(Luận văn thạc sĩ) Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của các chi nhánh Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ - Pdf 68

MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN

1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

2

PHẦN MỞ ĐẦU

3

1.

Lý do chọn đề tài

3

2.

Mục đích nghiên cứu

3

3.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu


1.1.2.

Khái niệm rủi ro tín dụng và phân loại rủi ro tín dụng

8

1.1.3.

Đặc điểm của rủi ro tín dụng

11

1.2.

Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng

11

1.2.1.

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

12

1.2.1.1.

Nguyên nhân khách quan

12


1.3.

Các chỉ tiêu đánh giá và xác định mức độ rủi ro tín dụng

19

1.3.1.

Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

19

1.3.2.

Đo lường rủi ro tín dụng

22

1.3.3.

Phương pháp quản lý rủi ro tín dụng

26


1.4.

Phương hướng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng


Chương II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN

35

TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
THỌ
2.1.

Giới thiệu chung về các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

36

2.1.1.

Hệ thống các TCTD trên địa bàn

36

2.1.2.

Tổng quan về 10 chi nhánh NHTM được nghiên cứu

37

2.1.2.1.

NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Việt Trì

37


2.1.2.7.

NHTMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Phú Thọ

42

2.1.2.8.

NHTMCP Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long - CN Phú

43

Thọ
2.1.2.9.

NHTMCP Quân đội chi nhánh Việt Trì

2.1.2.10. NHTMCP Hàng Hải chi nhánh Phú Thọ
2.2.

Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng của các chi nhánh NHTM

43
44
45

trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến 31/12/2012
2.2.1.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của VCB Việt Trì


Chất lượng tín dụng

51

2.2.3.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Vietinbank Hùng

53

Vương
2.2.3.1.

Nguồn vốn huy động tại địa phương

54

2.2.3.2.

Chất lượng tín dụng

55

2.2.4.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Vietinbank Đền

57


61

2.2.6.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Agribank Phú Thọ

64

2.2.6.1.

Nguồn vốn huy động tại địa phương

65

2.2.6.2.

Chất lượng tín dụng

65

2.2.7.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của BIDV Phú Thọ

67

2.2.7.1.

Nguồn vốn huy động tại địa phương


75

2.2.9.1.

Nguồn vốn huy động tại địa phương

76

2.2.9.2.

Chất lượng tín dụng

77

2.2.10.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Maritime bank Phú

79

Thọ


2.2.10.1. Nguồn vốn huy động tại địa phương

80

2.2.10.2. Chất lượng tín dụng

81

87

2.4.

Phân tích đánh giá những hạn chế trong công tác quản trị rủi

89

ro tín dụng hiện nay
2.4.1.

Nhận biết, phòng ngừa, phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng

89

2.4.2.

Thực hiện quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro,

90

xếp hạng tín dụng
2.4.3.

Chưa tuân thủ quy trình, nghiệp vụ liên quan hoạt động tín dụng

91

2.4.4.



96

TÍN DỤNG CỦA CÁC CHI NHÁNH NHTM TRÊN ĐỊA BÀN PHÚ THỌ
3.1.

Quan điểm chỉ đạo, định hướng và mục tiêu của NHNN chi

97

nhánh về chính sách tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
3.1.1.

Chỉ đạo, xây dựng và đưa ra định hướng, chính sách về tín dụng
phù hợp với chủ trương, định hướng của Nhà nước, của ngành
và địa phương

97


3.1.2.

Nâng cao hiệu lưc, hiệu quả của hoạt động thanh tra giám sát,

97

đảm bảo hoạt động tín dụng được tuân thủ theo quy định, kiểm
soát được rủi ro và chất lượng tín dụng
3.1.3.



3.3.

Kiến nghị

119

3.3.1.

Kiến nghị Chính phủ

119

3.3.2.

Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

121

3.3.3.

Kiến nghị UBND tỉnh Phú Thọ

124

3.3.4.

Đối với hệ thống các NHTM

124

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHNNVN

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHTMCP

Ngân hàng thương mại cổ phần

RRTD

Rủi ro tín dụng

XLRR

Xử lý rủi ro

DPRR

Dự phòng rủi ro

TCTD


MSB

NHTMCP Hàng Hải

Vietcombank

NHTMCP Ngoại thương

NHNo&PTNT

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

NHĐT&PT

Ngân hàng Đầu tư và phát triển

MHB

Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long

Cty CP

Công ty cổ phần

Cty TNHH

Công ty trách nhiệm hữu hạn

trđ


- Đưa ra định hướng, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị
RRTD đối với các chi nhánh NHTM trên địa bàn dưới góc độ quản lý, chỉ đạo,

3


Thanh tra - Giám sát của NHNN và dưới góc độ tại mỗi NHTM có thể áp dụng
trong thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: 10 Chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Phú Thọ,
gồm: 4 Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Công Thương
(Vietinbank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu
Long (MHB), NHTMCP Quân đội (MB), NHTMCP Hàng Hải (Maritimebank),
NHTMCP Ngoại Thương (Vietcombank).
- Phạm vi nghiên cứu: RRTD trong hoạt động ngân hàng qua số liệu và tình
hình thực tế của 10 NHTM trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả đối với thực trạng RRTD
tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, phương pháp phân tích đối với quá trình
quản lý tín dụng; phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong nghiên cứu
hoạt động tín dụng của các NHTM; đưa ra các vấn đề và giải pháp có thể để xoay
chuyển từ nhận thức đến thực tiễn của các nhà lãnh đạo và cán bộ ngân hàng.
Công cụ nghiên cứu dùng các bảng phân tích tình hình hoạt động tín dụng
của các đơn vị, gồm: huy động vốn, cho vay, nợ xấu, trích lập dự phòng, kết quả
kinh doanh. Các bảng phân tích được xác định đối với 10 NHTM. Từ đó: khẳng
định tầm quan trọng và tác động của hoạt động tín dụng đối với các NHTM; Phân
tích cơ cấu tín dụng ngắn hạn, trung dài hạn và phân loại theo 5 nhóm nợ để đánh
giá mức độ nợ xấu trong hoạt động tín dụng, diễn biến và xu hướng của nợ xấu, xác
định mức độ rủi ro hiện tại và trong thời gian tới; Xác định các loại RRTD, các

Khái niệm và phân loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng

* Rủi ro: Có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro, tuỳ thuộc vào chủ
thể và hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi
trường.
Theo Frank Night, một học giả người Mỹ đầu thế kỷ 20: “Rủi ro là sự bất
trắc có thể đo lường được”.
Một nhà kinh tế học người Anh là Marilic Hurt Carty quan niệm “Rủi ro là
tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”.
Theo lý thuyết chứng khoán: “Rủi ro là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế
và lợi nhuận dự tính mạng lại từ đầu tư”.
Như vậy, các định nghĩa tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một nội
dung coi rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường
được.
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro có thể được hiểu là mối
đe doạ bị tổn thất một phần nguồn vốn của mình và/ hoặc không đạt được thu nhập
hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhất
định.
Trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng
nói riêng vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi, quá trình mở rộng kinh doanh đồng
thời là quá trình mở rộng rủi ro. Các nhà quản trị không thể loại bỏ được rủi ro mà
chỉ có thể phát hiện kịp thời để có những biện pháp chủ động xử lý. Đối với một
ngân hàng, việc kiểm soát rủi ro là quá trình phối hợp giữa những hoạt động nghiệp
vụ; giữa các chính sách nội bộ; giữa những thoả thuận hợp đồng với các cơ quan
bảo hiểm, cũng như tiến hành các biện pháp tự bảo hiểm và các biện pháp khác để
giảm bớt đi các chi phí, các thiệt hại bất ngờ, kể cả việc lường tránh sự phá sản ngân
hàng. Trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường hiện nay, các nhà quản
trị phải biết nhận biết và dự đoán trước các rủi ro để sớm đưa ra các giải pháp
phòng ngừa chống đỡ tác hại của nó.


khoảng 60% và là rủi ro chính đối với các ngân hàng Châu Á.
.1.2.

Khái niệm rủi ro tín dụng và phân loại rủi ro tín dụng

8


* Rủi ro tín dụng:
Theo Joel Bessis (Rish management in banking) thì RRTD được hiểu là
những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng của
những khoản vay.
Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết
định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì: "RRTD là
khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam
kết".
RRTD được hiểu theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc
không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng
vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp
nhưng nguy cơ RRTD sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một
nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt
động quản trị RRTD được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo
chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là
khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa
rủi ro. RRTD được xem là rủi ro lớn nhất trong các loại rủi ro mà ngân hàng gặp
phải, nó thường xuyên xảy ra và gây nên hậu quả nặng nề nhất. RRTD ngân hàng
gắn liền với rủi ro của khách hàng vay vốn. Tuy vậy thực tế cho thấy RRTD xảy ra

một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong một vùng địa lý nhất định; hoặc trong cùng
một loại hình cho vay có rủi ro cao.
* Căn cứ vào tính chất của RRTD:
- Rủi ro sai hẹn: là rủi ro mà người vay không trả được nợ gốc và lãi đúng
hẹn trong hợp đồng tín dụng
- Rủi ro mất vốn: là rủi ro mà ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và/hoặc
lãi theo hợp đồng tín dụng.
* Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì
RRTD được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan.

10


- Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai,
địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất
thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.
- Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người
cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan
khác.
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ
cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử
dụng vốn vay…
.1.3.

Đặc điểm của rủi ro tín dụng

Để chủ động phòng ngừa và hạn chế RRTD có hiệu quả, nhận biết các đặc
điểm của RRTD rất cần thiết và hữu ích.
Đặc điểm cơ bản của RRTD:
- RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao

Các chính sách kinh tế của Nhà nước cũng có tác động lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với các chính
sách kinh tế thông thoáng, tăng cường mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế sẽ tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh cả
chiều rộng và chiều sâu, làm ăn hiệu quả, có lãi sẽ có nguồn để trả nợ ngân hàng,
giảm thiểu RRTD.
- Do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Môi trường pháp lý tạo điều kiện
cho NHTM hoạt động trong hành lang pháp lý. Tuy vậy, khi môi trường pháp lý
chưa hoàn thiện và đồng bộ, hoặc thay đổi theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp thì
cũng khiến các khoản vay NHTM gặp khó khăn. Đơn cử như chính sách liên quan
đến giao dịch bảo đảm và các quy định trong xử lý TSBĐ của ngân hàng thường
gặp khó khăn khi thực hiện do vấn đề quyền sở hữu không rõ ràng. Công tác quản
lý nhà nước về chấp hành Pháp lệnh Kế toán thống kê, nhất là đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh không còn thực
hiện ghi chép; hạch toán theo kiểu “sổ chợ”. Vấn đề kiểm tra, giám sát các doanh
nghiệp hoạt động sau khi thành lập gần như bỏ ngỏ, tạo điều kiện cho nhiều doanh
nghiệp “ma” xuất hiện. Một số chính sách thay đổi bất lợi như chính sách khai thác

12


gỗ ảnh hưởng rất lớn tới các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ, chính sách
thuế đối với khu vực đầu tư trong nước…
- Môi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp phát triển, ngược lại sẽ gây ra rủi ro nếu doanh nghiệp luôn trong tình
trạng đất nước có chiến tranh, bị cấm vận kinh tế, tệ nạn xã hội tràn lan… từ đó
cũng ảnh hưởng tới tình hình tín dụng của ngân hàng.
- Ngoài ra, những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bão lụt, hạn
hán… tác động xấu đến phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách hàng khó
có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng gây ra RRTD.

mua chuộc... với mục đích che dấu những thông tin xấu của doanh nghiệp hoặc làm
thay đổi biến thông tin xấu thành thông tin tốt, dẫn đến việc cho vay đối với những
khoản vay tiềm ẩn nhiều rủi ro.
+ Ngân hàng thiếu một chính sách cho vay rõ ràng, hay chính sách cho vay
không phù hợp với đặc điểm thực trạng nền kinh tế. Chính sách cho vay ở đây phải
được hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm định hướng chung trong cho vay, chế độ tín
dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, các quy định về đảm bảo cho vay, về loại khách
hàng mà ngân hàng quan tâm, ngành nghề được ưu tiên, quy trình xét duyệt cho vay
cụ thể. Chính sách cho vay của một ngân hàng là kim chỉ nam cho hoạt động tín
dụng của ngân hàng đó. Một chính sách cho vay không đồng bộ, thống nhất, đầy đủ
và đúng đắn sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp
tín dụng không đúng đối tượng, tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn không đem lại
hiệu quả kinh tế, dẫn đến RRTD - nợ quá hạn.
+ Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các NHTM
khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài, qua loa hơn. Để đạt được ưu
thế trong cạnh tranh, một số ngân hàng đã hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, giảm thời
gian thẩm định… nhằm lôi kéo khách hàng mà không quan tâm đến hiệu quả đồng
vốn cho vay. Đây là hình thức cạnh tranh không lành mạnh, tạo điều kiện làm tăng
thêm rủi ro trong hoạt động tín dụng.
+ Hơn nữa, nhiều NHTM do quá chú trọng đến lợi nhuận nên đã chấp nhận
rủi ro cao, chạy theo doanh số mà xao lãng sự lành mạnh của các khoản vay.
+ Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm
định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi

14


cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách
chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm
quan trọng nhất của nhân viên tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc

RRTD là điều không thể tránh khỏi.
+ Lợi dụng những điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa
đảo để được vay vốn. Để có thể vay được vốn, nhiều khách hàng sẵn sàng làm mọi
cách để “qua mắt” cán bộ tín dụng. Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy
tờ thế chấp cầm cố giả mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ.
Điều này khiến cho một số ngân hàng gặp sai lầm, cho vay và RRTD là điều không
thể tránh khỏi.
+ Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả nợ trở
nên bấp bênh. Đây là hậu quả của việc NHTM giám sát không chặt chẽ hoặc do
khách hàng dự định từ trước khi vay vốn, nhưng trong một số trường hợp là do yếu
tố khách quan bất khả thi. Khi công việc kinh doanh đổ vỡ, không có khả năng trả
nợ cho NHTM. Vì vậy, khi khách hàng sử dụng sai mục đích, việc thanh toán gốc
và lãi đúng hạn rất khó xảy ra, RRTD xuất hiện.
+ Việc trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ đã ủy quyền và bảo lãnh cũng là
một nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NHTM. Một số công ty, tổng công ty đứng ra
bảo lãnh hoặc ủy quyền cho các chi nhánh trực thuộc vay vốn của NHTM để tránh
sự kiểm tra, giám sát của ngân hàng cho vay chính. Khi đơn vị vay vốn mất khả
năng thanh toán, bên bảo lãnh và ủy quyền không chịu trách nhiệm trả nợ thay. Có
trường hợp giám đốc doanh nghiệp (chủ tài khoản) ủy quyền cho phó giám đốc của
mình ký vào giấy tờ, hồ sơ xin vay vốn bảo lãnh, khi gặp rủi ro thì giám đốc từ chối
không chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả.
- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu
quả:
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói
cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không
thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi
ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi
khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả

16

xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, dẫn đến khả năng không thu hồi được

17


gốc và lãi, lợi nhuận giảm, nợ xấu tăng lên. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm giảm
sút uy tín của ngân hàng.
- RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: Ngân hàng luôn luôn
phải duy trì khả năng thanh toán của mình trong mọi trường hợp. Bất cứ khi nào
người gửi tiền đến rút khoản tiền mà họ gửi tại ngân hàng thì ngân hàng đều phải
chi trả đầy đủ cả gốc và lãi. Với vai trò là trung gian huy động nguồn vốn nhàn rỗi
của các tổ chức, cá nhân để cho vay nhằm tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng sẽ gặp
khó khăn trong việc thanh toán nguồn vốn mà ngân hàng đã huy động được khi xảy
ra RRTD. Khi đó, ngân hàng bị tổn thất về nguồn vốn nhưng vẫn phải thanh toán
đầy đủ cho các khoản nợ và khoản vay của ngân hàng.
- RRTD làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Với mỗi ngân hàng, lợi nhuận
thu được từ hoạt động cho vay chiếm tỷ lệ rất lớn, từ 40-80% tổng lợi nhuận. RRTD
làm cho ngân hàng mất một phần lợi nhuận do không thu được lãi cho vay, đồng
thời, ngân hàng phải bù đắp phần gốc vay không thu hồi được từ quỹ dự phòng
RRTD. Điều này làm cho lợi nhuận của ngân hàng còn lại càng bị thấp.
- RRTD có thể dẫn tới phá sản ngân hàng: Khi RRTD xảy ra sẽ làm giảm uy
tín, giảm khả năng thanh toán, giảm lợi nhuận và hậu quả xấu nhất là dẫn đến phá
sản ngân hàng.
1.2.2.2. Đối với nền kinh tế:
Ngân hàng - Tài chính là lĩnh vực có ảnh hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế.
Hoạt động ngân hàng có liên quan chặt chẽ đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị,
xã hội và cá nhân, hộ gia đình... Khi nền kinh tế càng phát triển thì ngân hàng càng
giữ vai trò quan trọng. RRTD gây ra những hậu quả xấu cho chính ngân hàng như:
giảm khả năng thanh toán, giảm uy tín, giảm lợi nhuận, đồng thời cũng gây ra
những tác động xấu cho nền kinh tế. Sự sụp đổ của các ngân hàng sẽ kéo theo sự

TÍN DỤNG
1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
Thông qua chỉ tiêu nợ xấu và kết quả phân loại nợ theo quy định tại Quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐNHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN, quy định về phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD: dư nợ
tín dụng được phân loại theo 5 nhóm nợ: nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1), nợ cần chú

19


ý (nợ nhóm 2), nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3), nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4), nợ có
khả năng mất vốn (nợ nhóm 5).
Nợ xấu (hay các tên gọi khác như nợ có vấn đề, nợ khó đòi…) là các khoản
nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 và có các đặc trưng sau:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam
kết này đã đến hạn.
- Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có
khả năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi.
- Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mại không đủ trang trải nợ
gốc và lãi.
- Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản
nợ quá hạn trên 90 ngày.
Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá RRTD là:
* Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay:

Tỷ lệ này thể hiện chất lượng trong hoạt động tín dụng của NHTM, tỷ lệ này
càng thấp thì chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại. Quy định hiện nay của
NHNN cho phép nợ xấu của các NHTM không được vượt quá 5%, nghĩa là trong
100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ xấu tối đa chỉ được phép là 5 đồng.
* Hệ số RRTD:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status