THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM GẠCH ỐP LÁT GRANITE TẠI CÔNG TY THẠCH BÀN - Pdf 68

THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ
SẢN PHẨM GẠCH ỐP LÁT GRANITE TẠI CÔNG TY THẠCH BÀN
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY THẠCH BÀN
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Thạch Bàn là một doanh nghiệp một doanh nghiệp Nhà nước hoạt
động kinh doanh trong ngành vật liệu xây dựng, có lịch sử hình thành và phát triển
hơn 40 năm,. Hiện nay, công ty là đơn vị trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và
Gốm xây dựng thuộc Bộ xây dựng. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
đã trải 4 giai đoạn phát triển khác nhau gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của
nước ta trong các thời kỳ:
- Giai đoạn 1 (từ 1959 đến 1964): Những ngày đầu thành lập công ty
Ngày 15 tháng 2 năm 1959, Uỷ ban hành chính thành phố Hà Nội đã ra
quyết định thành lập "Công trường gạch Thạch Bàn" thuộc công ty sản xuất vật
liệu kiến trúc Hà Nội. Ngày 6 tháng 12 năm 1962, với quyết định số 1893/BKT của
Bộ trưởng Bộ Kiến trúc, Xí nghiệp gạch ngói Thạch Bàn đã chính thức ra đời. Thời
kỳ sơ khởi này, các khâu sản xuất trên công trường hoàn toàn là lao động thủ công.
Đến năm 1964, quy trình sản xuất của Xí nghiệp gạch ngói Thạch Bàn đã mang
tính công nghiệp với hệ thống máy móc được lắp đặt, công việc đóng gạch thủ
công từ đây chấm dứt.
- Giai đoạn 2(từ 1964 đến1984): Trưởng thành qua thời kỳ chống Mỹ
Ngày 5 tháng 6 năm 1969, Bộ trưởng Bộ Kiến trúc ra quyết định số
498/BKT tách Xí nghiệp gạch ngói Thạch Bàn ra khỏi Công ty Kiến trúc khu Bắc
Hà Nội thành xí nghiệp trực thuộc bộ. Từ năm 1971 đến năm 1978, đơn vị liên tục
hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao. Những năm 1981-1984,
phong trào sản xuất của Xí nghiệp gạch ngói Thạch Bàn tuy gặp nhiều khó khăn
như xí nghiệp vẫn từng bước phấn đấu vượt qua thử thách, giữ vững sản xuất.
- Giai đoạn 3(từ 1985 đến 1990): Vững vàng trước thử thách của nền kinh
tế thị trường
Từ năm 1987, bộ máy của xí nghiệp đã hoạt động với hiệu quả cao sau một
thời kỳ chững lại. Cũng năm này, xí nghiệp đã thanh toán món nợ có giá trị bằng
một năm doanh thu của những năm 1981-1985 để lại.

VLXD
- Tư vấn, thiết kế các công trình xây dựng và công nghiệp
- Xây lắp, chuyển giao công nghệ
Tuy nhiên, sản phẩm chính của công ty là gạch ốp lát granite. Sản phẩm này
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá trị tổng sản lượng toàn công ty.
b. Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tại Công ty Thạch
Bàn
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, công ty tổ chức
bộ máy quản lý gọn nhẹ theo chế độ một thủ trưởng. Giám đốc công ty là người
đứng đầu, có quyền hành cao nhất, chịu mọi trách nhiệm trước Tổng giám đốc
Tổng công ty và trước pháp luật về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. Giúp
giám đốc trong công tác quản lý gồm 3 phó giám đốc, một trợ lý giám đốc và 6
phòng ban chức năng. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được minh hoạ qua sơ
đồ sau: (Sơ đồ 6 trang bên)
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng
kỹ thuật
Văn phòng công ty
Phòng kế hoạch đầu tư
Ban KCS
Phòng vật tư vận tải
Phòng Tài chính kế toán
Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ
Nhà máy gạch ốp lát Granite
Xí nghiệp
kinh doanh
Phân xưởng
cơ điện
Xí nghiệp

ĐVT: nghìn đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
So sánh (%)
2001/200
0
2002/2001
1 Doanh thu thuần 127,399.00 195,575.65 191,459.80 154% 97%
2 Lợi nhuận trước thuế 7,031.00 2,250.00 1,686.00 32% 75%
3. Tổng cộng nguồn
vốn
128,036.00 212,855.60 247,068.80 166% 116%
4. Số nộp NS 9,556.00 4,963.60 2,730.00 52% 55%
5. Tổng số lao động 400 530 562 133% 106%
6. Thu nhập BQ 1 lao
động.
1.53 1.30 1.12 85% 86%
4. Xu hướng phát triển của công ty trong những năm tới.
Do đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường, Công ty Thạch Bàn luôn
không ngừng đổi mới, cải tiến về mọi mặt. Cùng với xu thế đổi mới nói chung của
các doanh nghiệp trong cả nước, Công ty Thạch Bàn có mục tiêu phát triển rõ ràng
đến năm 2005.
Trong những năm tới, công ty tiếp tục thực hiện dạng hoá sản phẩm và
ngành nghề hoạt động, đa dạng hóa sở hữu tài sản, sớm tham gia thị trường chứng
khoán. Để thực hiện việc đa dạng hoá tài sản, trong tương lai Công ty Thạch Bàn
sẽ thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp. Đây cũng là biện pháp chủ yếu mà các
doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang tiến hành. Bên cạnh đó, công ty dự định áp
dụng các biện pháp song song như cho thuê kinh doanh, chuyển nhượng một phần
sở hữu doanh nghiệp hoặc tái đầu tư vốn tự có của doanh nghiệp dưới hình thức
phân phối cổ phần cho cán bộ công nhân viên. Tạo điều kiện tối đa cho người lao
động làm chủ tài sản của doanh nghiệp và tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất

kế toán khác nhau. Công việc cụ thể của các kế toán viên trong phòng như sau:
* Kế toán trưởng: có nhiệm vụ giúp giám đốc trong lĩnh vực quản lý kinh tế
toàn công ty và tổ chức công tác kế toán trong công ty.
* Phó phòng kế toán kiêm kế toán tổng hợp: chịu trách nhiệm sau kế toán
trưởng, ký và giải quyết các công việc khi kế toán trưởng đi vắng. Đồng thời, kế
toán có nhiệm vụ tính giá thành sản phẩm, phân tích giá thành hàng quý và làm các
báo cáo tài chính theo định kỳ
* Kế toán thanh toán và ngân hàng: có nhiệm vụ theo dõi công nợ cá nhân
trong nội bộ đầy đủ, kịp thời; viết phiếu thu, phiếu chi và thanh toán tạm ứng nội
bộ; giao dịch với ngân hàng về vay và trả nợ; theo dõi quỹ tiền mặt và kiểm quỹ
thường xuyên; làm báo cáo thu, chi tiền hàng tuần; chịu trách nhiệm số dư công nợ
TK 111, TK112, TK 141,TK 331....
* Kế toán bán hàng: công việc của kế toán bán hàng gồm có theo dõi nhập,
xuất, tồn kho thành phẩm của công ty; viết phiếu nhập kho thành phẩm; kiểm tra
đối chiếu kho hàng, đối chiếu công nợ với các chi nhánh; kiểm tra chi phí của các
chi nhánh; theo dõi ký quỹ đối với các đại lý và tổng đại lý kịp thời, đầy đủ; chịu
trách nhiệm số dư TK 131.
* Kế toán vật tư: kế toán này phải đảm trách các công việc liên quan đến vật
tư. Các công việc đó bao gồm: theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư đầy đủ
kịp thời; viết phiếu nhập, phiếu xuất vật tư; hàng tháng đối chiếu nhập, xuất, tồn
kho vật tư với thủ kho; định kỳ kiêm kê, tính chênh lệch thừa thiếu do kiểm kê để
có biện pháp xử lý kịp thời.
* Kế toán tiền lương, tài sản cố định (TSCĐ) và bảo hiểm xã hội(BHXH):
bộ phận kế toán này phải làm các công việc như: làm lương bộ phận gián tiếp,
lương phục vụ và tổng hợp lương toàn công ty; theo dõi quản lý tăng giảm TSCĐ
và tính khấu hao TSCĐ theo định kỳ; tính BHXH cho cán bộ công nhân viên; làm
báo cáo thống kê theo yêu cầu của phòng, công ty và cấp trên.
Tổ chức bộ máy kế toán của công ty được khái quát qua sơ đồ sau: (Sơ đồ 7
trang bên)
KẾ TOÁN TRƯỞNG

- Nguyên tắc, phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác: theo tỉ giá hạch
toán cố định trong cả niên độ, chênh lệch tỷ giá đưa vào lãi lỗ trong kỳ báo cáo.
- Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: hàng tồn kho được tính theo giá thành
thực tế. Giá của vật tư xuất kho được tính theo giá bình quân tại thời điểm xuất, giá
của thành phẩm xuất kho được tính theo giá bình quân gia quyền- giá bình quân
cuối quý.
- Phương pháp khấu hao: được tính theo phương pháp khấu hao đường thẳng.
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường xuyên.
- Phương pháp hạch toán thuế giá trị gia tăng: doanh nghiệp sử dụng phương
pháp khấu trừ, thuế suất là 10% trên giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng đối với
những sản phẩm tiêu thụ nội địa. Đối với những sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài
thì chịu mức thuế suất của thuế xuất khẩu là 0%.
- Hiện nay, hệ thống tài khoản mà công ty đang áp dụng là hệ thống tài
khoản do Bộ Tài Chính ban hành theo Quyết định số 1141 TC/ QĐ/ CĐKT ngày
01/11/1995 và các thông tư hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh
nghiệp của Bộ Tài Chính.
III. HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU
THỤ SẢN PHẨM GẠCH ỐP LÁT GRANITE TRONG CÔNG TY
THẠCH BÀN
1. Những vấn đề chung về tiêu thụ sản phẩm tại công ty Thạch Bàn
a. Sản phẩm gạch ốp lát granite
Sản phẩm gạch ốp lát granite là loại sản phẩm gốm được sản xuất theo công
nghệ hiện đại nhất, được áp dụng phổ biến cách đây không lâu ở các nước phát
triển có công nghệ sản xuất gốm sứ tiên tiến như Italy, Đức, Tây Ban Nha. Hiện tại
Italy đang là nước dẫn đầu trong công nghệ sản xuất loại vật liệu này. Hiện nay,
sản phẩm của công ty gồm các loại: granite bóng, granite men, granite nhám,
granite men sần, Roll Feed, Spot Feeder và sản phẩm granite công nghệ in lưới.
Mỗi loại sản phẩm có nhiều kích cỡ khác nhau như: 600x900, 500x500, 400x400,
300x300. Không những vậy, đối với từng kích cỡ lại có sự đa dạng về màu sắc và
chất lượng. Sản phẩm của công ty có khoảng 50 màu, nếu thống kê tất cả các loại

Tính đến năm 2002, công ty có 1.009 tổng đại lý , đại lý và cửa hàng gửi
mẫu trên toàn quốc. Hệ thống phân phối sản phẩm của công ty gồm có các cửa
hàng gửi mẫu, đại lý gửi mẫu, đại lý ký quỹ và tổng đại lý. Các chi nhánh có nhiệm
vụ tiếp nhận thành phẩm từ kho công ty chuyển đến dưới hình thức điều chuyển
nội bộ và thực hiện việc bán hàng cho các đại lý, tổng đại lý. Ngoài ra, việc bán
hàng còn được thực hiện trực tiếp tại kho của công ty và tại các cửa hàng của công
ty. Các chi nhánh cũng có sự điều chuyển hàng cho nhau trong trường hợp cần thiết
và quá trình đó cũng được coi là điều chuyển nội bộ.
Kể từ năm 1997 đến năm 2000, sản phẩm của công ty vẫn hầu như độc
chiếm trên thị trường Việt Nam. Vì vậy, số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng nhanh
chóng qua các năm. Trong những năm này, lợi nhuận của công ty thu được là rất
cao. Tuy nhiên, từ năm 2001 trở lại đây, do vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các
công ty sản xuất gạch ốp lát trong nước và nước ngoài, tình hình tiêu thụ sản phẩm
của công ty có phần chững lại so với các năm trước đó. Công ty đã phải nhiều lần
thực hiện giảm giá sản phẩm tiêu thụ để cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường.
Hiện nay, các đối thủ trong nước mà công ty phải đối mặt là: White house, Taicera,
Đồng Tâm,... Các công ty này cũng đưa ra thị trường những sản phẩm có chất
lượng tương đương nên cuộc chạy đua giá cả là vũ khí chủ yếu của các công ty.
Chính vì vậy, tỷ lệ tăng doanh thu và lãi của công ty giảm dần qua các năm:
Biểu số 2
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG
TY THẠCH BÀN GIAI ĐOẠN 2000 - 2002
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Tăng so với năm
trước
(%)
2001/ 20002002/ 2001
Sản lượng tiêu
thụ (m
2

bán cho các đại lý hay không phụ thuộc vào mức dư nợ của các đại lý. Mức dư nợ
(tỷ lệ dư nợ) là tỷ lệ giữa công nợ và số tiền ký quỹ của đại lý với công ty. Nếu các
đại lý có mức dư nợ >2.0 mà không giải trình được với công ty nguyên nhân thì
công ty sẽ ngừng cấp hàng cho các đại lý đến khi mức dư nợ về đúng quy định.
* Thủ tục xuất hàng:
Hàng hoá tại kho công ty không đem tiêu thụ trực tiếp mà được chuyển cho
các kênh phân phối của công ty để thực hiện thủ tục bán hàng. Khi xuất hàng ra
khỏi kho công ty để chuyển cho các chi nhánh, bộ phận kho phải dựa vào lệnh điều
động của giám đốc để lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ. Hàng ra khỏi
kho đến các chi nhánh vẫn thuộc sở hữu của công ty. Khi các đại lý đến mua hàng,
bộ phận bán hàng lập hoá đơn GTGT và xuất hàng cho đại lý. Lúc này, hàng ra
khỏi kho của chi nhánh sẽ được coi là tiêu thụ. Ngoài ra, giữa các chi nhánh
còn xuất hàng điều chuyển cho nhau khi có lệnh điều động của giám đốc.
* Thủ tục thanh toán:
Đối với các khách hàng hợp đồng, dựa vào thoả thuận đã được chấp nhận
trong hợp đồng để khách hàng thanh toán tiền hàng với công ty.
Đối với các khách đại lý, sau 3-5 ngày kể từ ngày giao hàng các đại lý phải
nộp tiền cho phòng tiêu thụ phía Bắc hoặc các chi nhánh mà đại lý mua hàng. Việc
đối chiếu công nợ, quyết toán công nợ, ký biên bản xác nhận tiền hàng giữa phòng
tiêu thụ phía Bắc với các đại lý được thực hiện một kỳ một lần trước ngày 5 kỳ sau.
Công ty chấp nhận các hình thức thanh toán đối với khách hàng rất đa dạng như:
thanh toán bằng tiền mặt, séc, ngân phiếu; thanh toán bằng chuyển khoản; thanh
toán bù trừ; trả trước tiền hàng. Trong đó, hình thức thanh toán chủ yếu là chuyển
khoản.
* Các quy chế thưởng bán hàng của công ty:
Thưởng luỹ tiến bán hàng (áp dụng cho hệ thống tổng đại lý, đại lý ký quỹ):
Đây :là hình thức thưởng dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu thụ. Nếu đại lý có
mức doanh thu và sản lượng tiêu thụ trong tháng vượt mức quy định, đồng thời
mức dư nợ (tỷ lệ dư nợ) tháng đó <= 1.5 thì sẽ được thưởng 1% doanh thu bán
hàng tháng đó. Nếu 3 tháng liên tục đại lý không đạt mức sản lượng theo quy định,

kiểm tra. Xí nghiệp kinh doanh được phép chi cho khách hàng trong phạm vi mức
hoa hồng được khoán bao gồm: Chiết khấu bán buôn khi viết hoá đơn bán hàng,
các khoản thưởng cho đại lý, khách hàng, tư vấn, môi giới...
2. Phương pháp xác định giá vốn của sản phẩm tiêu thụ
Trong Công ty Thạch Bàn, giá thành của sản phẩm nhập kho và giá vốn của
sản phẩm xuất kho được tính theo giá thành thực tế. Đối với sản phẩm nhập kho,
đơn giá nhập là giá thành sản xuất của từng loại sản phẩm. Giá thành sản xuất thực
tế của thành phẩm nhập kho được xác định dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp
tính giá thành theo định mức kết hợp với phương pháp hệ số. Đối với thành phẩm
xuất kho, giá vốn của hàng xuất bán là giá bình quân gia quyền, cụ thể là giá bình
quân cuối quý. Thời gian tính giá của thành phẩm xuất kho trong quý phụ thuộc
vào thời gian tính giá của thành phẩm nhập kho ở quý đó. Do đặc điểm của tình
hình tổ chức sản xuất và quản lý, giá nhập kho của thành phẩm được xác định vào
cuối mỗi quý. Vì vậy, đến tháng đầu của quý sau giá vốn của thành phẩm xuất kho
mới xác định được. Giá thành của thành phẩm xuất kho được tính riêng cho từng
loại sản phẩm và được thực hiện tự động trên máy. Cuối quý, kế toán giá thành tính
giá của sản phẩm nhập kho trong quý, máy sẽ tự động nhập số liệu vào các phiếu
nhập.
Căn cứ vào số lượng và giá trị của thành phẩm tồn kho cuối kỳ trước, số
lượng và giá trị của thành phẩm nhập kho trong kỳ, giá vốn từng loại sản phẩm tiêu
thụ được tính theo công thức sau:
Đơn giá
thực tế
bình quân
=
Trị giá thực tế
của TP tồnkho
đầu kỳ
+
Trị giá thựctế của

Tên vật tư
Đ
VT
Tồn đầu
kỳ
Nhập trong
kỳ
Xuất trong
kỳ
Tồn cuối kỳ
S
L
Giá
trị
S
L
Giá trị
S
L
Giá trị SL Giá trị
M Granite:
Men
m
2
... ... ... ... .. .. ... ..
... ......
....
....
.
..... .... ... ... ... .. ...

a. Chứng từ và trình tự luân chuyển chứng từ
* Các chứng từ gốc:
+) Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Biểu số 10 trang 48 ): do phòng
kinh tế kế hoạch thuộc xí nghiệp kinh doanh lập. Phiếu này được lập theo ấn chỉ
kèm lệnh uỷ quyền của giám đốc và được lập trong trường hợp doanh nghiệp xuất
hàng chuyển cho các chi nhánh của công ty. Trên phiếu chỉ phản ánh về mặt số
lượng của thành phẩm xuất kho. Trị giá của thành phẩm xuất kho được tính vào
cuối quý. Khi xuất hàng chuyển cho chi nhánh, nhân viên phòng kinh tế kế hoạch
thuộc xí nghiệp kinh doanh sẽ lập Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ dựa trên
lệnh điều động của Giám đốc XNKD. Phiếu này được lập thành 3 liên.
+ Liên 1: Lưu tại phòng kinh tế kế hoạch.
+ Liên 2, 3: Người vận chuyển cầm 2 liên này đem tới kho công ty,
thủ kho sau khi kiểm tra tính pháp lý của phiếu sẽ căn cứ vào số lượng (cột thực
xuất) của từng thứ thành phẩm yêu cầu để tiến hành xuất kho. Sau khi hai bên ký
nhận vào phiếu, thủ kho giữ lại liên 3 dùng để hạch toán nội bộ. Liên 3 được dùng
để vào thẻ kho sau đó được chuyển lên phòng kế toán để vào sổ. Cuối tháng, giữa
kế toán và thủ kho có sự đối chiếu giữa thẻ kho của thủ kho với sổ chi tiết của kế
toán.
+) Phiếu xuất kho: do kế toán lập nhằm phản ánh nghiệp vụ hàng xuất kho
đem quảng cáo, chào hàng... Phiếu xuất kho được lập thành 2 liên: liên 1 sau khi
thủ kho thực hiện xuất hàng kế toán sẽ lưu lại ở phòng tài chính kế toán của công
ty, liên 2 giao cho nơi nhận để làm chứng từ lấy đặt cọc. Phiếu xuất được lập trong
trường hợp công ty đem hàng đi quảng cáo, gửi mẫu... khi giám đốc doanh nghiệp
yêu cầu xuất hàng dựa trên đề nghị của giám đốc XNKD. Thủ tục luân chuyển
chứng từ cũng tương tự phiếu XKKVCNB.
+) Hoá đơn GTGT: do bộ phận bán hàng lập. Hoá đơn này có thể do nhân
viên của chi nhánh lập hoặc do nhân viên của cửa hàng công ty lập. HĐ GTGT
được lập thành 3 liên: liên 1 được lưu tại nơi lập, liên 2 được giao cho khách hàng
để vận chuyển hàng trên đường, liên 3 được lưu tại phòng kế toán của công ty.
Hàng ngày hoặc định kỳ, kế toán tiêu thụ nhập số liệu vào máy theo từng

Phiếu nhập hàng bán bị trả lại được cập nhật vào phân hệ kế toán Bán hàng\ Phiếu
nhập hàng bán bị trả lại. Sau khi nhập xong số liệu, máy sẽ tự động ghi sổ Nhật ký
chung. Cuối tháng, các chi nhánh in ra bảng kê phiếu nhập hàng bán bị trả lại trong
tháng đã được máy tự động lên sẵn. Bảng kê này được chuyển về phòng kế toán
của công ty cùng với liên 2 để làm cơ sở đối chiếu. Tại phòng kế toán, do những
quy định nghiêm ngặt về hàng bán bị trả lại, mặt khác do số lượng nghiệp vụ phát
sinh ít nên kế toán sẽ cập nhật số liệu cho từng phiếu nhập, không vào theo số liệu
tổng hợp như các báo cáo bán hàng. Sau khi xử lý xong, liên 2 được lưu giữ theo
quy định tại phòng kế toán. Trong trường hợp khách hàng chỉ trả lại một phần số
hàng trên hoá đơn đã mua, nếu hàng được trả lại vào trong tháng, nhân viên bộ
phận bán hàng sẽ lập lại hoá đơn GTGT cho số hàng mà khách hàng chấp nhận
mua, nếu hàng bị trả lại vào tháng sau, nhân viên bán hàng không lập lại hoá đơn
GTGT cho phần hàng còn lại mà khách hàng chấp nhận mua.
b. Tài khoản sử dụng
Công ty Thạch Bàn hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên. Vì vậy, công ty sử dụng các tài khoản sau đây để hạch toán tiêu thụ
gạch ốp lát granite:
- TK 511- Doanh thu bán hàng. TK này được mở chi tiết như sau:
TK 5111- Doanh thu bán hàng hoá
TK 5112- Doanh thu bán thành phẩm granite
TK 5113- Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 5114- Doanh thu xây lắp, xây dựng
TK 5115- Doanh thu bán phế phẩm
TK 5116- Doanh thu khác
- TK 531- Hàng bán bị trả lại. Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hàng
bán bị trả lại không bao gồm thuế GTGT
- TK 632- Giá vốn hàng bán: TK này dùng để phản ánh giá vốn thực tế của
thành phẩm bán ra trong kỳ
- TK 155 - Thành phẩm: phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn kho, các loại
thành phẩm của doanh nghiệp.

A1
m2
416.880 45,519,128
M3001D
1
Granite: Men 300x300 màu 01 đặc
biệt
m2 321.750 23,154,071
M30011 Granite: Men 300x300 màu 01 loại
A1
m2 190.170 12,751,137
... ...... ... ... ... ...
Tổng cộng 5,478.700 5,527,648,43
6
NGƯỜI LẬP BIỂU KẾ TOÁN TRƯỞNG
- Sổ chi tiết TK 131 (Biểu số 7 trang bên): Sổ này được lập chung cho tất cả
khách hàng. Đối với công ty, các chi nhánh cũng được coi là khách hàng nên khi số
hàng mà công ty chuyển cho chi nhánh được coi là tiêu thụ thì phòng kinh doanh
của công ty sẽ lập hoá đơn GTGT cho số hàng đó và ghi nợ cho các chi nhánh.
Như vậy, căn cứ để lập sổ này là các Hoá đơn GTGT, phiếu thu tiền mặt, giấy báo
có của ngân hàng... Sổ này cho biết tình hình công nợ và thanh toán của khách
hàng trong tháng.

Trích đoạn Hạch toán quá trình tiêu thụ K/c doanh thu thuần, GVHB Granite bóng 400x400 màu 4 loại A
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status