Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước ta đã và đang coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
trong nền kinh tế quốc dân, bởi nông nghiệp không chỉ giữ vai trò cung cấp
lương thực, thực phẩm cho đất nước mà vì nước ta hiện nay và những năm
sắp tới cơ bản vẫn là nước nông nghiệp, với 11 triệu hộ nông dân chiếm
78,7% dân số sống ở nông thôn và nông nghiệp đóng góp 25,75% GDP
(1998).
Trước kia trong thời kỳ bao cấp với chính sách kinh tế hoá chưa
khuyến khích người lao động, nên người lao động chưa phát huy hết tiềm
năng của mình, nhận rõ ra khiếm khuyết đó, tại đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI (12 – 1986) Đảng tiến hành đổi mới tổ chức quản lí nền kinh tế quốc
dân, trong đó có nông nghiệp. Nội dung cơ bản của chính sách đổi mới chính
là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN.
Vận dụng đường lối đó trong đổi mới kinh tế nông nghiệp nét nổi bật là
coi “gia đình xã viên là một đơn vị kinh tế tự chủ”. Trong sản xuất nông
nghiệp, từ đó Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách khuyến khích
phát triển nông nghiệp như nghị quyết trung Ương V đại hội khoá VII và
hàng loạt các chính sách kinh tế mới trong thời kỳ đổi mới. Đó là những tiên
đề hết sức quan trọng để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển nói chung và
chăn nuôi nói riêng.
Trước hoàn cảnh đó, trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi
trong cả nước đã và đang phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt là chăn nuôi ở các
nông hộ thuộc các tỉnh trong cả nước .Trong đó huyên Thuận Thành là một
huyện khá điển hình trong chăn nuôi phát triển cũng rất mạnh. Chăn nuôi đã
góp phần không nhỏ vào cung cấp nguồn thực phẩm trong cả nước nói chung
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
và cải thiện đời sống cho người dân chăn nuôi nói riêng. Nhưng bên cạnh đó
1.2. Khái niệm hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện về không gian và sự phối kết hợp
giữa các ngành sản xuất với kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn nhu
cầu. Nó thể hiện một sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh thái, sinh học và môi
trường tự nhiên và một đại diện về hệ thống xã hội văn hoá, thông qua hoạt động
sản xuất, xuất phát từ thành quả kỹ thuật ( Phạm Chí Thành, 1996).
2. Mô hình nông nghiệp.
Hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn, 1989.
Trong mô hình của Đào Thế Tuấn cho thấy các mối quan hệ qua lại
giữa các nhân tố bên trong hệ thống nông nghiệp.
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Mô hình: Hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn, 1989.
Qua đây cho chúng tôi thấy khi dân số phát triển sẽ gia tăng lực lượng
lao động, lực lượng lao động này sử dụng một nguồn khoa học – kỹ thuật và
kinh nghiệm của mình tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo ra
năng xuất lao động cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội trong mô hình
4
Dân số
Thu nhập
Tích luỹ Tiêu dùng
Lương thực
Cây công
nghiệp
sản phẩm
chăn nuôi
sản phẩm
chế biến
Chế biến
Khoa học
sản phẩm chăn nuôi ấy, sản phẩm chăn nuôi có thể sản xuất theo phương
hướng sau:
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Phương hướng chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và các sản phẩm của chúng.
Sản phẩm Gia súc, gia cầm Phương thức chăn nuôi
Thịt Trâu, bò, gia cầm… Nuôi thả, nuôi nhốt
Trứng Gia cầm Nuôi thả, nuôi nhốt
Sữa Bò sữa Nuôi gia đình, nuôi trang trại
Thuỷ sản Cá, tôm, cua… Nuôi ao, hồ
Lông, len, da Cừu, dê, cá sấu… Nuôi chăn thả, nuôi nhốt
Tơ Tằm Nuôi gia đình
Mật Ong Nuôi trong gia đình
3.2. Hệ thống trồng trọt
Hệ thống trồng trọt là hệ thống con trong hệ thống nông nghiệp, nó ảnh
hưởng rất lớn tới sự phát triển của hệ thống chăn nuôi và các hệ phụ khác.
Hệ thống trồng trọt là toàn bộ các thửa ruộng được cây trồng như nhau
và có cùng một diễn thế cây trồng. Như vậy hệ thống trồng trọt là một hệ
thống trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, được bố trí trong
một khoảng không gian nhất định. Vì vậy, nghiên cứu hệ thống trồng trọt cần
xem xét các vấn đề.
- Các phương thức trồng trọt.
- Cơ cấu cây trồng, diện tích cây trồng.
- Kỹ thuật trồng trọt cho các hệ thống.
Hệ thống trồng trọt có những chức năng khác nhau như : cung cấp
lương thực cho con người và gia súc, chống sói mòn, giữ nước cải tạo đất,
điều hoà sinh thái, và nó còn là nguồn nguyên liệu dồi dào cho nhiều ngành
công nghiệp khác.
Với chăn nuôi thì hệ thống trồng trọt tạo nguồn thức ăn chính cho gia
súc, gia cầm như : hái, củ, quả, thân, lá… nó tạo nên sự cân bằng trong hệ
gia cầm có những tính trạng mong muốn.
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
4..2.Thức ăn
Thức ăn có một vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi, nó ảnh hưởng
rất lớn đến năng xuất vật nuôi, cùng một loại giống, loại vật nuôi những điều
kiện dinh dưỡng khác nhau thì hiệu quả kinh tế sẽ khác nhau. Vật nuôi nào
được sử dụng chế độ dinh dưỡng tốt, phù hợp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
hơn và ngược lại.
Thức ăn chăn nuôi có nhiều loại những thức ăn được người dân sử
dụng phổ biến là : gạo, ngô, sắn, đỗ tương, rau… ngoài ra còn có nhiều loại
thức ăn gia súc Sản xuất. Tuỳ thuộc vào từng loại vật nuôi mà chúng đòi hỏi
phải cung cấp các loại thức ăn với tỷ lệ khác nhau. Trong chăn nuôi chi phí
cho thức ăn chiếm khoảng 60 – 70%, đây là chi phí đơn thuần trong chăn
nuôi, nó tác động trực tiếp đến lợi nhuận của người Sản xuất. Muốn giảm giá
thành trong chăn nuôi phải phối hợp các loại thức ăn hợp lý tránh lãng phí, sự
phối hợp khẩu phần này phải phù hợp với từng loại thức ăn là một điều đáng
lưu tâm, giá các loại thức ăn quá cao mà giá thành sản phẩm chăn nuôi lại
thấp hoặc chất lượng thức ăn đảm bảo yêu cầu dinh dưỡng thì nó sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi.
4.3.Yếu tố môi trường
Điều kiện môi trường tự nhiên là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả kinh tế trong chăn nuôi nông hộ, các yếu tố môi trường bao gôm.
* Môi trường tự nhiên
- Điều kiện khí hậu : nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa…
- Đất đai : Địa hình, độ màu mỡ …
- Nước : số lượng và chất lượng nước ( độ sạch, bẩn).
* Môi trường kinh tế – xã hội.
- Quyền sở hữu đất đai.
- Vốn, lao động.
5.1. Bệnh truyền nhiễm
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Bệnh truyền nhiễm là một bệnh do vi sinh vật gây nên, có tính chất lây
lan và có thể phát thành dịch ở một khu vực hay nhiều khu vực khác nhau, do
đó nó là vấn đề rất quan trọng bởi hàng năm nó làm thất thu rất nhiều đối với
các nhà chăn nuôi nhất là đối với quy mô ngày càng lớn ( Nguyễn Vĩnh
Phước, 1978 .
5.1.1. Quá trình sinh dịch
Quá trình sinh dịch là quá trình bệnh truyền nhiễm lây lan liên tục từ
con vật ốm sang con vật khoẻ.
Quá trình sinh dịch gồm 3 khâu : Nguồn bệnh, nhân tố trung gian
truyền bệnh và súc vật thụ cảm. Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là
điểm xuất phát của quá trình sinh dịch nhân tố trung gian truyền bệnh nối
liền giữa nguồn bệnh với súc vật thụ cảm làm cho quá trình sinh dịch thực
hiện thuận lợi súc vật thụ cảm là yếu tố làm cho dịch biểu hiện ra đồng thời
nó lại trở thành nguồn bệnh làm cho quá trình sinh dịch được nhân lên, được
thúc đẩy mạnh hơn.
5.1.1.1. Nguồn bệnh
Đây là khâu đầu tiên và là khâu chủ yếu của quá trình sinh dịch.
( Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 2001) cho rằng nguồn bệnh là nơi mầm
bệnh khu trú và sinh sản thuận lợi và từ đó trong những điều kiện nhất dịnh sẽ
xâm nhập vào cơ thể bằng cách nay hay cách khác để gây bệnh.
Nguồn bệnh là nơi tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại và gây bệnh.
Như vậy nguồn bệnh là những vi sinh vật sống mà ở đó có những điều kiện
thuận lợi, đầy đủ cho mầm bệnh tồn tại và sinh sản lâu dài.
Nguồn bệnh biểu hiện dưới hai dạng.
+ Con vật ốm ở các thể bệnh khác nhau:
Thể quá cấp tính
Thể cấp tính
+ Côn trùng : có nhiều loại như : ve, rận ruồi muỗi ...
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Đây là các nhân tố sống đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền
bệnh từ con này sang con khác, từ nơi này sang nơi khác.
Động vật : Từ động vật hoang dã đến động vật thuần hoá đều có thể
truyền các bệnh như : nhiệt thân, dịch tả lợn, dai, lở mồm long móng, sảy thai
truyền nhiễm, đóng dấu lợn... Các loại dã thú, gặm nhấm không những là
nguồn tàng trữ các ổ dịch thiên nhiên mà còn là nhân tố trung gian truyền
bênh, mầm bệnh được dính vào thân thể của các loại động vật trên và được
truyền đi và có thể truyền qua phân, qua nước tiểu hay qua dịch tiết.
Ngoài ra con người cũng là nhân tố trung gian truyền bệnh, nhất là
những người trực tiếp như : công nhân chăn nuôi, công nhân vắt sữa, cán bộ
thú y ... mầm bệnh dịch và quần áo, tay chân, giầy dép hoặc ở bên trong cơ
thể con người.
Nhân tố trung gian không phải là sinh vật.
Thức ăn, nước uống là nhân tố phổ biến nhất vidf đa số bệnh truyền
lây bằng đường tiêu hoá qua thức ăn nước uống. Đây là môi trường thuận lợi
cho sự tồn tại của vi sinh vật cũng như bao tử, nha bào của nó.
Qua thực nghiệm cho thấy những vi sinh vật gây bệnh đường ruột như
(salmonella) có thể sống được hàng tuần trong nước (Bùi Đai, 1996 ; Nguyễn
Như Thanh, 2002. Nhờ dòng chảy của nước mà mầm bệnh được mang từ nơi
này sang nơi khác, do nhu cầu sử dụng nước hàng ngày của con vật do đó mà
có thể phát sinh ồ ạt bệnh truyền nhiễm. Mức độ ô nhiễm của nước phụ thuộc
vào thành phần của đất và điều kiện vệ sinh của đất nơi đó. Nguồn nước trong
thiên nhiên luôn bị ô nhiễm và có khả năng tự làm sạch, vi sinh vật trong
nước có thể bị tiêu diệt bằng ánh sáng mặt trời, cạnh tranh sinh tồn giữa
chúng, do thuỷ sinh vật ăn hay do các phage ( thực bào) làm tan. Vì thế mà số
lượng vi sinh vật trong nước bị giảm bớt.
Tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới WHO ( Word Health O:ganisation)
Mức độ tác hại của giọt và bụi phụ thuộc vào độ lớn của chúng, và số
lượng mầm bệnh bám vào giọt vào bụi. Ngoài ra tác hại còn phụ thuộc vào độ
ẩm, nhiệt độ cũng như chuyển động của không khí.
Safir đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá độ sạch, bẩn của không khí
như sau:
Loại không khí sạch
Số lượng vi sinh vật trong 1m
2
không khí
Mùa hè Mùa đông
Sạch < 1.500 < 4.500
Bẩn > 2.500 > 7.000
Ngoài ra dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và nhân tố trung
gian truyền bệnh – nếu các dụng cụ, phương tiện này không được vệ sinh sạch
sẽ thường xuyên thì mầm bệnh có thể tồn tại ở đó và có cơ hội xâm nhập vào
con vật.
Vì vậy để phòng chống dịch bệnh có hiệu quả thì biện pháp quan trọng
là phải vệ sinh sạch sẽ, hạn chế, ngăn chặn không cho vật nuôi tiếp xúc với
nhân tố trung gian tryền bệnh, cụ thể là: vệ sinh thức ăn, nước uống, tiêu độc
chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và nâng cao ý thức, trách nhiệm của con người.
5.1.1.3. Súc vật thụ cảm.
Súc vật thụ cảm là khâu thứ 3 không thể thiếu trong quá trình sinh dịch,
đây là khâu cần thiết để dịch phát sinh và phát triển. Có nguồn bệnh và nhân
tố trung gian truyền bệnh thuận lợi những nếu cơ thể súc vật không cảm thụ
với mầm bệnh thì dịch không thể phát sinh. Vì vậy ta phải chú ý tới việc
chăm sóc, nuôi dưỡng súc vật để nâng cao sức đề kháng của con vật, từ đó
hạn chế được dịch bệnh xảy ra.
Ba nhân tố : Nguồn bệnh, nhân tố trung gian truyền bệnh và súc vật
cảm thụ của quá trình sinh dịch xảy ra một trình tự nếu thiếu một trong ba
nhân tố đó thì bệnh không thể phát thành dịch. Ngoài ra vấn đề kiểm dịch
Mầm bệnh lây truyền từ cơ thể con ốm sang cơ thể con khỏe không
những là yếu tố cần thiết của quá trình sinh dịch mà còn cần thiết cho sự tồn
tại của mầm bệnh trong thiên nhiên. Quá trình này chịu sự chi phối bởi những
quy luật nhất định. Theo L.V.Gramasipxki gọi là quy luật truyền bệnh hay là
cơ chế truyền bệnh. Để truyền bệnh, mầm bệnh, phải tìm nơi cư trú, nơi có
điều kiện thuận lợi nhất để sinh sản, sau đó mới lây lan sang cơ quan khác.
Mỗi một loại mầm bệnh thường chỉ có một nơi khu trú đầu tiên nhất định do
đó cũng chỉ có một cơ chế truyền bệnh thích hợp.
5.1.2.2. Phương thức truyền bệnh
Bao gồm hai phương thức.
+ Phương thức truyền lây trực tiếp và phương thức truyền lây trực tiếp
và phương thức truyền lây gián tiếp.
Phương thức truyền lây trực tiếp : mầm bệnh được truyền thẳng từ con
vật ốm sang con vật khỏe không cần phải qua nhân tố trung gian truyền bệnh,
mầm bệnh của những loại bệnh này thường là loại ký sinh bắt buộc không
sinh sản trong môi trường nhân tạo được và thường có sức đề kháng kém với
ngoại cảnh.
Phương thức truyền lây, gián tiếp : mầm bệnh muốn lây lan được phải
qua nhân tố trung gian truyền bệnh. Trong các bệnh lây gián tiếp mầm bệnh
có sức đề kháng tương đối cao với ngoại cảnh và có thể tồn tại một thời gian
trên các nhân tố trung gian truyền bệnh.
Căn cứ vào cơ thể truyền bệnh của L.V. Gramasipxki thì có thể chia ra
làm bốn phương thức truyền bệnh chính.
- Truyền bệnh theo đường tiêu hoá.
- Truyền bệnh theo đường hô hấp.
- Truyền bệnh theo đường máu.
- Truyền bệnh qua da và niêm mạc.
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
5.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sinh dịch.
- Tính chất vùng : Thời tiết, khí hâu, đất đai, cây cỏ ở một vùng đều
ảnh hưởng đến sức đề kháng của vật nuôi, ảnh hưởng đến nhân tố trung gian
truyền bệnh, đến sự tồn tại của một số loại mầm bệnh, do đó mà một số bệnh
chỉ có thể phát sinh ở một vùng nhất định.
- Tính chất chu kỳ : Người ta cho rằng sở dĩ dịch bệnh có tính chất chu
kỳ là do sự biến đổi cảm thị bệnh của gia súc, gia cầm có tính chất chu kỳ.
Nghĩa là sau một chận dịch, số gia súc còn lại được miễn dịch, tính cảm thụ
của cả đàn giảm đến mức thấp nhất. Sau một thời gian, đàn gia súc có mật độ
cao dần do sinh đẻ thêm, nhập thêm vật nuôi chưa được miễn dịch, vật nuôi
lành bệnh trước kia đã hết miễn dịch và khi mật độ của đàn gia súc, gia cầm
tăng lên mức cao nhất và gặp điều kiện bên ngoài bất lợi, sức đề kháng của
vật nuôi giảm thì dịch bệnh lại phát ra.
5.1.5. Phòng chống bệnh truyền nhiễm
5.1.5.1. Nguyên lý của công tác phòng chống truyền nhiễm
Bệnh truyền nhiễm xảy ra được là do ba khâu của quá trình sinh dịch.
Nguồn bệnh các nhân tố trung gian truyền bệnh, súc vật thụ cảm và có sự liên
quan giữa ba khâu đó. Thiếu một trong 3 khâu hoặc thiếu sự liên hệ giữa hai
trong ba khâu đó thì dịch không xảy ra được.
Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là xuất phát điểm của quá
trình sinh dịch và nguồn bệnh đóng vai trò tàng trữ mầm bệnh và thải trừ
mầm bệnh ra ngoài môi trường.
- Nhân tố trung gian truyền bệnh nối liền giữa nguồn bệnh với súc vật
thụ cảm làm cho quá trình sinh dịch thực hiện thuận lợi, vì nó có vai trò
truyển tải, vận chuyển mầm bệnh từ con ốm sang con khoẻ.
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
- Súc vật thụ cảm là yếu tố làm cho dịch biểu hiện ra, đồng thời nó lại
biến thành nguồn bệnh cho quá trình sinh dịch được nhân nên được thúc đẩy
mạnh hơn.
Vì vậy công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm phải nhằm thực
vệ sinh tiêu độc bằng thuốc sát trùng.
Tiêu độc nền chuồng, bãi chăn thả, khu vực xung quanh chuồng trại
bằng các chất sát trùng....
+ Phòng bằng vacxin:
Kiểm kê số đầu gia súc, gia cầm trong ổ dịch để tiến hành tiêm phòng
(loại những con bị ốm, những con nghi ngờ....) tiêm phòng vacxin cho những
con vật cảm thụ với xung quanh ổ dịch để tạo vành đai an toàn bao vây không
cho dịch bệnh lây lan rộng.
5.1.6. Vacxin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm.
+ Định nghĩa : vacxin là một loại thuốc sinh vật trong đó có chứa chủ
yếu là kháng nguyên. Khi đưa vacxin vào trong cơ thể thì kích thích cơ thể
sản sinh ra kháng thể. Kháng thể này tồn tại trong cơ thể dài hay ngắn tuỳ
thuộc vào loại vacxin.
+ Các loại vacxin : gồm có 2 loại :
- Vacxin vô hoạt: là loại vacxin người ta dùng mầm bệnh nuôi cấy vào
trong các môi trường thuận lợi, trong những điều kiện thuận lợi để cho mầm
bệnh phát triển tối đa rồi dùng các loại hoạt chất, nhiệt độ để giết chết chúng
nhưng không làm ảnh hưởng tới tính kháng nguyên.
- Vacxin nhược độc: dùng vi khuẩn hoặc vi rút đã được làm yếu đi đến
mức không nguy hiểm cho cơ thể súc vật cảm thụ nhưng vẫn giữ được bản
tính của kháng nguyên.
5.2. Bệnh nội khoa:
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Bệnh nội khoa là bệnh không lây lan nhưng là bệnh gây thiệt hại lớn
trong chăn nuôi, bệnh thường xảy ra ở dạng mãn tính làm cho con vật gầy
yếu, dần dần rồi chết, khác với bệnh truyền nhiễm nguyên nhân chỉ do vi sinh
vật, bệnh nội khoa thường do nhiều nguyên nhân gây lên, ví dụ: Bệnh viêm
ruột của gia súc thì nguyên nhân có thể là do: thức ăn, thời tiết, vi sinh vật…
5.3. Bệnh ngoại khoa:
2. Nội dung nghiên cứu ;
2.1. Điều kiện tự nhiên của xã
+ Vị trí địa lý
+ Thời tiết khí hậu
2.2. Điều kiện kinh tế – Xã hội của xã
+ Điều kiện kinh tế ( nông nghiệp, công nghiệp …và các ngành khác …)
+Điều kiện kinh tế xã hội .
- Hoạt động của xã
- Phong tục tập quán của xã
2.3. Hoạt động của đội ngũ thú y xã
+ Cơ cấu đội ngũ thú y xã
+ Hoạt động của đội ngũ thú y xã
+ Tủ thuốc thú y xã
2.4 Thực trạng chăn nuôi và phương pháp chăn nuôi của xá
+ Chăn nuôi trâu bò
+ Chăn nuôi lợn
+ Chăn nuôi gia cầm
điều tra về số lượng gia súc gia cầm qua các năm (2007- 2008)
22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
2.5. Tình hình dịch bệnh sảy ra ở ra súc, gia cầm tại xã
Điều tra tình hình dịch bệnh tại xã ở gia súc, gia cầm như ;
+ Tình hình tiêm phòng trong những năm 2006- 2007.
+ Điều tra cụ thể các bệnh xảy ra ở các loài (trâu, bò, lợn ,gia cầm )
- Bệnh ở gia súc
Bệnh nội khoa
Bệnh ngoại khoa
Bệnh ký sinh trùng
Bệnh sản khoa
Bệnh truyền nhiễm
C . Mùa hè nóng ấm , mưa nhiều kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 28
o
C. Nhiệt độ trong cả năm là
22
0
C . lượng mưa trung bình hàng năm là 1.500- 1800mm, độ ẩm trung bình
là 80% về mùa đông thường có gió lạnh khô , về mùa hè mưa bão.
1.2. Điều kiện kinh tế , xã hội
Xã Ninh Xá là một xã thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ . Có đường quốc
lộ 3 chạy qua hiện tại trên địa bàn chưa có công ty nào được thành lập. Nhưng
khoảng 1/3 tổng dân số của xã nằm ngoài ngành nông nghiệp như; (làm công
nhân, chợ búa…). Trình độ dân trí trong mấy năm gần đây cũng khá tốt nên nền
kinh tế của xã mấy năm trở lại đây phát triển khá cũng khá rõ rệt.
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Bảng 1: Tình hình dân số và kinh tế của xã
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng
Tổng số dân Người 4.186
Tổng số gia đình Hộ 800
Tổng số lao động chính Người 2.842
Gia tăng dân số % 1,2
Mật độ dân cư Người / km
2
122
Bình quân đất nông nghiệp m
2
/người 540
Mức kinh tế
của các hộ