KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 2010 - Pdf 69

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU
TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 2010
I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
1. Những quan điểm cơ bản.
Quan điểm 1: Đầu tư cho đổi mới công nghệ phải trở thành nhu cầu tự
thân và sống còn của các doanh nghiệp, của các ngành kinh tế muốn tiếp tục tồn
tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ở phần lớn các nước phát triển và những
nước đang có tiềm lực công nghệ và đổi mới công nghệ cao, doanh nghiệp
không chỉ là nơi tạo ra cung sản phẩm công nghệ. Để làm được điều này, các
doanh nghiệp (nhất là những doanh nghiệp có quy mô và tiềm lực lớn thường tự
tổ chức ra những đơn vị nghiên cứu và triển khai để thực hịên các hoạt động
khoa học công nghệ trực tiếp đáp ứng nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp. Sở dĩ
như vậy là vì các doanh nghiệp nhận thức được rằng trong kinh tế thị trường và
trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt,đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng nhanh
và hiệu quả những thành tưụ mới của KH&CN là giải pháp hữu hiệu nhất để các
doanh nghiệp có thể tồn tại, nâng cao năng lực cạnh tranh duy trì thị phần của
mình, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm và tiếp tục phát triển.
Các cơ chế và chính sách giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư đổi mới công
nghệ trong thời gian tới phải nhằm tạo ra một môi trường kinh tế vĩ mô có tính
cạnh tranh cao, sao cho "kích thích" được nhu cầu của chính các doanh nghiệp,
của toàn nền kinh tế trong việc đổi mới công nghệ. Nói một cách khác, có thể
coi môi trường cạnh tranh và sức ép cạnh tranh của hội nhập quốc tế là một
động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân
đầu tư cho đổi mới công nghệ. Kinh nghiệm để cho thấy, một khi môi trừơng
kinh tế vĩ mô vẫn tạo điều kiện để doanh nghiệp tồn tại nhờ bao cấp, bảo hộ
không chịu sức ép cạnh tranh, không cần phải đầu tư đổi mới công nghệ thì các
cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển KH&CN cũng như ứng dụng công nghệ
cho dù là có tốt đến mấy cũng sẽ không thể phát huy tác dụng. Kinh nghiệm của
nhiều ngành kinh tế và doanh nghiệp thành công trong thời gian qua cho thấy
việc mạnh dạn đầu tư cho công nghệ, nghiên cứu đổi mới công nghệ trong sản

công cụ dể đảm bảo phải thực hiện các nghĩa vụ được các luật pháp quy định.
Chính vì vậy, để thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ nhà nước cần một mặt tập
trung tạo môi trường luật pháp thuận lợi, ban hành những cơ chế , chính sách
khuyến khích (hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm để tác động có hiệu quả tới hành
vi của các nhà đầu tư, tạo điều kiện hình thành thị trường sản phẩm công nghệ.
Nói cách khác, trong bối cảnh hiện nay, nhà nước chủ yếu đóng vai trò xúc tác ,
hỗ trợ chứ không nên thay đổi doanh nghiệp trực tiếp đầu tư cho nghiên cưú đổi
mới công nghê.
Quan điểm 4: Cơ chế, chính sách giải pháp thúc đẩy đầu tư đổi mới công
nghê phải gắn với việc nâng cao năng lực tiếp thu, sử dụng các sản phẩm công
nghệ.
Yếu tố công nghệ là rất quan trọng, nhưng không phải cứ có công nghệ là
sẽ giải qyết hết những khó khăn của doanh nghiệp và nền kinh tế không phải
công nghệ cao và hiện đại lúc nào cũng đi kèm với hiệu quả kinh tế, nói cách
khác,có công nghệ cao phải đi liền với công nghệ có nguồn nhân lực thích hợp
để hấp thụ và sử dụng một cách có hiệu quả công nghệ thì tác động của yếu tố
công nghệ đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
đảm bảo. Chính vì vậy, các cơ chế chính sách và giải pháp thúc đẩy đầu tư đổi
mới công nghệ một mặt phải đảm bảo để các sản phẩm của công nghệ sản xuất
trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài được các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp
quàn chúng biết đến có khẳ năng tiếp cận. Mặt khác, phải có biện pháp kết hợp
đào tạo, bồi dưỡng nhân lực của doanh nghiệp và của toàn bộ xã hội sao cho họ
có đủ năng lực và trình độ để ứng dụng hiệu quả công nghệ được đầu tư.
Quan điểm 5: Việt Nam có tới 70% dân số sống ở nông thôn, đồng thời
các doanh nghiệp ở Việt Nam phần lớn có quy mô trình độ công nghệ yếu. Vì
vậy, các cơ chế , chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong thời gian tới cần
chú ý nhóm đối tượng này, đồng thời góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
nông ngiệp sang cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá-
hiện đại hoá.
Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều

chuyển biến rõ rệt về năng suất chất lựơng và hiệu quả ở một số nghành kinh tế
quan trọng.
Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật trong nghành
nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm nhằm phát
huy có hiệu quả nguồn tài nguyên sinh học nhiệt đới, nâng cao giá trị gia tăng
và sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu ngay bằng các nước có nền nông
nghiệp phát triển trong khu vực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn, tạo nhiều việc làm, cải thiện đáng kể đời sống nhân dân và bộ mặt nông
thôn nước ta vào năm 2010.
Hỗ trợ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực tiểu thủ công nghệp
đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu trong nứơc đã mở rộng xuất khẩu.
Nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ, thích nghi và cải tiến các công nghệ
hiện đại từ nước ngoài trong một số lĩnh vực dịch vụ, kết cấu hạ tầng (tài chính,
ngân hàng,bưu chính, viễn thông, giao thông vận tải, hàng không...) nhằm đảm
bảo sự tương hợp quốc tế, hội nhập thành công vào nền kinh tế khu vực và thế
giới.
Xây dựng và phát triển có trọng điểm một số ngành công nghệ cao; phát
triển công nghiệp công nghệ thông tin-truyền thông, công nghệ sinh học trở
thành các ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, đáp ứng ngày càng
cao nhu cầu trong nước, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.
c, Xây dựng và phát triển năng lực khoa học và công nghệ đạt trình độ
trung bình tiên tiến trong khu vực.
Bảo đảm tốc độ tăng tỷ lệ đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách
nhà nước phải lớn hơn tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh
đa dạng hoá các nguồn đầu tư ngòai ngân sách nhà nước cho KH&CN, phấn
đấu đưa tổng mức đầu tư của toàn bộ xã hội cho KH&CN đạt 1.5%GDP vaò
năm 2010.
Phát triển nguồn nhân lực KH&CN có chất lượng cao, có cơ cấu trình độ,
chuyên môn phù hợp với các hướng KH&CN ưu tiên với nhu cầu phát triển

bạch về chế độ, chính sách khuyến khích đầu tư, đảm bảo sự bình đẳng trong
hưởng thụ các chính sách khuyến khích đầu tư, trong tiếp cận các nguồn lực và
cơ hội đầu tư kinh doanh cho mội loại hình doanh nghiệp. Trước mắt cần giảm
các ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước xem xét lại chính sách bảo hộ hợp lý
sản xuất trong nước, trong đố có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam.
- Thông qua luật cạnh tranh đồng thời xây dựng cơ chế kiểm soát độc
quyền, chống độc quyền doanh nghiệp và giám sát có hiệu quả đối với các
doanh nghiệp có ưu thế độc quyền nhằm hình thành khuôn khổ pháp luật về
chính sách cạnh tranhvà kiểm soát độc quyền phù hợp với luật pháp kinh tế.
- Tiếp tục thúc đẩy quá trình hội nhập, mở rộng quan hệ quốc tế và mở
rộng lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chỉ thực thi chính sách
bảo hộ "hợp lý " có điều kiện và thời hạn đối với một số sản phẩm trong nước,
coi đây là nguồn quan trọng trong đổi mới công nghệ, vừa là yếu tố tạo nên áp
lực buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới đổi mới công nghệ để nâng cao
sức cạnh tranh trong bối cảnh quốc tế ngày càng cao. Đặc biệt, cần soát xét lại
chính sách, biện pháp đầu tư nước ngoài, đáp ứng mục tiêu nâng cao năng lực
công nghệ của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lẫn doanh nghiệp Việt Nam
thông qua chuyển giao công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo kỹ năng công
nghệ, nghiên cứu triển khai, đầo tạo kỹ năng công nghệ và quản lý, tránh bằng
"chạy theo lao động rẻ " trong thu hút đầu tư nước ngoài.
- Đẩy nhanh thực hiện một mặt bằng pháp lý và điều kiện đầu tư chủ yếu
cho các doanh nghiệp thuộc mọi thnàh phần kinh tế. Sớm sửa đổi bổ sung luật
doanh nghiệp để áp dụng chung cho việc tổ chức và hoạt động của mọi loại hình
doanh nghiệp, xây dựng luật khuyến khích đầu tư chung cho mọi thành phần
kinh tế trên cơ sở luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư trong
nước.Trước mắt, cần tiếp tục hoàn thiện văn bản pháp quy dưới luật nhằm thực
hiện đồng nhất các chế độ về thuế, giá thuế đất, giá cước dịch vụ, điện nước,
cước phí vận chuyển, quy định rõ ràng và thống nhất các dự án được ưu tiên đối
với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status