất nước nói chung,trong kinh tế nông nghiệp nói riêng.
Cụ thể :
- Kinh tế hộ phát triển nó thu hút nhều tàng lớp lao động trong xã hội trước hết là
lực lượng lao động phổ thông đang dư thừa trong nông thôn. Vì thế việc thu hút lao động
trong lĩnh vực kinh tế hộ ở nông nghiệp là có nghĩa quan trọng.
- Tận dụng được nguồn tài nguyên, đất đai, tiền vốn... Bởi vì khi đất đai, rừng, biển,
hồ, ao đầm... còn phạm vi quản lý của các đơn vị quốc doanh hay tập thể thì khả năng tận
dụng để khai thác còn rất hạn chế. Khi Nhà nước giao quyền sử dụng về gia đình thì khả
năng khai thác được tận dụng triệt để và hợp lý do đó mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo
môi trường, môi sinh lành mạnh.
- Kinh tế hộ với quy mô nhỏ song rất linh hoạt dễ thích ứng với nền kinh tế thị
trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao so với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể cùng loại
ngành nghề: Vì chi phí trung gian ít ít tiền vốn không bị lãng phí, tận dụng triệt để đất đai,
tiền vốn, lao động,trang thiết bị và có điều kiện dễ dàng điều chỉnh, thay đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi cho phù hợp với yêu cầu thị trường; Với lợi thế này kết hợp với chính sách
đều tiết vĩ mô của Nhà nước sẽ là cơ sở để kinh tế hộ phát triển không ngừng và chính là
điều kiện để chuyển dịch nền nông nghệp tự nhiên sang kinh tế hàng hóa nông phẩm có
quy mô lớn .
- Kinh tế hộ phát triển sẽ thúc đẩy phát triển ngành nghề mới và khôi phục ngành
nghề truyền thống, tạo điều kiện cho ngành công nghiệp và các ngành khác phát triển .
II . TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỘ SẢN
XUẤT :
1 . Tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:
1.1. Khái niệm tín dụng: