THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH Ô TÔ
Ở VIỆT NAM
I. Thực trạng phát triển của ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam
1. Lịch sử hình thành và phát triển ngành ô tô Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chính thức được khai sinh từ năm 1991
với sự xuất hiện của 2 công ty liên doanh là Mekong và VMC. Sau 17 năm, đến
nay đã có 11 doanh nghiệp FDI và 30 doanh nghiệp nội địa đang hoạt động với
tổng công suất thiết kế lên đến hơn 400.000 xe/năm. Ngoài ra, còn có 5 dự án
FDI đã được cấp phép và 10 dự án đầu tư trong nước đang xin giấy phép, chuẩn
bị thành lập. Như vậy, tính đến năm 2007 tổng công suất thiết kế của ngành ô tô
lên đến 500.000 xe/năm.
Trong khoảng thời gian phát triển của ngành ô tô, với những cố gắng của
Chính phủ, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, mặc dù còn nhiều chệch
choạc, vấp váp Việt Nam đã bắt đầu hình thành ngành công nghiệp sản xuất, lắp
ráp ô tô với 11 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong đó có mặt
hầu hết các tập đoàn sản xuất ô tô nổi tiếng thế giới và gần 30 doanh nghiệp sản
xuất, lắp ráp ô tô trong nước.
Trong số các doanh nghiệp đang hoạt động, hiệp hội các nhà sản xuất ô tô
Việt Nam (VAMA) được coi là nòng cốt của ngành ô tô Việt Nam. Hiệp hội
bao gồm 16 doanh nghiệp trong đó có 11 doanh nghiệp FDI và 5 doanh nghiệp
nội địa với công suất thiết kế 234.000 xe/năm.
Tuy nhiên, tất cả các doanh nghiệp trên mới chỉ làm công việc lắp ráp ô tô
từ nguồn linh kiện nhập khẩu là chủ yếu chứ chưa hề chế tạo ô tô. Hầu như các
sản phẩm được sản xuất ra đều được nhắm vào thị trường tiêu thụ nội địa, mà
thị trường ô tô Việt Nam còn rất nhỏ bé nên trong những năm qua các doanh
nghiệp lắp ráp ô tô chỉ tiêu thụ được khoàng 30.000 - 50.000 xe/năm, luôn luôn
đạt dưới 1/3 công suất thiết kế.
Từ khi được hình thành, ngành ô tô Việt Nam luôn được Nhà nước dành
cho những ưu đãi đặc biệt, tuy nhiên hoạt động của ngành này vẫn chưa đáp
ứng được sự mong đợi của Nhà nước. Trong những năm qua, sản lượng ô tô có
tăng nhưng rất ít. Tuy nhiên năm 2007 được xem là năm tăng trưởng thần kì của
mức tiêu thụ ô tô trên thị trường liên tục tăng cao và ổn định hơn. Đến năm
2005, tổng số lượng ô tô đang lưu hành là 0,89 triệu chiếc, tăng 3,6 lần so với
năm 1990.
Bảng 2 : Lượng ô tô lưu hành giai đoạn 1990 – 2006
Năm Tổng số (xe) Tăng hàng năm (xe) Tốc độ tăng (%)
1990 250.000 - -
1991 300.000 50.000 20.0
1992 290.000 -10.000 -3.3
1993 300.000 10.000 3.45
1994 320.000 20.000 6.67
1995 340.779 20.779 6.49
Nghiên cứu và phát triển(A)Thiết kế mẫu mã(B)Sản xuất linh kiện(C)Lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh(D)Khai thác thị trường tiếp thị(E)
1996 386.976 46.197 13.56
1997 417.768 30.792 7.96
1998 443.000 25.232 6.04
1999 465.000 22.000 4.97
2000 486.608 21.608 4.65
2001 557.092 70.484 14.48
2002 607.401 50.309 9.03
2003 675.000 67.599 11.13
2004 774.824 99.824 14.79
2005 891.104 116.280 15.01
2006 972.912 81.808 9.18
Nguồn: Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia
và tính toán của tác giả
4. Chuỗi giá trị của ngành ô tô
Nếu quá trình sản xuất kinh doanh phân chia thành những công đoạn gắn
chặt với nhau trên phạm vi toàn thế giới thì nó cũng tạo ra các chuỗi giá trị gắn
chặt với nhau trên phạm vi toàn thế giới. Trong chuỗi giá trị đó thì mỗi một
quốc gia sẽ đảm nhận một hoặc một số mắt xích. Trước tiên, chúng ta hãy xem
Trong bản quy hoạch tổng thể về phát triển ngành công nghiệp ô tô thì mục
tiêu đề ra đối với lĩnh vực sản xuất xe buýt, xe khách và xe tải là đáp ứng được
khoảng 40 – 50% nhu cầu thị trường trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội địa
hoá 40% vào năm 2005, đáp ứng trên 80% nhu cầu thị trường trong nước và đạt
tỉ lệ nội địa hoá 60% vào năm 2006. Hiện nay, số lượng xe khách, xe buýt do
các doanh nghiệp trong nước sản xuất đã đáp ứng được 30% nhu cầu thị trường
với tỉ lệ nội địa hoá tới 50%. Ngoài ra, Tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam
đã ký được hợp đồng xuất khẩu 300 chiếc xe buýt sang thị trường Dominica.
Đối với xe tải, các doanh nghiệp trong nước đã sản xuất lắp ráp đáp ứng được
85% nhu cầu thị trường và đạt tỉ lệ nội địa hoá khoảng 40%.
Mục tiêu của bản quy hoạch để ra đối với lĩnh vực sản xuất các loại xe du
lịch là phấn đấu đạt tỉ lệ nội địa hoá 20 – 25% vào năm 2005 và 40 – 45% vào
năm 2010. Việc đầu tư vào sản xuất xe du lịch chủ yếu do các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép thực hiện. Khi làm thủ tục xin cấp phép
đầu tư đã làm cam kết với Bộ kế hoạch đầu tư về tỉ lệ nội địa hoá đối với các
sản phẩm ô tô. Tuy nhiên, thực tế, tỉ lệ này đã không đạt được như đúng mục
tiêu đã đề ra vì sản lượng tiêu thụ các loại xe do doanh nghiệp FDI sản xuất và
lắp ráp khá ít, bình quân chỉ đạt 5.000 – 10.000 xe/năm, chưa đủ quy mô kinh tế
để có thể đầu tư sản xuất các loại linh phụ kiện một cách có hiệu quả.
Công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô tại Việt Nam là ngành mới nổi nên cơ
hội thì ít mà khó khăn thì nhiều, đặc biệt trong xu thế hội nhập và cạnh tranh
hiện nay. Trong hơn 10 năm qua, Chính phủ đã có chủ trương bảo hộ cho các
liên doanh sản xuất ô tô, những hãng đã đưa ra cam kết ban đầu là sẽ nội địa
hoá 30% - 40% sau 10 năm đầu tư vào Việt Nam. Tuy vậy, cho đến nay, không
một doanh nghiệp nào thực hiện đúng như cam kết đấy. Tỉ lệ nội địa hoá của
các liên doanh sản xuất ô tô tại Việt Nam là rất thấp, mới chỉ đạt khoảng 5% -
10% và chỉ cung cấp được vài sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như: bộ dây điện
trong xe, ghế ngồi, một số chi tiết bằng nhựa hoặc kim loại …
Phương pháp tính tỉ lệ nội địa hoá được sử dụng hiện nay là phương pháp
tính tỉ lệ nội địa hoá theo điểm, tức là toàn bộ phụ tùng linh kiện của một chiếc