GIẢI PHÁP CHO ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở NƯỚC TA - Pdf 69

GIẢI PHÁP CHO ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở NƯỚC TA
1. Giải pháp
Bộ trưởng Nguyện thiện Nhân đã từng khẳng định việc chuyển từ đào tạo
dựa vào khả năng sẵn có của mình sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội là
chuyển biến quan trọng nhất, cơ bản và bức bách trong giai đoạn hiện nay. Điều
này tương tự như chuyển đổi từ kinh tế tập trung kế hoạch hoá trước kia sang
nền kinh tế thị trường. Và để đảm bảo mục tiêu đến năm 2008 nước ta bước vào
đào tạo theo nhu cầu thị trường thì ngay từ bây giờ chúng ta phải ý thức rõ
chúng ta cần đào tạo những gì, đào tạo cho ai, đào tạo nhằm mục đích gì và phải
đào tạo như thế nào. Hay nói cách khác là ngay từ bây giờ chúng ta phải tìm ra
những giải pháp cụ thể nhất, chi tiết nhất để nhanh chóng xoá bỏ những yếu
kém trong giáo dục hiện nay, đưa nền giáo dục đi theo mục tiêu phục vụ của xã
hội, của nền kinh tế.
Bộ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Thiện Nhân cũng đã nêu ra 9 tiêu chí
nhằm đạt chuẩn trong quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và doanh
nghiệp. Trước hết, phải xác định chuẩn kỹ năng, năng lực của người tốt nghiệp;
xác định chuẩn đầu vào của học sinh, sinh viên; tiêu chuẩn của chương trình đào
tạo; đổi mới phương pháp giảng dạy trong đó có phương pháp đánh giá trình độ
của nhà quản lý và các thầy cô giáo; giảng viên phải có trình độ chuyên môn
cao; cán bộ quản lý phải có năng lực toàn diện; điều kiện cơ sở vật chất của
trường đảm bảo đủ thiết bị dạy và học, phòng thí nghiệm…; năng lực tài chính
đảm bảo chi phí đào tạo để người dạy và học yên tâm; phải tổ chức quản lý qui
trình đào tạo, phân cấp hoặc theo tiêu chuẩn ISO
Để cụ thể hoá các tiêu chí trên, trong hội thảo quốc gia “Đào tạo theo nhu
cầu xã hội” nhằm tìm ra sự đồng bộ giữa nhà trường với thị trường lao động do
Bộ Giáo dục Đào tạo tổ chức tại TP.HCM, các đại biểu đã nêu ra một loạt các
giải pháp sau:
a) Hình thành ban điều hành để triển khai đào tạo theo nhu cầu
Thành phần ban điều hành gồm: Đại diện của Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ
Lao động – Thương binh xã hội, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Bưu chính viễn thông,
Bộ Công nghiệp, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam ... Ban điều

và các cơ sở đào tạo
Hợp tác, phối hợp ở đây là sự hợp tác giữa các bộ, các tổng công ty, giữa
Bộ Giáo dục Đào tạo với phòng Công nghệ thông tin Việt Nam , Bưu chính viễn
thông … hợp tác tại các địa phương, hợp tác giữa cơ sở đào tạo với doanh
nghiệp hoặc giữa các cơ sở đào tạo với nhau. Trên cơ sở đó tận dụng lợi thế của
mỗi bên về con người, cơ sở vật chất để cùng nhau phát triển. Cụ thể:
- Nhà nước có vai trò xây dựng chính sách hiệu quả; xây dựng khung luật
pháp và loại bỏ những qui định không phù hợp với nền kinh tế thị trường, phát
triển tiêu chuẩn chất lượng, đánh giá kỹ năng và công nhận kỹ năng, cung cấp
thông tin cần thiết gắn với các tín hiệu thị trường lao động, đánh giá nhu cầu
đào tạo ở phạm vi quốc gia, phạm vi ngành và điều chỉnh chính sách để đáp ứng
nhu cầu thị trường, hoàn thiện thị trường việc làm đảm bảo vận hành hệ thống
đào tạo hiệu quả để đạt tiêu chuẩn chất lượng, phát triển năng lực xây dựng
chương trình đào tạo, đào tạo giáo viên và cán bộ quản lý...
- Doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc sẵn sàng cung cấp thông
tin về nhu cầu (chất lượng và số lượng) nhân lực, nghiên cứu chuyển giao công
nghệ của mình, tạo điểu kiện hỗ trợ nhà trường về cơ sở thực tập, bồi dưỡng
giáo viên, chia sẻ chi phí, đào tạo nhân lực tại chỗ, thử nghiệm sản phẩm nghiên
cứu, phối hợp phát triển mẫu mã sản phẩm, đổi mới công nghệ. Các doanh
nghiệp cần xem việc đầu tư cho đào tạo là đầu tư phát triển và xem nguồn nhân
lực là tài sản của doanh nghiệp.
- Về phía nhà trường cần chủ động nắm bắt nhu cầu về lao động, bám sát
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, dự báo về sự phát triển của ngành nghề để
xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, cùng nhau thảo luận để đưa ra giải
pháp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của các doanh nghiệp để sao cho nguồn
nhân lực không bị láng phí. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh
nghiệp sẽ hạn chế tình trạng đào tạo xa rời với thực tiễn sản xuất, sinh viên
được đào tạo đáp ứng được yêu cầu của xã hội và doanh nghiệp mà doanh
nghiệp không phải tốn thêm chi phí đào tạo lại.
Việc hợp tác này không chỉ giới hạn trong nước mà còn mở rộng liên kết

bổng khuyến khích. Hình thành chương trình cho vay để học đại học. Hướng
mà chúng ta đã làm lâu nay là duy trì học phí thấp thì các trường sẽ không có
tiền để nâng cấp cơ sở nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo. Mà nếu đóng học phí
cao từ nguồn gia đình thì không thể đóng nổi nên với khu vực đại học thì vay để
học (thông qua quỹ tín dụng sinh viên) là một giải pháp tốt nhắm đảm bảo cho
các em đủ trình độ về chuyên môn, có đạo đức thì đều có thể học. Học bằng thu
nhập của gia đình mình với mức học phí được miễn giảm hoặc vay để học. Cụ
thể như ở Nghệ An, có một trường cao đẳng kỹ thuật của tỉnh phối hợp với Hàn
Quốc, học sinh chỉ đóng có 100.000 đồng học phí/ tháng, còn tỉnh bù thêm cho
mỗi học sinh 400.000 đồng/ tháng nhưng đào tạo em nào ra trường, các doanh
nghiệp nhận hết ngay. Chất lượng đầu ra rất tốt, như vậy rõ ràng duy trì học phí
với mức học phí 100.000 đồng như hiện nay thì không thể có chất lượng chuẩn
được. Do đó phải tiến tới chấm dứt việc đào tạo không đáp ứng được yêu cầu
của xã hội.
f) Phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý
Sinh viên tốt nghiệp đại học là sản phẩm của các trường đại học. Muốn
có sản phẩm tốt thì trước tiên những người tạo ra sản phẩm đó phải có “trình độ
sản xuất” đạt chuẩn. Nhưng theo đánh giá của Vụ ĐH và sau ĐH, trong năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status