BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
o0o
ĐẶNG HOÀNG HÀ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ TƯỚI NƯỚC
ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT, BỘ RỄ, SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT
TRIỂN GIỐNG LÚA KHANG DÂN 18 TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 62.62.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
THÁI NGUYÊN 2016
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS Hoàng Văn Phụ
2. PGS. TS Nguyễn Tuấn Anh
Phản biện 1: …………………………………..
Phản biện 2: …………………………………..
Phản biện 3: …………………………………..
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp nhà
nước họp tại …………………………… vào lúc …….giờ …..
ngày …..tháng …..năm ……..
Có thể tìm hiểu luận án tại:
2
trung ở tầng đất 010cm.
Cây lúa lấy chất dinh dưỡng chủ yếu nhờ vào rễ. Vì vậy,
các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nước, pH, vi
sinh vật... có ảnh hưởng lớn đến bộ rễ. Tùy theo mức độ mà ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống rễ lúa và ảnh hưởng
đến sự phát triển và năng suất lúa.
Việc nghiên cứu mối quan hệ ảnh hưởng của nước đến
các yếu tố môi trường đất làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát
triển của bộ rễ lúa và sinh trưởng thân lá, năng suất là vấn đề cần
thiết, làm cơ sở cho đề xuất biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý
nhằm nâng cao năng suất cây lúa.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định ảnh hưởng của chế độ nước tưới khác nhau đến
các chỉ số môi trường đất, sinh trưởng của bộ rễ vàmối quan hệ
giữa môi trường đất với sự phát triển của bộ rễ, khả năng sinh
3
trưởng, năng suấtqua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây
lúa nhằm xây dựng chế độ tưới nước thích hợp góp phần nâng cao
năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất, bảo vệ môi trường.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Tìm hiểu được mối quan hệ giữa sự sinh trưởng phát triển
của rễ lúa dưới tác động của các chế độ nước khác nhau với các
chỉ tiêu lý, hóa, sinh của đất làm cơ sở khoa học cho việc xác định
chế độ nước tưới tiêu hợp lý nhằm tăng năng suất lúa và hiệu quả
sản xuất, bảo vệ môi trường.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
trưởng, năng suất lúa.
CHƯƠNG I
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.2. Đặc điểm hình thái, giải phẫu và sinh lý của bộ rễ lúa
1.2.1.Đặc điểm hình thái rễ
1.2.1.1...................................................................Hình thái rễ lúa
1.2.1.2...............................................Đặc điểm cấu tạo của rễ lúa
1.2.2.Đặc điểm sinh lý của bộ rễ lúa
1.2.2.1.......Một số nghiên cứu về bộ rễ và chức năng hấp thụ nước
1.2.2.2......................Rễ lúa và chức năng hấp thụ chất dinh dưỡng
1.2.2.3...............................................Rễ cây và chức năng neo giữ
1.2.3.Ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến sinh lý rễ lúa
1.2.4.Các đặc điểm hình thái và sinh lý của rễ ảnh hưởng đến sinh
trưởng, phát triển lúa
1.3.Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và
chức năng sinh lý của rễ lúa
1.3.1.Ảnh hưởng của chế độ tưới nước tới đất trồng lúa.
1.3.2.Ảnh hưởng của các chế độ nước tới phát triển rễ
1.3.3. Ảnh hưởng của các chế độ nước tới sinh trưởng, năng suất
lúa
1.3.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của rễ
1.3.4.1......................................................................Yếu tố vật lý
1.3.4.2..................................................................Yếu tố hóa học
1.3.4.3...............................................................Kỹ thuật canh tác
5
1.4.Mối liên hệ của rễ lúa với sinh trưởng và phát triển của
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Sự ảnh hưởng của chế độ nước khác nhau đến môi
trường đất lúa
6
Các công thức ngập khô xen kẽ dung trọng giảm so với
công thức ngập liên tục và thời gian ngập khô xen kẽ càng kéo dài
sự chênh lệch về dung trọng càng tăng.
Số lượng vi sinh vật của các công thức bị ảnh hưởng bởi
chế độ nước. Các công thức có chế độ nước ngập khô xen kẽ có
số lượng vi sinh vật háo khí và kỵ khí tăng giảm tùy thuộc vào giai
đoạn được cung cấp nước hay tháo cạn.
Chế độ nước có ảnh hưởng đến môi trường sống của cây
lúa như giá trị pH, hàm lượng lân dễ tiêu những yếu tố này có ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng cũng như phát triển, năng suất của cây
lúa sau này.
Chế độ nước tác động đến lý, hóa tính đất, môi trường
sống của lúa cũng như của sinh vật trong đất, biến đổi các chất
dinh dưỡng từ dạng khó hấp thu sang dễ hấp thu. Các thay đổi về
môi trường đất do chế độ nước có thể do các nguyên nhân sau:
Sau quá trình canh tác kết cấu đất cụ thể là dung trọng đất
của các công thức có sự thay đổi. Nguyên nhân có thể do chế độ
nước ảnh hưởng đến số lượng vi sinh vật và sự phát triển của bộ
rễ lúa gây nên. Chế độ nước ngập thường xuyên có số lượng vi
sinh vật lớn, có thể là nguyên nhân làm dung trọng tăng lên.
Số lượng vi sinh vật kỵ khí của công thức ngập liên tục
lớn hơn các công thức ngập khô xen kẽ dài ngày, nhưng số lượng
vi sinh vật háo khí của các công thức ngập khô xen kẽ thời gian
Chiều dài rễ
Chiều dài rễ lúa là một trong các chỉ tiêu bị ảnh hưởng bởi
chế độ tưới nước. Chiều dài bộ rễ có quy luật sinh trưởng phát
triển tương tự như số rễ, tăng ngay từ khi cấy và tăng đều suốt quá
trình từ khi cấy đến thời kỳ trỗ và giảm ở các giai đoạn chín sữa
và chín hoàn toàn. Chiều dài bộ rễ lúa đạt cao nhất tại giai đoạn
trỗ, ở thời kỳ này bộ rễ lúa ăn rộng và sâu giúp hút được nhiều
nước, dinh dưỡng khoáng phục vụ cho quá trình trao đổi chất để
chuyển hóa sang thời kỳ tích lũy hạt.
Hình 3.3 Tổng chiều dài rễ lúa qua các thời kỳ
3.2.2.3
8
Đường kính rễ
Kết quả cho thấy nhìn chung đường kính rễ tăng, giảm
theo quy luật chung đó là tăng từ khi gieo và đạt cực đại ở thời kỳ
lúa trỗ, sau đó giảm dần ở các giai đoạn chín sữa và chín. Các công
thức có chế độ tưới nước xen kẽ dài ngày hơn có đường kính rễ
lúa lớn hơn so với các công thức được tưới nước thường xuyên
(p
chế độ tưới thường xuyên cao hơn so với các công thức ngập khô
xen kẽ kéo dài. Số ngày xen kẽ càng dài thì khối lượng rễ càng nhỏ
cho thấy chế độ tưới nước ảnh hưởng đến khối lượng rễ tầng đất
từ 05cm. Ở giai đoạn làm đòng khối lượng rễ của CT2 cao nhất
đạt 0,53g/khóm, CT5 thấp nhất chỉ đạt 0,30g/khóm (p
dễ tiêu nhanh hơn nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của vi sinh vật.
Điều này giúp hệ rễ phát triển mạnh với số lượng rễ nhiều hơn
hẳn ở chế độ nước cạn xen kẽ so với chế độ nước thông thường.
Chế độ xen kẽ ngập khô với điều kiện 4 ngày là phù hợp, thời gian
xen kẽ càng kéo dài số lượng rễ càng giảm.
Đường kính rễ
Đường kính rễ lúa tăng lên từ đẻ nhánh và đạt cực đại khi
lúa trỗ, sau đó giảm ở giai đoạn chín. Các công thức tưới nước
nhiều số lượng rễ nhiều nhưng đường kính rễ lại nhỏ và ngược
lại ở các công thức tưới ít nước.
Điều quan trọng hơn nữa chính là chế độ nước cạn xen kẽ
làm cho môi trường đất không bị yếm khí, các vi sinh vật háo khí
hoạt động mạnh hơn, quá trình khoáng hóa mạnh mẽ, giải thoát
nhiều dinh dưỡng dễ tiêu hơn làm cho cây lúa có bộ rễ phát triển
với đường kính rễ lớn hơn. Thiyagarajan và Selvaraju (2001) cũng
cho kết luận tương tự, các giống lúa có khả năng chịu hạn tốt
thường có đường kính rễ lớn, chiều dài rễ lớn và ăn sâu hơn trong
các tầng đất sâu.
Chiều dài rễ
Chế độ nước cạn xen kẽ không tạo điều kiện cho không
khí đuợc cung cấp nhiều hơn, vi sinh vật phát triển tốt và dinh
dưỡng dễ sử dụng nhiều hơn là điều kiện giúp cho rễ lúa phát
triển. Điều này giúp hệ rễ phát triển mạnh với số lượng rễ nhiều
hơn hẳn ở chế độ nước cạn xen kẽ so với chế độ nước thông
thường. Theo Bhuiyan và cộng sự (1995), khi lượng nước cung cấp
12
giảm đi cây lúa có xu hướng kéo dài chiều dài của rễ xuống các
13
3.3
Ảnh hưởng của chế độ nước đến sinh trưởng của cây
lúa và mối quan hệ giữa các chỉ tiêu rễ với sinh trưởng
của cây lúa ở các chế độ nước khác nhau
3.3.3. Tổng tích lũy chất khô của lúa
Tổng tích lũy chất khô của các công thức tăng lên từ giai
đoạn cấy đến chín theo quy luật phát triển chung của cây lúa. Tốc
độ tăng khối lượng chất khô giữa các giai đoạn có sự khác nhau
trong đó tăng mạnh nhất là từ giai đoạn làm đòng đến chín sữa.
Từ kết quả của bảng trên có thể kết luận rằng quy luật
chung của khối lượng tích lũy chất khô của các công thức là tăng
đều từ giai đoạn cấy đến giai đoạn chín, tổng khối lượng chất khô
của các công thức có chế độ tưới ngập khô xen kẽ càng dài thì
tổng khối lượng tích lũy chất khô càng giảm. Điều này cho thấy
cần chú ý đến chế độ nước để đạt được năng suất cao nhất.
Bảng 3.13: Tổng tích lũy chất khô qua các giai đoạn
(Đơn vị tính: g/khóm)
CT
CT1
CT2
CT3
CT4
CT5
p
LSD0,5
CV %
28,03a
20,41bc
17,02c
17,68c
hạt
chắc
(g)
(g/chậu)
bông
chắc
%
CT1
8,6ab
168,4
143,4 85,09ab
19,91 24,60ab
a
a
CT2
9,0
177,6
157,6
88,73
20,32 28,91a
ab
ab
CT3
7,8
174,8
148,4 84,85
19,84 22,92bc
CT4
6,6b
166,6
Chỉ tiêu số bông của thí nghiệm cho thấy bị ảnh hưởng bởi
chế độ nước một cách rõ nét (p0,05 cho biết chúng
chịu ảnh hưởng không rõ ràng của chế độ tưới nước. Tỷ lệ hạt
chắc bị ảnh hưởng bởi chế độ nước một cách rõ rệt (p0,05 cho biết chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng không rõ ràng của
chế độ tưới nước.
3.4.2. Năng suất lúa
Chế độ nước với thời gian xen kẽ ngập khô ngắn cho năng
suất cao hơn so với chế độ có thời gian ngập khô xen kẽ dài với
xác suất có độ tin cậy 95%. Năng suất của các công thức từ
17,21g/chậu (CT5) đến 28,91g/ chậu (CT2). Kết quả trên cho thấy
CT2 có năng suất cao nhất chắc chắn cao hơn CT3, CT4, CT5 với
mức tin cậy 95%.
Năng suất
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của lúa bị chi
phối mạnh bởi sự sinh trưởng của bộ rễ và thân lá lúa. Năng suất
của các công thức có ảnh hưởng bởi chế độ nước, các công thức
có chế độ tưới xen kẽ ngắn cho năng suất cao hơn các công thức
có thời gian xen dài và năng suất giảm dần tỷ lệ nghịch với thời
gian khô tăng lên. Công thức có chế độ tưới xen kẽ ngập khô 4
ngày cho năng suất cao nhất điều này phù hợp với nghiên cứu của
Uphoff (2004).
(p
lượng rễ, chiều dài rễ, tổng khối lượng rễ (p
215,43c
208,78d
20
Tỷ lệ
hạt
chắc
(%)
0,89d
0,91c
0,92b
0,91c
Số hạt
chắc /
bông
P1000
(g)
NSLT
(tấn/ha
)
NSTT
(tấn/ha
)
169,71d
13,58b
14,16a
6,85b
7,68a
3,20g/khóm tại giai đoạn trỗ cao hơn các công thức có chế độ tưới
ngập khô xen kẽ dài ngày từ 2030% . Tưới nước có khoảng thời
gian ngập khô xen kẽ ngắn làm tăng số lượng rễ, chiều dài rễ/
khóm và tổng khối lượng rễ hơn so với thời gian ngập khô xen kẽ
dài ngày hay để ngập nước thường xuyên..
Thời gian tưới ngập khô xen kẽ càng dài khối lượng tích
lũy chất khô của lúa càng giảm. Sự sinh trưởng của lúa tốt nhất ở
chế độ nước ngập khô xen kẽ 4 ngày cao hơn các công thức ngập
khô xen kẽ dài ngày từ 24,2 36,9%. Các chỉ tiêu về rễ có mối tương
quan thuận chặt với chỉ tiêu sinh trưởng thân, lá ở giai đoạn trỗ,
chín sữa. Số lượng rễ càng nhiều, khối lượng rễ càng lớn thì cây
lúa sinh trưởng càng tốt và ngược lại số lượng rễ ít, khối lượng rễ
nhỏ thì sinh trưởng kém.
Chế độ nước ngập khô xen kẽ 4 ngày cho năng suất cao
nhất đạt 28,91g/chậu cao hơn các chế độ tưới nước ngập khô xen
kẽ dài ngày từ 20,71 40,47%. Các chế độ nước có thời gian ngập
khô xen kẽ càng dài thì các yếu tố cấu thành năng suất như số
23
bông/khóm, tỷ lệ hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt và năng suất
lúa càng giảm.
Nhiều mối quan hệ thuận, chặt giữa các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất lúa với sự phát triển của bộ rễ lúa được
phát hiện như: Số lượng rễ càng nhiều ở tất cả các giai đoạn sinh
trưởng thì năng suất càng cao; khối lượng rễ ở tầng đất từ 05cm
ở các giai đoạn làm đòng, chín sữa, chín và khối lượng rễ ở tầng
đất từ 515cm trong giai đoạn trỗ tương quan thuận chặt với năng
suất. Kết quả cho thấy phần rễ ở tầng đất từ 05cm rất quan trọng
25