Phơng pháp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lu
động trong các doanh nghiệp
*********
1. Khái niệm và kết cấu tài sản lu động của doanh nghiệp:
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có t cách pháp nhân, hoạt động kinh
doanh trên thị trờng nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo Luật doanh
nghiệp của Việt Nam thì doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp
luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, tức là thực hiện một, một
số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh
doanh sau: kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn, công ty. Các doanh nghiệp ở
Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp t nhân.
Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều hớng tới
mục tiêu là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên để đạt đợc mục
đích này thì không phải là dễ, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trờng hiện nay. Mỗi
doanh nghiệp đều phải chịu sự tác động của hàng loạt các yếu tố nh: sự phát triển
của công nghệ tạo ra các phơng thức sản xuất, phơng thức quản lý mới; chịu sự
ràng buộc của hệ thống pháp luật bao gồm luật, các văn bản quy phạm pháp luật,
cơ chế quản lý tài chính để đảm bảo sự quản lý của Nhà nớc đối với các doanh
nghiệp; chịu sức ép của thị trờng cạnh tranh. Quá trình hoạt động cũng nh phơng
thức quản lý của mỗi doanh nghiệp khác nhau là khác nhau. Vì vậy mỗi doanh
nghiệp phải tự điều chỉnh hớng đi của riêng mình, đặc biệt muốn phát triển bền
vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trớc đợc sự thay đổi của môi tr-
ờng để sẵn sàng thích nghi với nó. Có nh vậy thì mới có thể ra đợc những quyết
định quản lý đúng đắn, kịp thời và đạt đợc mục tiêu của doanh nghiệp mình.
Điều quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp là hoạt động quản lý tài chính. Tài chính doanh nghiệp đợc hiểu là
các lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất của một doanh nghiệp. Quản lý và sử dụng
hợp lý các loại tài sản lu động (TSLĐ) có ảnh hởng rất quan trọng đối với việc hoàn
thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp đó.
Các doanh nghiệp cần phải quản lý tốt và có hiệu quả TSLĐ vì:
- TSLĐ có thời gian luân chuyển ngắn, thờng xuyên biến đổi, nhạy cảm với
những biến đổi của thị trờng, của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sử dụng TSLĐ có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Quản lý tốt TSLĐ sẽ góp phần giảm chi phí giá thành sản
phẩm và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
- Xác định nhu cầu tài sản lu động hợp lý trong mối tơng quan với nhu cầu
tài sản cố định, từ đó tránh đợc tình trạng d thừa hay thiếu hụt TSLĐ; sử dụng
TSLĐ một cách hợp lý, tiết kiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đợc bình thờng và liên tục.
- Việc quản lý TSLĐ giúp doanh nghiệp nắm bắt đợc tình hình về việc sử
dụng TSLĐ tại doanh nghiệp, từ đó dự báo và đề ra các kế hoạch về TSLĐ cũng
nh việc xác định nguồn tài trợ hợp lý cho TSLĐ của doanh nghiệp trong kỳ kinh
doanh.
1.3. Kết cấu tài sản lu động:
Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển:
- TSLĐ sản xuất: gồm tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất (nguyên, nhiên
vật liệu, công cụ, dụng cụ,đang dự trữ trong kho) và tài sản trong sản xuất (giá
trị sản phẩm dở dang).
- TSLĐ lu thông: gồm tài sản dự trữ cho quá trình lu thông (thành phẩm,
hàng hóa dự trữ trong kho hay đang gửi bán) và tài sản trong quá trình lu thông
(tiền, các khoản phải thu).
- TSLĐ tài chính: là các khoản đầu t tài chính ngắn hạn với các mục đích
kiếm lời (đầu t liên doanh, đầu t chứng khoán,).
Theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán:
- Ngân quỹ: bao gồm tiền mặt tại két, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
- Đầu t ngắn hạn: đầu t chứng khoán ngắn hạn và đầu t ngắn hạn khác.
hợp giữa chu kỳ của TSLĐ và kỳ hạn nguồn tài trợ. Có hai nguồn tài trợ chính cho
TSLĐ của một doanh nghiệp là:
Nguồn tài trợ ngắn hạn: bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng, tạo vốn bằng
cách bán nợ, chiết khấu thơng phiếu và các khoản vốn chiếm dụng của các đối t-
ợng khác nh các khoản thuế phải nộp nhng cha nộp, các khoản phải trả cán bộ
công nhân viên nhng cha đến hạn trả, các khoản đặt cọc của khách hàng, mua
chịu hàng hoá.
Nguồn tài trợ dài hạn: bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp ban đầu, vốn
huy động thêm bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, lợi nhuận giữ lại) và vay dài
hạn.
Mỗi nguồn tài trợ trên đều có u điểm và nhợc điểm riêng. Nếu sử dụng toàn
bộ là nguồn tài trợ dài hạn thì doanh nghiệp sẽ ít phải chịu rủi ro về khả năng
thanh toán, không phải chịu rủi ro về lãi suất huy động. Tuy nhiên huy động
nguồn tài trợ dài hạn doanh nghiệp phải chịu phí tổn cao vì chi phí huy động của
nguồn dài hạn thờng cao hơn nguồn ngắn hạn và có thể dẫn tới hiện tợng lãng phí
vốn khi cha tài trợ cho nhu cầu TSLĐ mới.
Ngợc lại nếu sử dụng nguồn ngắn hạn để tài trợ cho TSLĐ thì chi phí huy động
thấp hơn và tránh đợc những lãng phí khi không có nhu cầu mới. Nhng sử dụng
nguồn này doanh nghiệp lại phải đối mặt với những rủi ro về thanh khoản, rủi ro biến
động lãi suất. Do vậy các doanh nghiệp thờng sử dụng kết hợp cả hai nguồn trên để
tài trợ cho nhu cầu TSLĐ. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng thông thờng các doanh
nghiệp không chọn duy nhất một mô hình nào mà tuỳ từng thời kỳ doanh nghiệp sẽ
có sự lựa chọn phù hợp.
2. Phơng pháp đánh giá và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ:
2.1. Hiệu quả sử dụng TSLĐ:
Hiệu quả sử dụng TSLĐ là một phạm trù kinh tế phản ánh tình hình sử dụng
TSLĐ của doanh nghiệp để đạt đợc hiệu quả cao nhất trong kinh doanh với tổng chi
phí thấp nhất. Hiệu quả TSLĐ đợc biểu hiện tập trung ở các mặt sau:
Khả năng sử dụng tiết kiệm, hợp lý TSLĐ của doanh nghiệp càng cao và
càng tăng so với mức sử dụng chung của ngành và so với kỳ trớc đó. Việc sử dụng
Các chỉ tiêu của kỳ đợc so sánh với kỳ gốc lựa chọn đợc gọi là chỉ tiêu kỳ
thực hiện và là kết quả mà doanh nghiệp đã đạt đợc.
Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu đợc sử
dụng phải đồng nhất. Trong thực tế thờng điều kiện có thể so sánh đợc giữa các
chỉ tiêu kinh tế cần đợc quan tâm cả về mặt thời gian và không gian. Về mặt thời
gian thì các chỉ tiêu đợc tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán phải
thống nhất trên ba mặt: phải cùng phản ánh nội dung kinh tế, phải cùng một ph-
ơng pháp tính toán và phải cùng một đơn vị đo lờng. Về mặt không gian thì các
chỉ tiêu cần phải đợc quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tơng tự
nhau.
Thông thờng, ngời ta sử dụng các kỹ thuật so sánh sau:
- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân
tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lợng
quy mô của các hiện tợng kinh tế.
- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân
tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối
quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tợng kinh tế.
- So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối,
biểu hiện của tính chất đặc trng chung về mặt số lợng, nhằm phản ánh đặc điểm
chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính
chất. Tuỳ theo mục đích và yêu cầu của phân tích, tính chất và nội dung của các
chỉ tiêu kinh tế mà ngời ta sử dụng kỹ thuật so sánh thích hợp.
Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phơng pháp so sánh có thể thực hiện
theo ba hình thức:
- So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan hệ t-
ơng quan giữa các giữa các chỉ tiêu từng kỳ của các báo cáo kế toán tài chính, nó
còn đợc gọi là phân tích theo chiều dọc.
- So sánh theo chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định các tỷ lệ và
chiều hớng biến động giữa các kỳ trên báo cáo kế toán tài chính.
- So sánh xác định xu hớng và tính liên hệ của các chỉ tiêu: các chỉ tiêu riêng
Doanh thu
TSLĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết TSLĐ luân chuyển đợc mấy vòng trong kỳ. Nếu số
vòng quay tăng chứng TSLĐ luân chuyển với tốc độ cao, một điều rất có lợi cho
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nh vậy vòng quay TSLĐ càng tăng thì hiệu quả sử
dụng TSLĐ càng tăng và ngợc lại.
- Kỳ luân chuyển TSLĐ: là số ngày bình quân cần thiết để TSLĐ thực hiện
một vòng quay trong kỳ.
Kỳ luân chuyển TSLĐ
=
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay của TSLĐ trong kỳ
Với thời gian của kỳ phân tích đợc quy ớc là 1 năm tơng ứng với 360 ngày; 1
quý tơng ứng với 90 ngày; 1 tháng tơng ứng với 30 ngày. Thời gian của một vòng
luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn, hiệu quả sử dụng TSLĐ
càng cao. Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của trình độ kinh doanh, công tác
quản lý và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Khả năng sinh lời TSLĐ:
Khả năng sinh lời=
LNST
TSLĐ