Thực trạng hoạt động kinh doanh của ngành
dệt may Việt Nam
2 .1 Vai trò và đặc điểm của ngành Dệt May Việt Nam.
2 .1.1.Vai trò.
Công nghiệp dệt may là ngành có ý nghĩa trọng tâm trong giai đoạn chuyển đổi
của Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng. Dệt
may là một phần cấu thành quan trọng trong chính sách địng hớng xuất khẩu của đất nớc,
và nói một cách chung hơn, là một trong những nỗ lực của Việt Nam để hòa nhập vào nền
kinh tế quốc tế.
Công nghiệp dệt may tất yếu là một trong các ngành chủ yếu xuất khẩu trong
giai đoạn đầu phát triển của các nớc, xuất khẩu hàng dệt may đem lại nguồn thu ngoại
tệ để mua máy móc thiết bị, hiện đại hoá sản xuất làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh.
Sự thành công về xuất khẩu trong ngành này thờng mở đờng cho sự xuất hiện của
một chiến lợc phát triển định hớng xuất khẩu có cơ sở rộng hơn. Sự thất bại về xuất
khẩu của ngành này bao giờ cũng là triệu chứng của những trở ngại có tính thâm căn
cố đế trong nớc và sự bất lực, không phát huy đợc lợi thế so sánh tiềm năng.
Quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nớc, trong giai đoạn phát triển dệt may thờng
đóng vai trò chủ đạo, nó có khả năng tạo nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động,
tăng thu lợi nhuận để tích luỹ làm tiền đề cho phát triển các ngành công nghiệp khác,
góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hình chính trị xã hội.
Ngành dệt may là ngành có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các ngành
công nghiệp khác, khi dệt may là một trong những ngành hàng đầu của nền kinh tế nó
sẽ cần một lợng lớn nguyên liệu là sản phẩm của các lĩnh vực khác và vì thế sẽ tạo
điều kiện để đầu t phát triển các ngành công nghiệp này.
Tại các nớc đang phát triển hiện nay, công nghiệp dệt may đang góp phần phát
triển nông nghiệp và nông thôn qua việc sản xuất các loại nguyên liệu dệt nh bông,
đay, tơ tằm và là phơng tiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang
kinh tế công nghiệp, ở các nớc công nghiệp phát triển, công nghiệp dệt may đã phát
triển đến trình độ cao hơn, dáp ững nhu cầu ngày càng cao, đa dạng, phong phú của
ngời tiêu dùng.
2 .1.2 . Đặc điểm
sản phẩm vì ngời tiêu dùng không chỉ tính đến giá cả mà còn rất coi trongj chất lợng
sản phẩm.
+Trong buôn bán các sản phẩm dệt may cần chú ý đến yếu tố thời vụ. Phải căn
cứ vào chu kỳ thay đổi thời tiết trong năm ở từng khu vực thị trờng mà cung cấp hàng
hoá cho phù hợp. Điều này cũng liên quan đến thời hạn giao hàng.
Thói quen tiêu dùng cũng là một đặc điểm cần lu ý trong buôn bán hàng dệt may
vì nó ảnh hởng trực tiếp đến vấn đề tìm thị trờng tiêu thụ chio sản phẩm.
-Về sản xuất: Công nghiệp dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn,
vốn đầu t ban đầu không quá lớn nhng lại có tỷ lệ lãi cao. Chính vì vậy, sản xuất dệt
may thờng phát triển mạnhvà có hiệu quả rất lớn đối với các nớc đang phát triển và
đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, khi một nớc trở thành nớc công
nghiệp phát triển có trình độ công nghệ cao, sức cạnh tranh trong sản xuất hàng dệt
may giảm thì họ lại vơn tới những ngành công nghiệp khác có hàm lợng kỹ thuật cao,
tốn ít lao động và đem lại nhiều lợi nhuận. Công nghiệp dệt may lại phát huy vai trò
của mình ở các nớc kém phát triển hơn. Lịch sử phát triển của ngành dệt may thế giới
cũng là lịch sử chuyển dịch của công nghiệp dệt may từ khu vực phát triển sang khu vực
kém phát triển hơn do sự chuyển dịch về lợi thế so sánh. Nh vậy không có nghĩa là sản
xuất dệt may không còn tồn tại ở những nớc công nghiệp phát triển mà thực tế ngành này
tiến đến giai đoạn cao hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Trong những năm gần đây, sản xuất dệt may của Việt Nam đã có những tiến bộ
nhất định và đang cố gắng để hoà nhập với lộ trình của ngành dệt may thế giới.
-Về thị trờng: Các sản phẩm dệt may là một trong những mặt hàng đợc bảo hộ
chặt chẽ. Trớc khi Hiệp định về hàng dệt may - kết quả quan trọng của vòng đàm phán
Uruguay ra đời và phát huy tác dụng, việc buôn bán quốc tế các sản phẩm dệt may đợc
điều chỉnh theo các thể chế thơng mại đặc biệt và nhờ đó phần lớn các nớc nhập khẩu
thiết lập các hạn chế số lợng để hạnh chế hang dệt may nhập khẩ. Mặt khác, mức thuế
phổ biến đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác.
Tất cả những rào cản đó ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may thế
giới.
2 .2.Thực trạng của ngành dệt may Việt Nam
đạt 75% của năm 1985 và chỉ bằng 90% của năm 1990. Sản lợng ngành may tăng
vững chắc hơn, mặc dù tốc đọ tăng thấp hơn so với tỷ lệ tăng trởng đợc thể hiện thông
qua các số liệu xuất khẩu (xem bảng 1)
Bảng 1: Sản lợng của ngành dệt may 1991-1997.
Mặt hàng 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
-Số liệu về sản lợng sản phẩm.
Sợi (1000 tấn) 40 44 38 44 50 57
Vải (triệu mét) 180 272 215 228 221 281
Quần áo (triệu cái) 100 104 91 121 127 200
-Giá trị tổng sản lợng
(tỷ đồng- giá cố định)
Dệt 2.859 3.800 5.278 6.853 9.361 10518 11317
May 585 700 1.350 3.411 3.411 4.270 5.125
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ công nghiệp.
2 .2.2 . Về loại hình sở hữu:
Đối với ngành dệt, doanh nghiệp Nhà nớc chiếm khoảng 60% tổng sản lợng của
ngành năm 1996, trong khi đó doanh nghiệp t nhân chiếm khoảng 24% và đầu t nớc
ngoài chiếm khoảng 16% .
Ngành may, đầu t nớc ngoài chiếm một tỷ lệ tơng tự là 15 %, trong khi đó doanh
nghiệp t nhân có vị trí quan trọng hơn chiếm 49% và doanh nghiệp Nhà nớc chiếm
36% . Nét đặc trng không bình thờng của tỷ trọng chia theo loại hình sở hữu đó là khu
vực t nhân chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong ngành dệt may của Việt Nam. Tại phần lớn các
nớc có nền kinh tế thị trờng , khu vực này thờng chi phối ngành công nghiệp dệt may.
Đồng thời vẫn còn có sự tồn tại của bộ phận lớn doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam,
điều này phản ánh dấu tích một thời của nền kinh tế kế hoạch tập trung cùng với
những tính chất cũ của chúng trong thời kỳ đổi mới. Nh vậy, việc cải cách doanh
nghiệp nhằm tạo điều kiện cho khu vực t nhân phát triển một cách hiệu quả là một
trong những thách thức lớn của ngành dệt may.
2 .2.3 . Đầu t nớc ngoài :
theo hai hình thức Liên doanh và 100% vốn nớc ngoài. Với u thế đầu t của 17 nớc,
trong đó có Đài Loan đứng đầu với 23 dự án với tổng số vốn đầu t 56,43 triệu USD,
Hàn Quốc 14 dự án với tổng số vốn đầu t là 21,843 triệu USD, Nhật Bản 10 dự án với
tổng số vốn đầu t 20,374 triệu USD, Hồng Kông 11 dự án với số vốn đầu t 19, 206
triệu USD, Đức 4 dự án với vốn đầu t 29,058 triệu USD.
Các dự án may cũng nằm chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, trong đó thành phố Hồ
Chí Minh đứng đầu với 40 dự án với tổng số vốn đầu t 104, 397 triệu USD; Đồng Nai
12 dự án với tổng số vốn đầu t 36,679 triệu USD; Bình Dơng 8 dự án với số vốn đầu t
16,2 triệu USD. . .
2 .2.4 Về thiết bị
Ngành dệt hiện có 868.000 cọc sợi, cả sợi bông và sợi pha (bông pha với xơ PE)
với chỉ số Nm (Chỉ số Quốc tế ) tử sợi Nm10 đến Nm102 bao gồm cả sợi chải kỹ,
43200 máy dệt, trong đó các xí nghiệp Quốc doanh T.W quản lý 11000 máy, xí nghiệp
Quốc doanh địa phơng - 3200 máy và Hợp tác xã t nhân 29000 máy, các thiết bị
nhuộm hoàn tất có thể nhuộm 450 m / năm với các loại vải từ nguyên liệu dệt khác
nhau và các công nghệ nhuộm cũng nh công nghệ in hoa khác nhau, các thiết bị dệt
kim có thể sản xuất 20900 tấn sản phẩm / năm, bao gồm 19500 tấn dệt kim tròn / năm
và 1400 tấn dệt kim dọc/năm .
Tuy nhiên, phần lớn số thiết bị ngành dệt hầu hết đã rất cũ và sự thiếu đồng bộ
giữa các khâu. Thiết bị dệt còn quá ít so với thiết bị kéo sợi phần lớn lại là máy dệt
thoi khổ hẹp, chủng loại nghèo nàn, vải làm ra không đáp ứng nhu cầu thị trờng Về
thiết bị kéo sợi cũng có tới hơn 60% là cọc sợi chải thô, chỉ số chất lợng bình quân
thấp chỉ có khoảng 26-30% là cọc sợi chải kỹ chỉ số cao dùng cho dệt kim và vải cao
cấp dây chuyền nhuộm hoàn tất cũng đã lạc hậu phần lớn là thiết bị khổ hẹp, tiêu hao
nhiều hoá chất, thuốc nhuộm, dẫn đến chi phí cao.
Trong khi đó, trang thiết bị ngành may đã tăng nhanh cả về số lợng và chất lợng,
nhất là về tính năng công dụng, từ máy đạp chân C22 của Liên Xô cũ, máy 8322 của
Đức đến JUKI của Nhật Bản và FFAP của CHLB Đức. Số máy chuyên dùng cũng tăng
lên đáng kể để đáp ứng với yêu cầu của sản xuất và của chủng loại mặt hangf nh máy
vắt năm chỉ, máy thùa đính, trần dầy pasant, may cạp bốn kim, bàn là treo, bàn là hơi
Trung
Quốc
Inđônêxia Malaixia Hàn
Quốc
Đài
Loan
Singapore
1992 210 - 720 2.970 8730 10380 8610
1993 340 - 730 3.100 9590 10710 8820
1994 370 420 760 3.440 10550 10960 9990
1995 450 500 930 3.810 12930 11620 11190
1996 550 540 940 3.990 11270 11460 11430
1997 650 550 980 3.840 11230 11120 10890
1998 690 570 330 2.780 7820 10260 10210
Bảng 3: Giá trị gia tăng theo lao động (giá so sánh-USD)
Năm Việt
Nam
Trung
Quốc
Inđônêxia Malaixia Hàn
Quốc
Đài
Loan
Singapore
1992 520 1400 3000 6800 24100 21600 14060
1993 570 2260 3600 7260 24090 22300 13960
1994 990 1580 4600 8750 29900 20000 14840
1995 1380 1490 3900 9890 37870 20300 16230
1996 1720 1490 4000 10450 37210 22500 16270
1997 1720 1650 3700 10700 33160 22900 16190