BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH HÙNG
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ CÁC CHỈ SỐ TÀI
CHÍNH NGÀNH SẢN XUẤT VẬT LIỆU
XÂY DỰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH HÙNG
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ CÁC CHỈ SỐ TÀI
CHÍNH NGÀNH SẢN XUẤT VẬT LIỆU
XÂY DỰNG
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
NGUYỄN MINH HÙNG
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Phần mở đầu
1.
Tính cấp thiết của đề tài
2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
3.
Mục đích nghiên cứu
4.
Phương pháp nghiên cứu
tế
1.2.2
Phân tích nhân tố
1.2.3 Mô hình phân tích nhân tố
1.2.4 Kỹ thuật phân tích nhân tố
Chương 2: Các nghiên cứu trên thế giới về việc ứng dụng phân tích nhân tố trong
phân tích tài chính
2.1 Ứng dụng phân tích nhân tố trong phân tích tài chính
2.1.1 Bài nghiên cứu của Anupam De, Gautam Bandyopadhay, B.N.Chakranorty
thuộc Viện nghiên cứu kỹ thuật Ấn Độ (2011): “ Áp dụng mô hình phân tích nhân
tố dựa trên các chỉ số tài chính và kiểm định giả thiết dựa vào Kỹ thuật phân
tích nhóm: Kết quả thực nghiệm ở ngành công nghiệp Xi măng Ấn Độ”
2.1.2 Bài nghiên cứu của Liqin Chen, Li Liu, Xin Liao (2012) Trung Quốc: “Ứng
dụng Phân tích nhân tố trong Đánh giá kết quả hoạt động của DN niêm yết trong
ngành công nghiệp dầu khí Trung Quốc”
2.2 Các xu hướng nghiên cứu khác trên thế giới về đánh giá hiệu quả tài chính của
doanh nghiệp
2.2.1 Đo lường và đán
2.2.2 Giá trị kinh tế đư
2.2.3 Thẻ điểm cân bằ
Chương 3: Mô hình phân tích nhân tố dựa trên các chỉ số tài chính trong trường
hợp đánh giá hiệu quả của các DN ngành sản xuất vật liệu xây dựng
26
3.3.5 Xếp hạng toàn diện
28
3.3.6 Diễn dịch kết quả thực nghiệm
32
Chương 4: Ứng dụng và Khuyến nghị việc áp dụng mô hình phân tích nhân tố tại
Việt Nam
4.1
Tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu đạt được
4.2
Khuyến nghị
Kết luận
Tài liệu tham khảo
4.2.1
Đối với ngành sả
4.2.2
: vốn đầu tư
TCTD
: Tổ chức tín dụng
TTCK
: Thị trường chứng khoán
WACC
: Chi phí sử dụng vốn bình quân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1:
chinh
Bảng 2.1:
Bandyopadhay, B.N.Chakraborty
Bảng 2.2:
Liao (2012)
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:
Bảng 3.4:
Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô. Khi
nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ tăng cao
do ngành vật liệu xây dựng là đầu vào của các ngành khác. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề
tài: “Phân tích nhân tố các chỉ số tài chính ngành sản xuất vật liệu xây
2
dựng” để xây dựng mô hình và cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong công tác phân
tích tài chính và xếp hạng DN.
2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này nhằm mục đích xem xét các nhân tố
trong phân tích tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của các DN sản xuất vật liệu
xây dựng tại thị trường Việt Nam.
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các DN sản xuất vật liệu xây dựng đang
niêm yết trên TTCK Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu này là nhằm mục đích kiểm định và ứng dụng mô hình phân tích
nhân tố để đưa ra các tỷ lệ tài chính tiêu biểu cho các doanh nghiệp cùng ngành, với
trường hợp nghiên cứu là ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Nó có thể giúp các nhà
phân tích nắm bắt gần như cùng một lượng thông tin có sẵn trong các chỉ số tài chính,
đồng thời giúp hiểu được sức khỏe tài chính và hiệu quả hoạt động của các DN sản xuất
vật liệu xây dựng một các hiệu quả hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp: mô tả - giải thích, phân tích - tổng hợp,
tố tại Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH CHỈ SỐ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN
TÍCH NHÂN TỐ
1.1 Phân tích chỉ số tài chính:
1.1.1 Sự cần thiết phải phân tích chỉ số tài chính:
Các CFO sử dụng các báo cáo tài chính để theo dõi thành quả của DN, để hiểu
được các chính sách của các đối thủ cạnh tranh hoặc để kiểm tra sức khỏe của một
khách hàng. Thông thường, các CFO chỉ sử dụng một vài chỉ số nổi bậc để đánh giá
tóm lược khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi, khả năng hoạt động, sử dụng các đòn
bẩy và các đánh giá thị trường của DN. Các chỉ số tài chính vô cùng quan trọng vì:
Các chỉ số tài chính ít khi cho câu trả lời, nhưng chúng giúp
chúng ta có những câu hỏi đúng.
Không có một chuẩn mực quốc tế cho các chỉ số tài chính, khi cần
so sánh vị thế tài chính của các công ty, hãy so sánh với các chỉ số tài chính
các năm trước hoặc với các chỉ số của các công ty cùng ngành.
Phân tích chỉ số tài chính là một biện pháp hữu ích để cung cấp những bức tranh
tổng thể về vị thế tài chính của một DN tại bất kỳ thời điểm cụ thể hoặc để cung cấp
một ý tưởng toàn diện về hiệu quả tài chính của DN trong một khoảng thời gian cụ thể.
Sử dụng các chỉ số tài chính trong lĩnh vực tài chính phục vụ cho các nghiên cứu đa
chiều. Nó không chỉ hữu ích để đánh giá sức khỏe tài chính hoặc hiệu quả hoạt động
của một DN cụ thể nào đó theo thời gian, mà nó cũng là một công cụ hữu ích để so sánh
tình hình tài chính và hiệu quả tài chính đối với những DN khác trong cùng một ngành
hoặc khác ngành để xác định các vấn đề của ngành hay xác định các yếu tố cần cải
thiện trong tương lai.
Chỉ số tài chính được tính từ báo cáo tài chính của một DN cụ thể là Bảng cân đối
năng thanh toán của DN là một chỉ số quan trọng phản ánh tình hình tài chính và hoạt
động kinh doanh.
6
Bảng 1: Chi tiết các chỉ số thường được sử dụng trong từng nhóm chỉ tiêu tài chính
Nhóm
Chỉ tiêu
về tăng
trưởng
Chỉ tiêu về
khả năng
sinh lời
Chỉ tiêu về
hiệu quả
hoạt động
kinh
doanh
Chỉ tiêu
về khả
năng
thanh
khoản
8
chọn các chỉ số tài chính quan trọng nhất làm đại diện cho nhóm chỉ tiêu tài chính trong
việc phân tích. Để giảm số lượng các chỉ số tài chính và tìm ra các loại chỉ số tài chính
cần thiết để phân tích bằng các bằng chứng thực nghiệm, phân tích nhân tố đang được
sử dụng thành công qua những nghiên cứu khác nhau trong suốt ba thập kỷ qua.
Tùy các tiếp cận khác nhau, có rất nhiều chỉ số tài chính được nghiên cứu và phát
triển. Tuy nhiên, các chỉ số tài chính đôi khi không thực tế và đôi khi không thể xảy ra
để tính toán tất cả các chỉ số theo như mong muốn của các CFO. Với sự hiện diện của
các mối quan hệ trong và giữa các bộ chỉ số tài chính, một số lượng nhỏ hơn các loại
chỉ số tài chính có thể là đủ để nắm bắt hầu hết các thông tin mong muốn. Sử dụng một
số phương pháp thống kê, chúng ta có thể làm giảm các chỉ số tài chính này này bằng
cách tìm hiểu các yếu tố (biến tiềm ẩn) vốn có thành một bộ các chỉ số tài chính để
phân tích. Trong các phân tích chỉ số tài chính truyền thống, một nhóm các chỉ số tài
chính như: chỉ số thu nhập và lợi nhuận, chỉ số thanh khoản, chỉ số đòn bẩy và khả năng
thanh toán, chỉ số khai thác hiệu quả tài sản, chỉ số về hiệu quả hoạt động… được dựa
trên giả định mối quan hệ chứ không phải là dựa trên các cơ sở thực nghiệm. Sự cần
thiết phải sử dụng phân loại thực nghiệm từ các mô hình phân tích dữ liệu, tức là phân
loại dựa trên cách tiếp cận của kỹ thuật thống kê đã được phát triển vài năm trở lại đây.
Phân tích nhân tố là phổ biến nhất trong số các phương pháp thống kê đó. Sau khi phân
tích nhân tố xác định các yếu tố tiềm ẩn (tức là tập hợp các loại) vốn có thành một tập
hợp các chỉ số tài chính, ít nhất, mỗi một chỉ số này có thể được lựa chọn từ mỗi một
nhóm chỉ số tài chính trong điều kiện cụ thể. Bằng cách này, chúng ta có thể xác định
một số lượng nhỏ hơn các chỉ số tài chính được sử dụng cho phân tích tài chính.
1.2.3 Mô hình phân tích nhân tố:
Về mặt tính toán, phân tích nhân tố hơi giống với phân tích hồi qui bội ở chỗ mỗi
biến được biểu diễn như là một kết hợp tuyến tính của các nhân tố cơ bản. Lượng biến
1.2.4 Kỹ thuật phân tích nhân tố:
Xác định vấn đề:
Xác định vấn đề nghiên cứu gồm có nhiều bước. Đầu tiên là ta phải nhận diện các
mục tiêu của phân tích nhân tố cụ thể là gì. Các biến tham gia vào phân tích nhân tố
phải được xác định dựa vào các nghiên cứu trong quá khứ, phân tích lý thuyết, và đánh
giá của các nhà nghiên cứu. Một vấn đề quan trọng là các biến này phải được đo lường
một cách thích hợp bằng thang đo định lượng (khoảng cách hay tỷ lệ), và cỡ mẫu phải
đủ lớn. Thông thường thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần biến trong
phân tích nhân tố.
Xây dựng ma trận tương quan:
Quá trình phân tích được dựa trên ma trận tương quan của các biến này. Để có thể
áp dụng được phân tích nhân tố thì các biến phải có liên hệ với nhau. Trong thực tế thì
thường chúng ta luôn có điều này. Nếu hệ số tương quan giữa các biến nhỏ, phân tích
nhân tố có thể không thích hợp. Chúng ta trông chờ rằng các biến này có tương quan
chặt chẽ với nhau và như vậy sẽ tương quan chặt chẽ với cùng một hay nhiều nhân tố.
Để kiểm định sự phù hợp của mô hình, có thể sử dụng Bartlett’s test of sphericity
để kiểm định giả thuyết không (H 0) là các biến không có tương quan với nhau trong
tổng thể, nói cách khác ma trận tương quan tổng thể là ma trận đơn vị trong đó tất cả
các giá trị trên đường chéo đều bằng 1 còn các giá trị nằm ngoài đường chéo đều bằng
1. Đại lượng này càng lớn thì ta càng có nhiều khả năng bác bỏ giả thuyết không này.
Nếu giả thuyết H0 không thể bị bác bỏ thì phân tích nhân tố rất có khả năng không thích
hợp.
những ma trận như vậy hay phức tạp hơn, việc giải thích các kết quả khá khó khăn. Vì
vậy, thông qua việc xoay nhân tố, ma trận nhân tố sẽ trở nên đơn giản hơn và dể giải
thích hơn.
12
Đặt tên và giải thích các nhân tố:
Việc giải thích các nhân tố được thực hiện trên cơ sở nhận ra các biến có hệ số
(factor loading) lớn ở cùng một nhân tố. Như vậy nhân tố này có thể được giải thích
bằng các biến có hệ số lớn đối với bản thân nó.
Nhân số:
Sau khi giải thích các nhân tố, nếu cần thì chúng ta có thể tính toán ra các nhân số.
Bản thân phân tích nhân tố là một phương pháp độc lập trong phân tích có thể sử dụng
một mình, tuy nhiên nếu mục tiêu của phân tích nhân tố là biến đổi một tập hợp biến
gốc thành một tập hợp các biến tổng hợp (nhân tố) có số lượng ít hơn để sử dụng trong
các phân tích đa biến tiếp theo, thì chúng ta có thể tính toán ra các nhân số (trị số của
các biến tổng hợp) cho từng trường hợp quan sát một.
13
CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ VIỆC ỨNG DỤNG
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
2.1.1
Bài
nghiên
cứu
của
Anupam
De,
Gautam
Bandyopadhay,
B.N.Chakraborty thuộc Viện nghiên cứu kỹ thuật Ấn Độ (2011): “Áp dụng
mô hình phân tích nhân tố dựa trên các chỉ số tài chính và kiểm định kết quả
dựa vào Kỹ thuật phân tích nhóm: Kết quả thực nghiệm ở ngành công
nghiệp Xi măng Ấn Độ”
Tóm tắt:
Tác giả nghiên cứu ứng dụng phân tích nhân tố trong việc đánh
giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các chỉ số tài
chính.
15
chính so với các chỉ số tài chính ban đầu nhưng cũng có thể cung cấp
một lượng thông tin mong muốn lớn hơn các chỉ số tài chính ban đầu.
Bảng 2.1: Số lượng nhân tố trong nghiên cứu của Anupam De,
Gautam Bandyopadhay, B.N.Chakraborty
N
2.1.2 Bài nghiên cứu của Liqin Chen, Li Liu, Xin Liao (2012) Trung Quốc: “
Ứng dụng Phân tích nhân tố trong Đánh giá kết quả hoạt động của DN niêm
yết trong ngành công nghiệp dầu khí Trung Quốc”
Tóm tắt:
Kế thừa các nghiên cứu về phân tích nhân tố trước đó trên thế
giới, nhóm tác giả tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động của các DN
niêm yết hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp dầu khí của Trung
Quốc thông qua việc ứng dụng mô hình phân tích nhân tố.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn 13 công ty niêm yết
trong ngành công nghiệp dầu khí, và tiến hành một phân tích thực
nghiệm của các chỉ số tài chính của các công ty đó trong năm 2009
dựa theo