1
Luận văn tốt nghiệp
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CỦA NGÂN
HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (NHPTVN).
2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
NHPTVN.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Phát triển Việt Nam ra đời và phát triển mà tiền thân là Quỹ Hỗ
trợ phát triển, trước đó là Tổng Cục đầu tư ra đời năm 1995. Cụ thể ba giai
đoạn đó là:
- Giai đoạn 1 ( từ ngày 01/01/1995 – 31/12/2000): Tổng Cục đầu tư ra đời
ngày 1 tháng 1 năm 1995 theo nghị định số 187/1994/NĐ – CP ngày 10 tháng
12 năm 1994 của Chính phủ, trực thuộc Bộ tài chính có nhiệm vụ giúp Bộ
trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài chính đầu
tư phát triển, tổ chức thực hiện việc cấp phát vốn ngân sách Nhà nước đầu tư
và vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với các dự án, mục tiêu, chương
trình theo danh mục do Chính phủ quyết định hàng năm.
- Giai đoạn 2 ( từ ngày 01/01/2000 – 30/06/2006): Theo nghị định của
Chính phủ số145/1999/NĐ – CP ngày 20 tháng 09 năm 1999 về tổ chức lại
Tổng Cục đầu tư thuộc Bộ tài chính bị giải thể và thành lập Quỹ Hỗ trợ phát
triển quốc gia ngày 1 tháng 1 năm 2000.
- Giai đoạn 3 ( từ 01/07/2006 – nay): Ngân hàng Phát triển Việt Nam (tên
giao dịch quốc tế: The Việt Nam Development Bank, viết tắt là VDB) được
thành lập trên cơ sở Quỹ Hỗ trợ Phát triển theo quyết định 108/2006/QĐ-TTG
của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/05/2006.
Ngân hàng Phát triển có trụ sở chính đặt tại thủ đô Hà Nội, có Sở giao
dịch, chi nhánh tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, văn phòng
đại diện trong và ngoài nước.
2
Luận văn tốt nghiệp
Ngân hàng Phát triển có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu,
pháp nhân của Ngân hàng Phát triển, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản
lý, trước Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về việc điều hành hoạt động
của Ngân hàng Phát triển theo nhiệm vụ, quyền hạn quy định như: tổ chức
triển khai thực hiện các nhiệm vụ; điều hành hoạt động và chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động; quy định về phân cấp các đơn vị trực thuộc; quy định
về lãi suất cho vay, lãi suất huy động vốn;…
Chức năng và nhiệm vụ của Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng: Phó
Tổng Giám đốc là người giúp Tổng Giám đốc điều hành một số lĩnh vực hoạt
động theo phân công của Tổng Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng
Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được Tổng Giám đốc phân công.
Chức năng của Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có bẩy thành viên là các
chuyên gia am hiểu về lĩnh vực tài chính, tín dụng, đầu tư…, hiểu biết về
pháp luật. Nhiệm vụ của Ban là kiểm tra việc chấp hành chủ trương, chính
sách, pháp luật…Kiểm tra hoạt động tài chính, giám sát việc chấp hành chế
độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán; thẩm định báo
cáo tài chính hàng năm; …kiến nghị với Hội đồng quản lý các biện pháp sửa
đổi, bổ sung, cải tiến hoạt động của Ngân hàng Phát triển.
Ban Kế hoạch – Tổng hợp: thuộc Ngân hàng Phát triển Việt Nam,có chức
năng tham mưu với Tổng Giám đốc trong công tác tổng hợp phân tích tình
hình kinh tế xã hội, thị trường tài chính tiền tệ, hoạch định các chiến lược phát
triển và các hoạt động của Ngân hàng Phát triển từng thời kỳ; tổng hợp giao
kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà
nước; báo cáo tổng hợp phân tích tình hình hoạt động của Ngân hàng Phát
triển theo định kỳ hoặc đột xuất.
4
Luận văn tốt nghiệp
Ban thẩm định: thuộc Ngân hàng Phát triển có chức năng tham mưu với
Tổng Giám đốc trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác thẩm định các
dự án sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.
Ban nguồn vốn: thuộc Ngân hàng Phát triển có chức năng tham mưu với
Ban kiểm soát
Bộ máy điều hành
Phạm Thị Quỳnh Kinh tế lao động 46B
Sở
gia
o
dịc
h
Ba
n
ph
áp
ch
ế
Tạ
p
chí
Hỗ
trợ
ph
át
tiể
n
Tr
un
g
tâ
m
ĐT
&
Tí
n
dụ
ng
xu
ất
kh
ẩu
Ba
n
QL
TS
&
X
D
CB
N
N
Ba
n
QL
V
N
N -
Q
H
QT
Ba
n
Ki
ươ
ng
Ba
n
T.c
hín
h –
K.t
oá
n –
K.
qu
ỹ
Ba
n
thẩ
m
đin
h
Ba
n
Kế
ho
ạc
h –
Tổ
ng
hợ
p
6
năm 2007 tăng lên 170 người ứng với 48%, số phần trăm tăng lên là 1%. Từ
Phạm Thị Quỳnh
Kinh tế lao động 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
năm 2006 đến 2007 tuy số lao động có tăng lên song cơ cấu lao động dường
như không thay đổi mà tương đối ổn định tại Hội sở chính. Trong khi đó, nếu
tính toàn hệ thống thì cán bộ, viên chức nam là 52% và nữ là 48%, tức là tổng
số lao động nam lại lớn hơn lao động nữ 4%. Như vậy, nhìn chung cơ cấu lao
động tại Hội sở chính là tương đối hợp lý và không có sự cách biệt nhiều giới
tính.
b) Cơ cấu nguồn lao động theo độ tuổi
Biểu 2.2: Biểu cơ cấu lao động theo độ tuổi
STT Chỉ tiêu
Hội sở chính
2005 2006 2007
1 Dưới 30 85 44% 123 46% 175 49%
2 30-40 52 27% 76 28% 104 29%
3 40-50 24 12% 40 15% 55 15%
4 Trên 50 32 17% 30 11% 23 6%
Qua bảng số liệu và qua biểu đổ về cơ cấu lao động theo độ tuổi, phần lớn
cán bộ, viên chức tại Hội sở chính là lao động trẻ: dưới 40 tuổi là 78% năm
2007 (trong đó dưới 30 tuổi là 49%), năm 2006 là 74% (dưới 30 là 46%). Số lao
động ở độ tuổi này tăng lên lien tục từ năm 2005 đến năm 2007, mỗi năm tăng
khoảng 2 đến 3% lao động dưới 30 tuổi. Số lao động trên 30 tuổi giảm cả về
quy mô và cơ cấu. Năm 2005 là 30 người xuống còn 23 người năm 2007 tức là
giảm từ 17% xuống còn 6%. Việc trẻ hóa đội ngũ cán bộ viên chức tạo khả năng
tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn, linh hoạt khi môi trường làm việc thay đổi và
chịu được áp lực làm việc cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với một nền kinh tế
đang phát triển nhanh chóng như ngày nay.
Việc trả lương cho cán bộ, viên chức phải phù hợp với các quy định của
Nhà nước về tiền lương, đảm bảo thu nhập đủ khuyến khích cán bộ, viên chức
nỗ lực làm việc và thực hiện theo quy chế tiền lương do Tổng Giám đốc ban
hành.
Phạm Thị Quỳnh
Kinh tế lao động 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
Theo Quyết định số 540/QĐ – NHPT ngày 18 tháng 10 năm 2007 và Quy
chế ban hành theo Quyết định số 40/ QĐ – NHPT ngày 3 tháng 2 năm 2004,
quan điểm về phân phối, quản lý tiền lương trong hệ thống NHPTVN như sau:
- Gắn phân phối, chi trả tiền lương với kết quả công việc và mức độ hoàn
thành nhiệm vị được giao toàn hệ thống NHPTVN và kết quả thực hiện toàn
đơn vị. Có xem xét đến các yếu tố đặc thù của các đơn vị ở các vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn khó hoàn thành nghiệp vụ.
- Việc quản lý quỹ tiền lương tại các đơn vị phải được sự thống nhất của
lãnh đạo đơn vị, cấp ủy, công đoàn cùng cấp. Tiền lương trả cho các bộ viên
chức căn cứ vào trình độ đào tạo, năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác, đảm
bảo khuyến khích, động viên cán bộ viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Quỹ tiền lương được chi trả trực tiếp cho cán bộ, không sử dụng quỹ
tiền lương vào mục đích khác.
- Tổng giám đốc khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ và có chế độ
khen thưởng thông qua tiền lương đối với cán bộ viên chức có tinh thần tự học
tập, đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn, nhằm ứng dụng, phát huy và có
sáng kiến, thành tích vào trong công việc hàng ngày.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách tiền lương của NHPTVN.
• Quan điểm trả lương của NHPTVN.
NHPTVN là đơn vị sự nghiệp và thuộc sự quản lý của Nhà nước. Là một
ngân hàng lớn và có các Chi nhánh tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước,
quy mô lao động vốn đã lớn lại càng lớn hơn. Dựa vào kết quả hoạt động, chênh
trình độ cao ứng với hệ số lương cao và được hưởng mức lương cao hơn. Đồng
thời vị trí của người đó trong tổ chức sẽ ngày một lớn. Người lao động cũng căn
cứ vào đó để thi nâng ngạch lương để nâng hệ số lương lên cao hơn.
Mặt khác trình độ cán bộ viên chức còn được thể hiện thông qua bảng xếp
loại thành tích công tác. Thông qua hệ số quy đổi thành tích xếp loại cá nhân (k)
theo A, B, C có thể đánh giá trình độ, hiệu quả công tác của từng cá nhân người
lao động đối với tổ chức. Hệ số quy đổi này căn cứ vào: Xếp loại của đơn vị và
xếp loại của cá nhân. Xếp loại đối với đơn vị được tiến hành theo quý 3 tháng 1
lần căn cứ vào:
- Hoàn thành về số lượng công việc giao đúng tiến độ;
Phạm Thị Quỳnh
Kinh tế lao động 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
- Chất lượng công việc đạt kết quả tốt;
- Ý thức, tổ chức, kỷ luật cán bộ viên chức trong đơn vị tốt, có tinh thần
phối hợp, hợp tác giữa các đơn vị để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Nếu đạt cả 3 chỉ tiêu xếp loại A, 2 chỉ tiêu xếp loại B, trường hợp còn lại
xếp loại C.
Đối với xếp loại thành tích cá nhân: Hàng quý, căn cứ vào kết quả xếp loại
của đơn vị, tổ chức tổng kết đánh giá và xếp loại cá nhân theo A, B, C.
Thâm niên, kinh nghiệm và trung thành
Thâm niên công tác có thể coi là một trong những thước đo về sự trung
thành của người lao động với nơi mà họ làm việc. Thâm niên công tác cũng
phản ánh kinh nghiệm của người lao động đó là nhiều hay ít. Người có thâm
niên cao thường là người có lòng trung thành và có nhiều kinh nghiệm. Họ vẫn
dụng những kinh nghiệm đó vào trong quá trình làm việc, cùng với sự hỗ trợ
của các kỹ năng chuyên môn, các thao tác của họ trở lên khéo léo, khả năng xử
lý tình huống tốt dẫn đến tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả làm việc.
Dựa vào đó, trong quá trình chấm điểm và xếp loại lao động, chắc chắn những
tăng lên đáng kể nhưng thu nhập thực tế của họ lại bị eo hẹp lại do chi phí cho
sinh hoạt chiếm tỷ trọng nhiều hơn với cùng một giỏ hàng so với thời điểm này
của năm trước.
Tuy nhiên ưu điểm khác của chính sách tiền lương là thông qua quy chế tiền
lương, tiền lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương, phụ cấp người lao động
biết được trình độ của mình thông qua hệ số lương, thấy được điều kiện lao
động của mình thông qua hệ số phụ cấp… Và đặc biệt Nhà nước còn thể hiện
vai trò Tổng công ty lớn của mình trong việc quản lý thống nhất lao động – tiền
lương và từ đó có tác động trở lại đối với thị trường lao động.
• Điều kiện làm việc
Tùy theo điều kiện lao động bình thường, độc hại mà người lao động làm
việc được hưởng các hệ số phụ cấp công việc, phụ cấp độc hại,… cao thấp khác
nhau. Cùng với đó trong luật lao động Việt Nam thì người làm việc trong môi
trường độc hại cũng có tuổi nghỉ hưu sớm hơn…
• Thị trường lao động
Phạm Thị Quỳnh
Kinh tế lao động 46B
13
Luận văn tốt nghiệp
Thị trường lao động ngày một phát triển song song với tốc độ phát triển kinh
tế. sức lao động thực sự đã trở thành hàng hóa và có sức cạnh tranh ngày càng
lớn. Nếu người sử dụng lao động tức các tổ chức và doanh nghiệp nào trả mức
giá cao hơn sẽ chiến thắng. Giá cả sức lao động ở đây chính là tiền lương mà
doanh nghiệp trả. Chính sách tiền lương của doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng
rất lớn từ thị trường lao động, vì nếu trả lương không nghiên cứu thông tin thị
trường thì doanh nghiệp sẽ đưa ra mức lương có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức
lương trên thị trường lao động, nếu như vậy dễ gây ra lãng phí nếu trả lương
quá cao. Tuy nhiên, để thu hút được lao động có chất xám thì căn cứ trên mức
lương của khối ngành tương tự trên thị trường lao động để trả cao hơn một chút
sẽ rất có lợi để thu hút nhân lực tài.
Phó Tổng giám
đốc
7.66 1.8 7445520
4 Đào Dung Anh
Phó Tổng giám
đốc
7.33 1.8 7124760
5 Đào Ngọc Thắng
Phó Tổng giám
đốc
7.33 1.8 7124760
6 Nguyễn Chí Trang
Phó Tổng giám
đốc
7.33 1.8 7124760
7
Nguyễn Thành
Chuân
Phó Tổng giám
đốc
7.66 1.8 7445520
Nguồn: Ban Tổ chức cán bộ NHPTVN
Các thành viên thuộc Hội đồng quản lý và nằm trong bộ máy lãnh đạo có
hệ số lương khá cao đã phản ánh được vị trí và tầm quan trọng của họ trong tổ
chức. Nhưng theo thang bảng lương này chưa thể phản ánh được hết sự đóng
góp của họ cho thành công của tổ chức, chưa thực sự xứng đáng với tài năng và
vai trò không thể thiếu của bộ máy lãnh đạo. Chủ tịch Hội đồng quản trị hệ số từ
8.2 – 8.5 và được áp dụng từ 1/10/2004; các thành viên chuyên trách Hội đồng
quản trị trừ Tổng Giám đốc có hệ số từ 7.33 – 7.66 và cũng áp dụng từ ngày
1/10/2004. Đây là hệ số cao nhất trong cơ cấu thang lương đối với công ty nhà
2.2.3.2 Phụ cấp lương
Viên chức, nhân viên làm việc tại NHPTVN được hưởng chế độ phụ cấp
lương theo quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ – CP như sau:
- Thành viên không chuyên trách Hội đồng Quản lý, thành viên Ban kiểm
soát (không kể trưởng Ban Kiểm soát) hưởng thụ phụ cấp trách nhiệm công việc
đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát Tổng công ty
nhà nước hạng đặc biệt quy định tại Thông tư 03/2005/TT – BLĐTBXH ngày
05 tháng 01 năm 2005 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn
thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm công việc trong công ty nhà nước theo
Nghị định số 205/2004/NĐ – CP.
Phạm Thị Quỳnh
Kinh tế lao động 46B
16
Luận văn tốt nghiệp
- Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và tương đương của Hội sở chính hưởng
phụ cấp chức vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng của Tổng công ty Nhà nước
hạng đặc biệt. Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và tương đương của Sở Giao
dịch và Chi nhánh tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hưởng phụ cấp
chức vụ theo hạng được xếp (ví dụ về chế độ phụ cấp của Trưởng Ban và Phó
Ban Tổ chức cán bộ NHPTVN được trình bày ở bảng 2.5 ở trên)
- Các chế độ phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp độc hại, nguy hiểm,
phụ cấp lưu động, phụ cấp thu hút và phụ cấp khu vực đối với viên chức, công
nhân, nhân viên làm việc tại NHPTVN thực hiện theo quy định tại các Thông tư
03/2005/TT – BLĐTBXH; Thông tư số 04/2005/TT – BLĐTBXH; Thông tư số
05/2005/TT – BLĐTBXH; Thông tư số 10/2005/TTLT – BNV – BLĐTBXH –
BTC và Thông tư số 11/2005/TTLT – BNV – BLĐTBXH – BTC – UBDT ngày
05 tháng 01 năm 2005 của Liên Bộ Nội vụ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội, Bộ Tài chính và Ủy ban Dân tộc.
Như vậy, việc thực hiện về xếp lương và các chế độ phụ cấp mà
NHPTVN thực hiện hoàn toàn áp dụng các Nghị định về thang lương, bảng