ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
LÊ QUANG THIỀU
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ
TRUNG QUỐC THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
LÊ QUANG THIỀU
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ
TRUNG QUỐC THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60.31.02.06
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Kim Bảo
TRUNG QUỐC 10 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm quan hệ thƣơng mại Việt –Trung (2000- 2010)
2.1.1. Thƣơng mại song phƣơng phát triển nhanh
1
2.1.2. Vai trò của thƣơng mại biên giới ngày càng quan trọng
2.1.3. Thâm hụt thƣơng mại kéo dài và ngày càng nghiêm trọng
2.1.4. Cơ cấu hàng hóa trao đổi chậm đƣợc cải thiện
2.2. Một số nhận xét đánh giá chung
2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.3. Tác động của quan hệ thƣơng mại Việt – Trung tới nền kinh tế
Việt Nam
2.3.1. Tác động tích cực
2.3.1.1. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống người
dân các tỉnh biên giới phía Bắc
2.3.1.2. Thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế trong nước
2.3.2. Tác động tiêu cực
2.3.2.1. Nạn buôn lậu khó kiểm soát dẫn tới tiêu cực và tệ nạn xã hội
2.3.2.2. Hoạt động xuất nhập khẩu ảnh hưởng tới môi trường sinh thái
* Tiểu kết Chƣơng 2
Chƣơng 3. XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM-TRUNG QUỐC ĐẾN NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
3.1. Xu hƣớng phát triển quan hệ thƣơng mại Việt - Trung
3.1.1. Cơ hội và thách thức
3.1.1.1. Hòa bình và phát triển là xu thế chung của thời đại song vẫn còn
Khu mâu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc
ASEAN
: Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ NN&PTNT
: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CHND
: Cộng hoà nhân dân
CHXHCN
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNTB
: Chủ nghĩa tƣ bản
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
ĐCS
: Đảng Cộng sản
: Tƣ bản chủ nghĩa
TNCs
: Transational Corporations
Các công ty xuyên quốc gia
TPP
: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dƣơng
TW
: Trung ƣơng
USD
: Đô la Mỹ
WTO
: World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
từ Trung Quốc năm 2010
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bƣớc sang thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hóa kinh tế có những thay đổi sâu
sắc (sự chuyển dịch hàng hóa, vốn, lao động, công nghệ…gia tăng trong khi các luật
chơi quốc tế ngày càng chặt chẽ; gia tăng cạnh tranh toàn cầu trên mọi lĩnh vực; các
công ty xuyên quốc gia (TNCs) có vai trò chi phối trong chuỗi giá trị sản xuất và
kinh doanh toàn cầu; tình trạng biến đổi khí hậu tác động đến môi trƣờng mạnh mẽ)
buộc các nƣớc phải có những thay đổi chính sách phù hợp trong quan hệ kinh tế với
các nƣớc khác.
Sau khi gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), Trung Quốc nổi lên
nhƣ một cƣờng quốc kinh tế có sức hấp dẫn toàn cầu. Sự nổi lên của Trung Quốc,
một mặt, thách thức cạnh tranh đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, mặt khác,
tạo cơ hội cho hàng hóa các nƣớc có thể thâm nhập vào thị trƣờng lớn nhất thế giới
này. Điều đó sẽ tác động tới các nƣớc, buộc các quốc gia phải có những điều chỉnh
chính sách thích hợp trong quan hệ hợp tác với Trung Quốc.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nƣớc láng giềng gần gũi. Quan hệ kinh tế
thƣơng mại giữa hai nƣớc đã có lịch sử lâu đời. Trƣớc đây, hiện nay và trong
tƣơng lai Trung Quốc vẫn là một trong những đối tác chiến lƣợc quan trọng đối với
Việt Nam. Do vậy việc nhận diện đƣợc tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác
kinh tế thƣơng mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thập niên đầu của thế kỷ
XXI có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Thông qua hợp tác
thƣơng mại với Trung Quốc, Việt Nam có thể xây dựng một chiến lƣợc hợp tác
kinh tế lâu dài và có khả năng thích ứng nhanh với sự nổi lên của Trung Quốc.
Với những lý do trên, em lựa chọn đề tài ―Quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI‖ làm luận văn nghiên cứu, với mong
mối quan hệ hợp tác thƣơng mại Việt- Trung trong quan hệ kinh tế khu vực, đó là việc
thành lập Khu mâu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN (ACFTA). Theo tác giả Lê Tuấn
Thanh, việc ra đời ACFTA mà trong đó Việt Nam và Trung Quốc là những thành viên
tích cực có ý nghĩa thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa hai nƣớc, tạo điều kiện cơ sở hạ
tầng vùng biên giới hai bên phát triển, cải thiện đời sống của cƣ dân miền Tây, miền
Trung Trung Quốc và các khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam sẽ đẩy mạnh hợp tác
thƣơng mại, đầu tƣ giữa hai nƣớc. Cũng bàn về vấn đề này còn có bài viết Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc những tác động tới thương mại Việt Nam và đối
sách của Doãn Công Khánh(2010). Trong đó, tác giả đƣa ra những lƣu ý khi đặt vấn
đề hợp tác thƣơng mại với Trung Quốc, đồng thời gợi mở
8
những kiến nghị đối sách cho Việt Nam- với tƣ cách là một thành viên của ASEAN
trong quan hệ thƣơng mại với Trung Quốc
Trong bài viết Hợp tác và cạnh tranh kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc
trong bối cảnh quan hệ kinh tế quốc tế mới hiện nay của Trung Quốc (2005), tác giả
Nguyễn Văn Tuấn lại đề cập sâu tới khía cạnh so sánh lợi thế tiềm năng hai nƣớc,
trong đó đặt mối quan hệ kinh tế Việt- Trung trong mối quan hệ hợp tác kinh tế của
Việt Nam và thế giới. Từ đó đƣa ra nhận định về triển vọng hợp tác này.
Thứ ba, nghiên cứu quan hệ thương mại Việt- Trung trong bối cảnh mới.
Tác giả Doãn Công Khánh trong bài Phát triển quan hệ thương mại Việt NamTrung Quốc thành hình mẫu của quan hệ hữu nghị và hợp tác trong thế kỷ XXI
(2010) cho rằng, có thể phát triển mối quan hệ này thành kiểu mẫu về quan hệ hữu
nghị hợp tác thời kỳ mới. Bởi lẽ, quan hệ hợp tác kinh tế hai nƣớc đã có bƣớc phát
triển nhanh và ổn định từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX trên các mặt nhƣ quy
mô và tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa, cơ cấu hàng hóa
xuất khẩu, cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, cán cân thƣơng mại hai nƣớc…Để rộng
đƣờng phát triển hợp tác kinh tế thƣơng mại Việt- Trung, tác giả cũng đặt ra nhiều
vấn đề cần giải quyết và những định hƣớng lớn của Việt Nam. Đó là vấn đề chúng
kinh tế Việt- Trung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN- Trung Quốc (Kỷ yếu hội thảo);
Đoàn Văn Chỉnh (2010) với Quan hệ hợp tác giữa Quảng Ninh (Việt Nam) với Trung
Quốc; Nguyễn Quốc Trƣờng (2014), Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng: Chặng
đường đã qua, thuận lợi mới, khó khăn mới.
Nhìn chung, các nghiên cứu về quan hệ thƣơng mại Việt- Trung khá bao quát
và toàn diện, nhƣng chƣa đề cập sâu tới những nhân tố tác động tới mối quan hệ
này, chƣa đƣa ra những phân tích so sánh về cán cân thƣơng mại, cũng nhƣ chƣa
đánh giá triển vọng thƣơng mại hai nƣớc để có giải pháp kịp thời thúc đẩy phát triển
mối quan hệ này. Đó là những vấn đề sẽ đƣợc luận văn từng bƣớc giải quyết.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Quan hệ thƣơng mại Việt- Trung cũng đƣợc coi là một vấn đề hấp dẫn nhiều
học giả Trung Quốc. Tuy số lƣợng các bài viết về vấn đề này chƣa thực sự lớn
nhƣng đã phản ánh khá chân thật về tình hình thƣơng mại song phƣơng hai nƣớc.
Có thể chia làm ba hƣớng nghiên cứu nhƣ sau:
Thứ nhất, nghiên cứu đặc trưng thương mại Việt- Trung. Đi sâu phân tích
những đặc trƣng của thƣơng mại Việt- Trung để có cái nhìn khách quan thúc đẩy
giảm siêu, tiến tới cân bằng mâu dịch song phƣơng, đó là quan điểm của học giả
Phan Kim Nga- Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác- Viện KHXH Trung Quốc trong
bài viết Đặc trưng của thương mại Trung- Việt và phân tích nguyên nhân của nó
(2010). Trong đó tác giả nhấn mạnh vị trí thƣơng mại hai nƣớc, đặc biệt tỷ trọng
10
trong ngoại thƣơng của Việt Nam cao hơn nhiều so với Trung Quốc. Song cán cân
thƣơng mại hai nƣớc mất cân bằng nghiêm trọng, trong đó nhập siêu của Việt Nam
có xu thế tăng, thƣơng mại tăng trƣởng không ổn định.
Thứ hai, nghiên cứu quan hệ thương mại Việt- Trung trong bối cảnh phát
triển “hai hành lang, một vành đai” kinh tế và khu mậu dịch tự do ASEANTrung Quốc (ACFTA). Bàn về vấn đề phát triển ―hai hành lang, một vành đai‖
điểm phong phú về quan hệ hợp tác thƣơng mại Việt- Trung. Đó là những công
trình nghiên cứu vô cùng công phu, quý giá mà tác giả có thể tham khảo, kế thừa, là
cơ sở để hệ thống hóa quá trình phát triển quan hệ hợp tác thƣơng mại hai nƣớc
những năm cuối thế kỷ XX và 10 năm đầu thế kỷ XXI. Trên cơ sở kế thừa những
kết quả nghiên cứu kể trên của các công trình đi trƣớc, tác giả từng bƣớc bổ sung
và làm rõ thêm những vấn đề nghiên cứu về quan hệ thƣơng mại Việt- Trung, đó là
phân tích sâu về những nhân tố hiện tại và tƣơng lai tác động tới quan hệ thƣơng
mại Việt- Trung; ảnh hƣởng của quan hệ thƣơng mại Việt- Trung tới nền kinh tế và
đời sống xã hội của Việt Nam; đƣa ra các nhóm giải pháp từ phía Chính phủ và
doanh nghiệp nhằm từng bƣớc thúc đẩy phát triển quan hệ thƣơng mại Việt- Trung
và quan hệ hữu nghị hợp tác trên mọi phƣơng diện giữa Việt Nam và Trung Quốc
nói riêng và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, nâng cao vị thế của Việt
Nam trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu
3. 1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu thực trạng hợp tác thƣơng mại giữa Việt Nam và
Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỷ XXI.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực thƣơng mại hàng hóa giữa
Việt Nam và Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỷ XXI.
- Phạm vi giới hạn quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đại lục,
không bao gồm khu vực Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao.
3.3. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung: Nhận diện đặc điểm quan hệ thƣơng mại Việt- Trung trong
10 năm đầu thế kỷ XXI, dự báo triển vọng của mối quan hệ thƣơng mại này và gợi
mở một số chính sách cho Việt Nam.
Các nhiệm vụ nghiên cứu:
Nam (nhƣ chính sách mở cửa biên giới, đại khai phát miền Tây, chiến lƣợc đối tác
với các nƣớc láng giềng của Việt Nam và Trung Quốc....).
- Đứng từ góc độ Việt Nam, nghiên cứu quan hệ thƣơng mại hai nƣớc gắn với
yêu cầu hội nhập và tăng trƣởng của Việt Nam cũng nhƣ vấn đề tái cơ cấu nền kinh
tế trong nƣớc.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn áp dụng một số phƣơng pháp cụ thể là:
- Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, định lƣợng, định tính để đánh giá
điểm mạnh, điểm yếu của quan hệ kinh tế thƣơng mại hai nƣớc.
- Thống kê số liệu về kinh tế, thƣơng mại của Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu
trong khoảng thời gian 10 năm đầu thế kỷ XXI.
- Phƣơng pháp chuyên gia để chia sẻ ý kiến, nhận định về quan hệ kinh tế
thƣơng mại hai nƣớc.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm ba chƣơng:
13
Chƣơng 1: Lý luận chung về thƣơng mại quốc tế và những nhân tố ảnh hƣởng
đến quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Trung Quốc
Chƣơng 2: Đặc điểm quan hệ thƣơng mại Việt Nam- Trung Quốc 10 năm đầu
thế kỷ XXI và tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam
Chƣơng 3: Xu hƣớng phát triển quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc
đến năm 2020 và một số giải pháp gợi mở cho Việt Nam
thƣơng mại quốc tế. Đó là lý giải của nhà kinh tế học cổ điển ngƣời Anh David
Ricardo khi đƣa ra lý thuyết lợi thế so sánh trong tác phẩm nổi tiếng của mình
―Những nguyên lý của kinh tế chính trị‖, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn
về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thƣơng mại quốc tế vào năm 1817 [ 93]. Trong đó,
ông giải thích rằng, mọi nƣớc đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc
15
tế, bởi vì phát triển ngoại thƣơng cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một
nƣớc. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất
định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nƣớc khác thông qua con đƣờng
thƣơng mại quốc tế. Những nƣớc có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nƣớc
khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nƣớc khác, vẫn có thể và có lợi
khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nƣớc đều có những lợi thế
so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về
một số mặt hàng khác.
Vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết
lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thƣơng mại quốc tế
phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là
điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thƣơng mại quốc tế.
1.1.2. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
Văm 1990, giáo sƣ Michael Porter của Trƣờng Kinh doanh Harvard đã xuất
bản những kết quả nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu tại sao một số nƣớc lại
thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế, hay nói cách khác,
đó là cơ sở để hình thành lý thuyết cạnh tranh trong thƣơng mại. Porter và các cộng
sự đã nghiên cứu tổng cộng 100 ngành tại 10 quốc gia khác nhau. Nhiệm vụ cốt yếu
là giải thích đƣợc tại sao một quốc gia đạt đƣợc sự thành công quốc tế trong một
ngành cụ thể. Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia
hình thành nên môi trƣờng cạnh tranh cho các công ty tại nƣớc đó, và những thuộc
hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Sự
lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực
sản xuất vốn có nhƣ vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nƣớc kém và đang phát
triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và
trên cơ sở lợi ích thƣơng mại thu đƣợc sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trƣởng và phát
triển kinh tế ở những nƣớc này.
Nghiên cứu những lý thuyết chung về thƣơng mại quốc tế để thấy việc hình
thành bất kỳ mối quan hệ thƣơng mại song phƣơng hay đa phƣơng giữa các quốc
gia, các khu vực trên thế giới đều ít nhiều phải dựa trên những lý thuyết này, coi
những lý thuyết này là cơ sở để thực hiện quan hệ thƣơng mại. Quan hệ thƣơng
mại Việt- Trung cũng không là ngoại lệ, nó đƣợc xây dựng và phát triển dựa trên
những lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi thế tuyệt đối, lợi thế cạnh tranh, ....
17
1.2. Những nhân tố ảnh hƣởng tới quan hệ thƣơng mại Việt – Trung
1.2.1. Bối cảnh mới của quốc tế và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI
Những năm đầu thế kỷ XXI, xu hƣớng liên kết kinh tế toàn cầu và chủ nghĩa
khu vực ngày càng trở nên mạnh mẽ. Tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
đƣợc tăng cƣờng, biểu hiện rõ nhất ở xu thế ngày càng tăng của tự do hóa thƣơng
mại. Những lợi ích của tự do hóa thƣơng mại đã đƣợc chứng minh qua nửa thế kỷ
tồn tại của WTO, qua sự thành công của các nền kinh tế mới nổi (NIEs), các nƣớc
ASEAN, NAFTA. Các cuộc đàm phán thƣơng mại khu vực và toàn cầu diễn ra ở
nhiều cấp độ song phƣơng, đa phƣơng có tác dụng thực hiện tự do thƣơng mại, xúc
tiến đầu tƣ, hợp tác chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu suất thủ tục hải quan...
Bên cạnh đó, sự gia tăng liên kết kinh tế thế giới, sự lƣu chuyển tự do các nguồn vốn
khiến nền tài chính đang đƣợc quốc tế hóa, sự vận dụng và phát triển của thƣơng mại
điện tử đang làm cho khái niệm về không gian và địa điểm của thị trƣờng mất dần ý
nghĩa, làm cho nền kinh tế các nƣớc không chỉ liên hệ, giao lƣu mà còn đan xen, dung
nƣớc vùng sông Mê Công nhiều lần diễn ra nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kinh tế
ASEAN, tạo mặt bằng để thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các
nƣớc ASEAN. Việc tăng cƣờng hợp tác các quốc gia và các doanh nghiệp trong khu
vực GMS đã tạo mặt bằng đối thoại, xây dựng cầu nối hợp tác thúc đẩy tăng trƣởng
kinh tế và phồn vinh trong khu vực. Ngoài ra, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn ký kết
thành công Hiệp nghị khung về hợp tác kinh tế xuyên quốc gia Việt- Trung. Vì thế,
thông qua GMS, mối quan hệ thƣơng mại Việt- Trung ngày càng phát triển.
1.2.2. Vị trí địa lý và nguồn tài nguyên
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á- một trong những khu vực năng động
nhất thế giới về hoạt động thƣơng mại, với vị trí chiến lƣợc cửa ngõ giao thoa giữa
Trung Quốc và Đông Nam Á. Trung Quốc là nƣớc láng giềng có đƣờng biên giới
chung với Việt Nam dài hơn 1430 km, với 2 tỉnh (khu tự trị) là Quảng Tây và Vân
Nam tiếp giáp với 7 tỉnh biên giới của Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao
Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên. Tuyến biên giới này đƣợc coi là
cầu nối thƣơng mại trao đổi hàng hóa giữa hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nƣớc láng giềng có mối quan hệ truyền thống
lâu đời về chính trị -ngoại giao, kinh tế -thƣơng mại và giao lƣu văn hóa. Cùng với
những thăng trầm của lịch sử hai nƣớc, mối quan hệ thƣơng mại hai nƣớc cũng có
lúc thịnh lúc suy nhƣng chƣa bao giờ chấm dứt. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng nhƣ hiện nay, mối giao thƣơng hai nƣớc
19
càng có cơ hội phát triển. Hơn nữa, là quốc gia Đông Nam Á có tiềm lực phát triển
lớn, tốc độ phát triển của Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc trong khu vực châu Á
và đang trở thành điểm sáng về tăng trƣởng kinh tế ở Đông Nam Á. Do đó, với vị
thế địa lý và tiềm lực phát triển, Việt Nam đƣợc coi là cầu nối trong việc thiết lập
Khu mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN. Trong việc thúc đẩy thƣơng mại giữa
Bên cạnh đó, Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng,
là ƣu thế và tiềm năng để phát triển kinh tế. Tài nguyên đất và tài nguyên nông
nghiệp phong phú bởi nƣớc ta thuộc khí hậu nhiệt đới, có lợi cho nông nghiệp nhƣ
lúa gạo, cao su, chè, cà phê và các loại hoa quả nhiệt đới quý hiếm sinh trƣởng. Hai
đồng bằng màu mỡ của miền Nam và miền Bắc diện tích rộng lớn, là xứ sở của gạo,
nhất là đồng bằng sông Mê Kông với diện tích 50.000 km2, là một trong ba kho gạo
nổi tiếng trên thế giới, là thị trƣờng xuất khẩu lớn đầy triển vọng của nhiều quốc gia,
trong đó có Trung Quốc.
Chúng ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú, đặc biệt là tài nguyên
dầu khí, than và lân, trong đó dầu khí đã trở thành ngành trụ cột trong ngành công
nghiệp Việt Nam. Với nhiều vịnh thiên nhiên, Việt Nam đã xây dựng hơn 10 hải
cảng lớn, có lợi cho mở cửa đối ngoại, thu hút vốn đầu tƣ xây dựng khu chế biến
xuất khẩu. Ngoài ra, chúng ta có tài nguyên du lịch phong phú với nhiều danh lam
thắng cảnh nhƣ Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha đã đƣợc công nhận là di sản thiên
nhiên thế giới; Huế, Hội An và Mỹ Sơn cũng đƣợc xếp vào di sản văn hoá thế giới;
ven biển Việt Nam có nhiều bãi đẹp nhƣ Trà Cổ, Nha Trang, Vũng Tàu.... Trong
khi đó, Trung Quốc là quốc gia đông dân, tài nguyên mà ngƣời dân đƣợc hƣởng
bình quân đầu ngƣời thấp và ngày càng cạn kiệt cùng với tốc độ tăng trƣởng kinh
tế, không thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân. Nhƣ vậy, giữa hai nƣớc
Việt- Trung có sự tƣơng đồng về điều kiện địa lý và sự tƣơng hỗ về điều kiện tự
nhiên khiến cho mối quan hệ thƣơng mại càng trở nên cần thiết, mang tính bổ trợ và
thúc đẩy cùng phát triển.
1.2.3. Nền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc phát triển ổn định
Tình hình kinh tế xã hội ở Việt Nam kể từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới năm
1986, đặc biệt sau khi gia nhập WTO năm 2006 đến nay đã có những bƣớc thay đổi to
lớn, tốc độ tăng trƣởng kinh tế mạnh mẽ, bộ mặt đời sống kinh tế xã hội đƣợc cải thiện
rõ rệt, mức sống dân cƣ đƣợc nâng cao. Cùng với những lợi ích chung hƣởng từ nền
kinh tế thế giới sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng chịu nhiều tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 cũng nhƣ những tác động chung từ tình hình
biến động kinh tế toàn cầu. Nhƣng với nỗ lực của Chính phủ và toàn dân, đến năm
Gần 30 năm nay, hơn 100 nghìn ngƣời Việt Nam đã đến Liên Xô, các nƣớc Đông
Âu huấn luyện và đào tạo với chuyên môn và tay nghề cao [108]. Trong khi đó,
cùng với đà phát triển kinh tế ở Trung Quốc, điều kiện làm việc và đãi ngộ của
ngƣời lao động đƣợc cải thiện, trình độ giáo dục của họ cũng đƣợc nâng cao, nên
giá thành nhân công đƣợc đẩy cao. Do vậy, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã
22
chuyển hƣớng tìm thuê nhân công giá rẻ ở các thị trƣờng xung quanh. Lao động có
tay nghề và giá thành rẻ của Việt Nam hiện là lựa chọn số một của doanh nghiệp
Trung Quốc.
Nhìn chung, với nền tảng kinh tế xã hội phát triển và ổn định, mức sống
ngƣời dân tăng cao, ngƣời lao động có trình độ, doanh nghiệp mở rộng kinh doanh,
đa dạng hóa ngành nghề, là cơ hội tốt để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc,
cũng chính là điều kiện tốt để thúc đẩy phát triển ra bên ngoài, đẩy mạnh hợp tác
thƣơng mại với các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là nƣớc láng giềng có thị trƣờng
lớn nhƣ Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, những năm gần đây, kinh tế xã hội luôn giữ vững ổn
định và phát triển. Trung Quốc đang tiến vào giai đoạn tăng trƣởng mới sau cuộc
khủng hoảng tài chính quốc tế năm 2008. Con số thu nhập bình quân đầu ngƣời
tăng tuần tự hàng năm, nếu ở giai đoạn ―Kế hoạch 5 năm lần thứ X‖ (2002- 2006)
thu nhập thuần của ngƣời dân thành phố tăng 9,6%, của nông dân tăng 5,3% thì đến
―Kế hoạch 5 năm lần thứ XI‖ (2006- 2010), con số này đã tăng lần lƣợt là 10,2%
và 8,3% [139, tr.4 ]. Sang năm 2012, con số này vẫn duy trì ở mức lần lƣợt là 9,6%
và 10,7% [140, tr.4]. Xét về các chỉ tiêu then chốt phát triển kinh tế xã hội nhƣ phục
hồi kinh tế, khôi phục việc làm, ổn định giá cả, Trung Quốc đã bƣớc ra khỏi cái
bóng của cuộc khủng hoảng, tiến vào chu kỳ tăng trƣởng mới. Còn xét từ giai đoạn
phát triển của tiến trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và tiêu dùng của ngƣời dân,
Trung Quốc cũng bắt đầu tiến vào giai đoạn tăng trƣởng mới. Mặt khác, động lực