Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác Việt Nam Hàn Quốc. - Pdf 68

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC TỪ THỰC TIỄN HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THU HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC TỪ THỰC TIỄN HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI NHẬT QUANG


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào.

GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC............................................................59
3.1. Định hướng hợp tác quốc tế về giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn

Quốc................................................................................................................ 59
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục

đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc...............................................................67
KẾT LUẬN.................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
CTĐT
GDĐH
HNQT

Chương trình đào tạo
Giáo dục đại học
Hội nhập quốc tế


DANH MỤC BẢNG, BIỂU
BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả khảo sát về thực trạng xây dựng và ban hành các văn
bản liên quan đến chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa
Việt Nam và Hàn Quốc (ĐVT: %)........................................................... 92
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát về hoạt động phân công, tổ chức..................94
thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học...................94
giữa Việt Nam và Hàn Quốc.....................................................................94

này. Hiện có hơn 480 CTĐT liên kết với những CSGDĐH nước ngoài đã và
đang thực hiện tại các CSGDĐH ở Việt Nam. Những chương đào tạo liên kết
này đã tạo điều kiện cho các CSGDĐH trong nước tiếp cận công nghệ giáo
dục tiên tiến ở các nước trên thế giới [7, tr.115]. Thông qua quá trình hợp tác,
các trường có thể học hỏi để xây dựng chương trình giảng dạy đạt chuẩn quốc
tế; đồng thời tạo ra nhiều cơ hội học tập cho người học. Để triển khai hiệu quả
chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục thông qua các hiệp định , thỏa thuận
với nước ngoài về hợp tác giáo dục , công nhận văn bằng, tín chỉ với các nước
trong khu vực và một số quốc gia trên thế giới; thí điểm một số mô hình giáo
dục của một số nước có nền giáo dục tiên tiến; liên kết đào tạo với nước
ngoài, Chính phủ đã đề xuất và được Quốc hội thông qua việc bổ sung dịch
vụ tư vấn du học vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Ban
hành Nghị định 86/2018/NĐ-CP ngày 06/6/2018 quy định về hợp tác, đầu tư
của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục thay thế Nghị định số 73/2012/NĐ-CP
ngày 26/9/2012 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài
trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định 124/2014/NĐ-CP ngày 29/12/2014 của
Chính phủ sửa đổi khoản 6 Điều 31 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP [11].

7


Một số địa phương và CSGDĐH đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác giữa
trường đại học, cao đẳng với các trường đại học, cao đẳng của Nhật Bản, Hàn
Quốc và một số nước trong khu vực ASEAN, tăng cường trao đổi giảng viên,
chuyên gia, sinh viên quốc tế; phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài trong
việc đào tạo nghề cho học sinh Việt Nam (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Bắc Ninh…, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đaaij học Quốc gia TP. Hồ
Chí Minh, Trường Đại 7học Ngoại Thương, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học
Thái Nguyên…) [7].
Nhiều chương trình giáo dục, đào tạo giảng dạy trong các cơ sở giáo
dục công lập và ngoài công lập trong nước đã được cơ sở giáo dục, đào tạo

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và HNQT, giáo dục đã được quan
tâm đúng mức. Nhiều chính sách phát triển giáo dục đã được ban hành. Trong
bối cảnh quốc tế thay đổi và HNQT ngày càng sâu rộng, trong chính sách phát
triển giáo dục, chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo, đặc
biệt hơn là hợp tác quốc tế về GDĐH đã được đề cập đến với ý nghĩa hết sức
quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận với các nước tiên
tiến trên thế giới. thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH đã và đang
đạt được những thành tựu tốt đẹp. về lĩnh vực này đã có những công trình
nghiêm cứu dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện bằng các đề tài khoa
học; bài báo; bài đăng trên tạp chí…có thể khái quát một số công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài:
Tác giả Trần Văn Nhung, “chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục
và đào tạo ở Việt Nam trong thế kỷ 20”, Sách chuyên khảo của Bộ giáo dục


và đào tạo (2005). Trong cuốn sách trên, tác giả đã điểm lại quá trình hợp tác
quốc tế trong giáo dục ở Việt Nam trong khoảng thời gian 50 năm; đề cập
những quan điểm và nội dung cơ bản của chính sách hợp tác quốc tế về giáo
dục của Việt Nam; tình hình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo
dục và đào tạo trong những năm đã qua. Tác giả đánh giá những thành tựu
trong sự hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo; đồng thời rút ra bài học kinh
nghiệm cho giai đoạn tiếp theo. Trong cuốn sách đó, tác giả cũng đã nêu
những định hướng trong hoạch định chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục
trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay.
Tác giả Nguyễn Chí Cường trong bài báo: “Những thành tựu trong hợp
tác quốc tế về giáo dục sau đổi mới và những vấn đề đặt ra trong chính sách
hợp tác quốc tế về giáo dục trong bối cảnh HNQT hiện nay”,Tạp chí giáo dục
(2015) đã đề cập những kết quả trong việc thực hiện chính sách hợp tác trong
giáo dục với nước ngoài trong những năm gần đây. Tác giả cũng nêu rõ những

trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp
tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc.
3.2. Nhiệm vụ nghiêm cứu

- Xác lập cơ sở lý luận thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế
về GDĐH với Hàn Quốc;
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác
quốc tế về GDĐH với Hàn Quốc trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


4.1. Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc dưới góc độ khoa học về Chính sách
công và chủ thể thực hiện chính sách là cơ quan quản lý nhà nước trong hợp
tác quốc tế về GDĐH là Cục hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Về không gian: nghiên cứu về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế
về GDĐH với Hàn Quốc
Về thời gian: Đề tài phân tích các dữ liệu từ năm 2014 đến năm 2018
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về

các tổ chức về chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH từ đó đưa ra những quan
điểm của riêng tác giả.
Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp hành các chuỗi số liệu
phản ánh thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt
Nam - Hàn Quốc, các dữ liệu này phục vụ cho việc phân tích, đánh giá kết quả
thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
Phương pháp phân tích và đánh giá chính sách: trong nghiên cứu của
luận văn được sử dụng để phân tích và đánh giá việc thực hiện chính sách hợp


tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Đây là một trong những
phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu khoa học nói chung và về chuyên
ngành chính sách công nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn sẽ làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về
chính sách và thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo
ở nước ta trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài
liệu nghiên cứu, tham khải và vận dụng các lý luận chính sách công, thực hiện
chính sách công trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về giáo dục cho các cơ quan
hoạch định chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục và các nhà quản lý ở
các cơ sở đào tạo tham khảo.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
giáp dục đại học
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáp


Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là
chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn.
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra
trong đời sống KT - XH theo những mục tiêu xác định.
Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.
chính sách hợp tác quốc tế về giáo dụcđại học trong luận văn này thuộc
phạm vi chính sách công được hiểu với các đặc trưng cơ bản trên.
1.1.1.2. Giáo dục đại học

Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong
lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của
chúng ta [53] chính là nhờ có một hạ tầng GDĐH đẳng cấp quốc tế. GDĐH
còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các
kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về GDĐH,
nhưng trong nghiên cứu của luận văn có thể hiểu GDĐH là hình thức tổ chức
giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào
tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến
sĩ.
Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại
học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội.
Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của
môi trường kinh tế - xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân
loại.
Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng
nhiều yếu tố bất cập, chất lượng GDĐH còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng


“giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”,

thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động của nhà trường.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động
hợp tác quốc tế về GDĐH với vai trò là một bộ phận của hợp tác quốc tế về
giáo dụcvà hoạt động này sẽ do cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH quản lý
(Đề tài không tập trung nghiên cứu các trường hợp cụ thể về hợp tác quốc tế
về đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, học viện cụ
thể.Hoạt động hợp tác này còn diễn ra trong các trường đại học với nhau như
là hoạt động chủ thể thuộc một trường đại học hợp tác với chủ thể thuộc quốc
gia khác nhằm mục đích đáp ứng nguyện vọng của nhau).
1.1.1.4. Chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học

Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn trong hệ thống kinh tế - xã hội của
phần lớn các nước trên thế giới. Số lượng người học, người dạy rất đông (ở
nước ta số người học ở mọi loại hình giáo dục chiếm hơn ¼ dân số). Nếu tính
những người liên quan đến giáo dục như gia đình, cộng đồng thì giáo dục
thực sự liên quan đến mọi người trong xã hội. Các chính sách giáo dục tác
động lớnđến toàn bộ xã hội. Vì vậy những quyết định về chính sách giáo dục
phải được chuẩn bị cẩn thận, dựa trên việc nắm vững những đặc điểm của
chính sách trong giáo dục.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia
ký kết các hiệp định của WTO và GATS đồng nghĩa với việc chấp nhận một
thị trường giáo dục mở cho đầu tư nước ngoài là một bước thay đổi quan
trọng về nhận thức và tư duy của các nhà làm chính sách trong việc từng bước
chấp nhận những khuôn khổ quản lý mới cho khu vực dịch vụ công nói


chungvà cho GDĐH nói riêng. Trong bối cảnh đó các quốc gia đang phải đối
mặt với vấn đề là tiếp tục duy trì chính sách quản lý theo kiểu truyền thống
hay là áp dụng chính sách quản lý mới (kiểu doanh nghiệp), tức là có sự thay
đổi về bản chất - chuyển từ cơ chế hành chính sang cơ chế doanh nghiệp để thị

học mang lại cơ hội to lớn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nguồn tri thức
quốc tế khổng lồ. Đối với các trường đại học, hoạt động hợp tác quốc tế thúc
đẩy các tổ chức này cải tiến cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo để
có thể thu hút được các đối tác cũng như tìm được vị thế trên thị trường quốc
tế. Ngoài ra, khi hợp tác với nhau hệ thống GDĐH các nước còn có cơ hội
giao lưu, học tập kinh nghiệm quản lý và trao đổi kiến thức chuyên môn trong
giảng dạy đại học. Nhờ quá trình này, các bên đều có cơ hội nâng cao năng
lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên. Một lợi ích
thiết thực khác đó là hợp tác về GDĐH cũng góp phần không nhỏ trong việc
tăng cường mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau.
Ngoài ra, hợp tác quốc tế còn đóng vai trò tích cực trong việc xây
dựng định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai
ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Như vậy, có thể khẳng định hợp tác quốc tế về GDĐH là hoạt động tất
yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của GDĐH hiện đại. Nắm bắt và tận
dụng hiệu quả hoạt động này, các trường đại học có thể có cơ hội tốt để cọ
xát, học hỏi, cạnh tranh và có động lực ngày càng phát triển theo hướng tiến
bộ hơn.


Trên cơ sở các khái niệm về chính sách công, GDĐH và hợp tác quốc
tế, trong phạm vi của luận văn đưa ra khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH “là tổng thể những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Nhà
nước với mục tiêu các giải pháp, công cụ cụ thể về hoạt động hợp tác quốc tế
về GDĐH nhằm thúc đẩy hệ thống GDĐH phát triển tiệm cận với hệ thống
GDĐH trong khu vực và thế giới; đồng thời nâng cao chất lượng toàn diện hệ
thống GDĐH trong nước theo mục tiêu và định hướng phát triển của đất
nước”.
Nội dung chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH

thể thực hiện chính sách chính là Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, các
cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương sẽ lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các
cấp thực hiện chính sách và chính quyền các cấp sẽ triển khai thực hiện chính
sách trong từng giai đoạn cụ thể với các đối tượng cụ thể.
Đối với chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH, Nhà nước trao quyền
quản lý cho Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý,
triển khai các nội dung liên quan đến chính sách. Các chủ thể này có vai trò
quan trọng trong việc định hướng, triển khai chính sách, giúp chính sách được
đưa vào thực hiện hợp tác quốc tế về GDĐH.
1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
1.1.2.1. Thực hiện chính sách công

Thực hiện chính sách là quá trình thực thi các chương trình hoặc các
chính sách; nó biểu thị việc chuyển các kế hoạch thành thực tế. Thực hiện đơn
giản có nghĩa là thực thi hoặc tiến hành. Tuy nhiên, thực hiện ở đây được xem
xét với tư cách là giai đoạn thứ tư của chu trình chính sách công năm giai
đoạn. Thực hiện có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo
James Aderson: “Thực hiện là triển khai một quyết định chính sách cơ sở,


thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thê hiện
dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các
quyết định của toà án. Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được
giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định
hình quá trình thực hiện. Thông thường, quá trình này trải qua nhiều giai
đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định
của các cơ quan thực hiện chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với
các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định - của
các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định, và cuối
cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản” [55, tr.18].


Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là toàn bộ quá trình
chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực. Tổ chức thực hiện
chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là một khâu hợp thành chính sách hợp
tác quốc tế về GDĐH, so với các khâu khác trong chu trình chính sách hợp
tác quốc tế về GDĐH, thực hiệnchính sách hợp tác quốc tế về GDĐH có vị trí
đặc biệt quan trọng là bước hiện thực hóa đưa chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH vào thực tiễn cuộc sống.
Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH là tất yếu, khách quan
để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà
nước và cũng là để đạt được mục tiêu của chính sách.
Trong phạm vi luận văn, thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH là quá trình đưa chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH vào thực tiễn
hợp tác song phương, đa phương về GDĐH thông qua việc ban hành các văn
bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH và
tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu của chính sách hợp tác


quốc tế về GDĐH.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về

giáo dục đại học
Kế hoạch thực hiện chính sách là một công cụ quan trọng để giúp các
cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách vào thực tiễn một cách chủ
động. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về
GDĐH gồm các nội dung: phải có kế hoạch tổ chức điều hành; có kế hoạch
cung cấp các nguồn vật lực cho thực hiện chính sách; có kế hoạch kiểm tra,
đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức,
điều hành thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH.Khi các kế hoạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status