MỤC LỤC CỦA LUẬ
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT
VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
Khái niệm và mục đích của hình phạt tù
Bản chất pháp lý và điều kiện áp dụng hình phạt tù
Khái niệm, mục đích và bản chất của thi hành hình phạt tù
Điều kiện, trình tự thủ tục thi hành hình phạt tù
Điều kiện thi hành hình phạt tù
Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tù
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ VÀ
2.1.
Sơ lược quá trình phát triển các quy định pháp luật về hìn
phạt tù và thi hành hình phạt tù từ năm 1945 đến nay
Quá trình phát triển các quy định về hình phạt tù trong luậ
hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Quá trình phát triển các quy định pháp luật về thi hành hìn
hình phạt tù
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, Nhà nước ta
dùng nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý… vừa có
tính thuyết phục, vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh với những hành vi vi
phạm pháp luật và tội phạm. Các biện pháp này đan xen hỗ trợ nhau và tùy
thuộc vào yêu cầu cụ thể của công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm
trong từng thời kỳ mà biện pháp này hay biện pháp kia được đặt lên hàng đầu.
Trong các biện pháp đấu tranh đó, hình phạt tuy không phải là biện pháp đầu
tiên, biện pháp quyết định, nhưng nó giữ một vai trò rất quan trọng.
Hình phạt là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được qui định
trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội theo thủ tục do
luật định, để tước hoặc hạn chế một số quyền hay lợi ích đối với người bị kết
án. Hình phạt có mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án trở thành người có
ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống xã
hội, phòng ngừa họ phạm tội mới và phòng ngừa những người khác phạm tội
(thực hiện việc răn đe và phòng ngừa chung). Hình phạt còn giáo dục mọi
người tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Trong lịch sử pháp luật hình sự các nước trên thế giới, lịch sử pháp
luật Việt Nam, hình phạt đã thực sự trở thành công cụ, một phương thức có
hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Nhà nước coi hình
phạt như là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của xã hội của Nhà nước.
"Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ
mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó" (C.Mác).
Hiện nay, đất nước ta trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập và giao lưu quốc tế thì hình
phạt tù cần được nghiên cứu để làm rõ mục đích tính chất, tác dụng, hiệu quả của
hình phạt tù, quy định đầy đủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm;
2
quy định khung hình phạt tương xứng với từng tội phạm cụ thể; làm rõ điều kiện
áp dụng và thi hành hình phạt tù. Từ đó, cần đề ra những kiến nghị có cơ sở khoa
học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt tù.
Xét xử đúng, khách quan là vô cùng quan trọng song các bản án không
thi hành được hoặc thi hành không đúng thì lao động của toàn bộ hệ thống cơ
quan điều tra, truy tố, xét xử và các hoạt động bổ trợ tư pháp khác mất hết ý
nghĩa. Thi hành hình phạt tù là hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo hiệu lực của
các bản án, quyết định của Tòa án góp phần đảm bảo quyền con người, quyền
công dân; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Hiệu lực và hiệu quả của
toàn bộ hệ thống tư pháp thể hiện ở giai đoạn thi hành án. Đây là hoạt động hành
chính tư pháp phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt
là quyền của con người, do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp tổ
chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định phạt tù của Tòa án có hiệu
lực pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, thi hành án phạt tù hiện
nay còn chưa được nhận thức một cách thống nhất. Thực tiễn thi hành hình phạt
tù vẫn còn nhiều tồn tại như: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật nhưng không được thi hành; người bị kết án tù, bản án đã có hiệu lực pháp
luật nhưng họ vẫn chưa đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam; việc quản lý
người bị kết án được hoãn hay tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù còn để xảy ra
nhiều đối tượng lợi dụng bỏ trốn. Công tác quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân
trong các trại giam còn nhiều yếu kém, sơ hở, vi phạm, để phạm nhân phạm tội
trong trại giam, trốn trại vẫn còn xảy ra, nhiều đối tượng sau khi ra khỏi trại giam
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên nói lên tính cấp thiết của việc
nghiên cứu đề tài: "Hình phạt tù và thi hành hình phạt tù - Những vấn đề lý
luận và thực tiễn" và cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài này làm luận
văn thạc sĩ Luật học.
2.
Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học, sách báo pháp lý
chuyên ngành trong nước nghiên cứu ở các mức độ và các bình diện khác
nhau về đề tài hình phạt và hệ thống hình phạt như: "Hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam" của tập thể tác giả Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ
4
Tư pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995; "Tội phạm học, luật hình sự
và tố tụng hình sự" của tập thể tác giả do GS, TSKH Đào Trí Úc chủ biên,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995; Luận án tiến sĩ Luật học: "Các hình
phạt chính trong luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Sơn; một số luận văn
thạc sĩ Luật học viết về đề tài hình phạt như: "Hệ thống hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Vĩnh; "Hệ thống hình phạt trong luật
hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Đặng Đức Thạo;
"Những vấn đề về hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" của
Nguyễn Phi Hùng; "Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam" của Lê
Văn Hường… Ngoài ra cũng có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên
ngành về vấn đề này.
Đề tài thi hành hình phạt tù đã được nghiên cứu trong một số công
trình khoa học như: Sách chuyên khảo "Pháp luật thi hành án hình sự Việt
Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", của GS.TS. Võ Khánh Vinh và
tiễn của hình phạt tù, thi hành hình phạt tù theo pháp luật hình sự, tố tụng
hình sự và thi hành án hình sự Việt Nam, từ đó xác định những bất cập, hạn
chế để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao
hiệu quả áp dụng hình phạt tù và thi hành hình phạt tù nhằm đảm bảo công lý,
công bằng xã hội, cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
-
Bằng cách tiếp cận tổng thể từ cái chung đến cái cụ thể, đi từ lý luận
đến đánh giá thực tiễn xét xử, tác giả làm rõ khái niệm, mục đích của hình
phạt tù, vai trò ý nghĩa, bản chất pháp lý của hình phạt tù.
-
Làm rõ các vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tù như khái niệm;
các điều kiện thi hành hình phạt tù; trình tự thủ tục thi hành hình phạt tù.
-
Đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt tù và thi hành hình phạt tù
nhằm làm rõ những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân của nó.
-
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hình phạt tù và
thi hành hình phạt tù, luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng
cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù và thi hành hình phạt tù.
cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, quan
điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng
và chống tội phạm; về cải tạo, giáo dục người phạm tội; về tính nhân đạo của
7
pháp luật, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lý
luận về Nhà nước và pháp luật, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, pháp luật thi
hành án hình sự Việt Nam, những luận điểm khoa học trong các công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà
khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt
khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: lịch
sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế, lý luận kết hợp
với thực tiễn.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước
đề cập đến hình phạt, nhưng chưa có công trình nghiên cứu về hình phạt tù trong
mối quan hệ biện chứng với thi hành hình phạt tù. Từ góc nhìn của hình phạt tù,
luận văn đánh giá việc áp dụng hình phạt này trong thực tiễn. Nghiên cứu thực
tiễn áp dụng và thực tiễn thi hành hình phạt tù để tìm ra đâu là căn nguyên của
những vướng mắc, bất cập của thực trạng thi hành án hình sự hiện nay. Trên cơ
sở thực tiễn, luận văn có những kiến nghị khoa học góp phần hoàn thiện chính
sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu đề cập một cách tương
đối có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt tù
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TÙ
VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT TÙ
Trong lịch sử loài người, hình phạt luôn được coi là phương thức chủ
yếu để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong cuộc đấu tranh với những
hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải có những biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước, mà một trong những biện pháp cưỡng chế đó là hình phạt. Hình
phạt được coi là một trong những công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm. C.Mác nói: "Hình phạt không phải là một cái gì khác
ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội, chống lại sự vi phạm các
điều kiện tồn tại của nó" [22, tr. 153].
Trong pháp luật hình sự nước ta từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945
đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, khái niệm hình phạt chưa
được ghi nhận một cách chính thức ở bất kỳ một văn bản pháp luật nào, chỉ
đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 thì khái niệm hình phạt lần đầu
tiên mới được quy định. Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định: "Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được qui định
trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định" [29].
Có thể thấy luật hình sự nước ta đã tiếp thu, thấm nhuần sâu sắc tinh
thần dân chủ và nhân đạo, tiến bộ, coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm và ngăn ngừa
tội phạm. Pháp luật hình sự nước ta không cho phép áp dụng hình phạt đối với
những hành vi không phải là tội phạm, không được quy định trong hệ thống
hình phạt hiện hành và trong chế tài của các điều luật cụ thể. Đây là một đòi
hỏi nghiêm khắc của nguyên tắc pháp chế. Khi một hành vi nguy
10
mức độ nghiêm khắc phù hợp với các thang bậc mức độ nghiêm trọng, nguy
11
hiểm khác nhau của các loại tội phạm. Sự sắp xếp đó đảm bảo tính hệ thống.
Ngoài việc, hình phạt tù được quy định như vậy phản ánh sự đánh giá chính
thức của Nhà nước về mức độ nặng nhẹ của từng loại hình phạt mà nó còn thể
hiện mỗi loại hình phạt trong hình phạt tù có tính độc lập, khác biệt về cơ bản
với nội dung của hình phạt khác, đủ để thực hiện mục đích của hình phạt là
trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, đồng thời đáp ứng được yêu cầu
phòng ngừa, giáo dục chung. Hơn nữa tính hệ thống còn thể hiện ở chỗ, hình
phạt tù chỉ có thể do pháp luật quy định và được Tòa án áp dụng. Yêu cầu này
đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong thực tiễn xét xử - yêu cầu số một của tư
pháp hình sự.
Hình phạt tù và các loại hình phạt tương ứng về cơ bản với tội phạm,
có khả năng thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm. Hình phạt tù
trong mối liên kết của cả hệ thống hình phạt cho phép lựa chọn loại hình phạt
và mức độ xử phạt tương xứng với các hành vi phạm tội trong thực tế. Vì
ý
nghĩa đó mà các hình phạt tù được gọi là hình phạt chính. Nó luôn chứa
đựng những yếu tố trừng trị và cải tạo vừa và đủ để hình phạt có thể đạt được
mục đích khi nó được áp dụng đối với người phạm tội cụ thể. Hình phạt tù
luôn được tuyên độc lập đối với mỗi loại tội phạm. Trong số bảy hình phạt
chính được quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 chỉ có 4 hình
phạt được luật xác định về nội dung, trong đó có hình phạt tù có thời hạn và tù
chung thân. Đây là yếu tố thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt tù, dù rằng các
dấu hiệu về nội dung cũng chưa đủ rõ và chưa toàn diện.
có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới cũng như việc giáo
dục phòng ngừa chung.
Nhưng cũng có quan niệm cho rằng: Trừng trị là mục đích của hình
phạt, bởi vì để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, bảo vệ sự công bằng xã hội
thì không có lý do gì người có lỗi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là
tội phạm lại không bị trừng phạt.
Theo chúng tôi, trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để
thực hiện hình phạt. Và vì vậy, trừng trị là nội dung quan trọng nhất của hình
phạt. Nếu không có nó thì sẽ không có hình phạt. Trừng trị là tiền đề quan
13
trọng cho việc đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm. Chính vì vậy trừng trị
là nội dung không thể thiếu được của hình phạt mà khi quy định, hoặc xác
định hiệu quả của một loại hình phạt nào đó yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá
được khả năng trừng trị của nó. Nội dung trừng trị để: giáo dục người phạm
tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp
luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm.
Mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc
sống xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc áp dụng hình phạt làm cho người phạm
tội nhận thức rõ được những lỗi lầm, sai trái hành vi phạm tội của mình để cải
tạo và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt còn có mục đích ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới.
Đây là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt. Tuy nhiên việc phạm tội
mới hay không phạm tội mới không phải là tiêu chí duy nhất trong việc đánh
giá kết quả cải tạo của người phạm tội và hiệu quả của hình phạt, bởi lẽ
nguyên nhân của việc tái phạm có thể rất khác nhau.
hình sự Việt Nam, hình phạt tù là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước và được Nhà nước sử
dụng như một công cụ sắc bén trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm nhằm bảo vệ lợi ích của mình, của xã hội và những lợi ích hợp pháp của
công dân. Tính nghiêm khắc của hình phạt tù thể hiện ở việc hạn chế những
quyền tự do của người bị kết án. Đồng thời hình phạt này bao giờ cũng để lại
hậu quả pháp lý nhất định cho người bị kết án đó là án tích. Sau khi chấp hành
xong hình phạt theo bản án, người bị kết án phải mang án tích trong một thời
gian nhất định theo quy định của pháp luật, trong khoảng thời gian này nếu
phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm, hoặc tái phạm nguy hiểm và coi đây là
những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội
khi quyết định hình phạt.
Tính nghiêm khắc của hình phạt tù còn thể hiện ngoài hình phạt này,
chính người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: quản chế,
cấm cư trú hay cấm làm những nghề hoặc công việc nhất định… Đây là những
15
biện pháp hỗ trợ cho hình phạt tù nhằm xử lý một cách triệt để đối với người
phạm tội trong một số trường hợp để đạt được mục đích tối đa của hình phạt này.
Hình phạt tù được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án áp dụng.
Hình phạt tù trong Bộ luật Hình sự nước ta được quy định ở phần
chung và phần các tội phạm: phần chung quy định những vấn đề có tính
nguyên tắc liên quan đến hình phạt tù có thời hạn như khái niệm, căn cứ quyết
định hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, tổng
hợp hình phạt của nhiều bản án… Phần các tội phạm quy định loại hình phạt
và mức hình phạt cho từng loại tội phạm cụ thể.
Hình phạt tù chỉ được quy định bởi Bộ luật Hình sự. Việc loại bỏ hình
vậy mới thực hiện được mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo người phạm tội
trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các qui tắc
khác của cuộc sống xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Hình phạt tù có thời hạn
Trong luật hình sự Việt Nam, tù có thời hạn là hình phạt truyền thống
và có lịch sử lâu đời, là hình phạt chính được quy định phổ biến trong các chế
tài của luật hình sự. Trong thực tiễn xét xử, tù có thời hạn là hình phạt được
áp dụng phổ biến và được Nhà nước coi là loại hình phạt hữu hiệu nhất để đấu
tranh với các loại tội phạm.
Hình phạt tù có thời hạn được quy định tại Điều 33 Bộ luật Hình sự
với nội dung như sau: "Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp
hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối
với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi
năm…" [29]. Theo Điều 50 Bộ luật Hình sự, trong trường hợp phạm nhiều
tội, mức tối đa của tù có thời hạn là ba mươi năm.
Từ quy định Điều 33 Bộ luật Hình sự ta thấy rõ, tù có thời hạn về thực
chất là giam người bị kết án ở các trại giam, tức là cách ly người đó ra khỏi
môi trường xã hội bình thường để giáo dục và cải tạo, họ phải chấp hành hình
phạt tại các trại giam của Nhà nước với những quy chế nghiêm ngặt, đồng
thời trong thời gian này họ bị tước một số quyền tự do cơ bản như: tự do đi
17
lại, tự do kinh doanh, quyền bầu cử, quyền ứng cử… Bằng biện pháp đó sẽ
ngăn chặn được những tội phạm mới do những người bị kết án gây ra và
những ảnh hưởng xấu của họ đối với những người khác.
Hình phạt tù có thời hạn chiếm vị trí rất quan trọng trong hệ thống
hình phạt của luật hình sự nước ta. Theo thống kê cho thấy 100% các điều luật
tội lại (mục đích phòng ngừa riêng).
Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội không
chỉ tác động đến người bị kết án mà còn tác động đến các thành viên khác
trong xã hội - những bộ phận công dân "không vững vàng" thấy được hậu quả
20
pháp lý - trách nhiệm hình sự mà họ phải gánh chịu nếu thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Để cho mọi người có thể thấy rằng,
mọi hành vi phạm tội bị coi là tội phạm đều có thể bị phát hiện và phải chịu
hình phạt và hình phạt bị áp dụng là thỏa đáng với tội lỗi mà người phạm tội
đã gây ra, từ đó xây dựng cho mình ý thức tuân thủ pháp luật, từ bỏ ý định
phạm tội (nếu có), đồng thời thận trọng lựa chọn cách xử sự để tránh xử sự
của mình trở thành hành vi phạm tội.
Bộ luật Hình sự quy định thời hạn tù cụ thể đối với từng cấu thành tội
phạm cụ thể. Đây là hình phạt phổ biến trong hệ thống hình phạt của mọi
quốc gia. Tù có thời hạn có ý nghĩa xã hội và pháp lý rất quan trọng. Ý nghĩa
đó cho phép cách ly những người phạm tội có mức độ nguy hiểm lớn đối với
xã hội. Nó đảm bảo được giáo dục và phòng ngừa riêng, lại vừa đảm bảo
được giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội tại
của nó. Một mặt nó giữ để người phạm tội không thể gây nguy hại và thiệt hại
cho đối tượng mà luật hình sự bảo hộ nhưng lại gây ra những yếu tố tiêu cực đối
với người bị kết án mà xét trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề muốn
có đối với các công dân của mình (tức là không muốn họ phải bị cách ly).
Tù giam với nội dung là sự cách ly và hạn chế tự do đối với người bị kết
án. Đến lượt nó, việc hạn chế lâu dài các chức năng xã hội bình thường của một
con người làm tê liệt, làm lãng quên các thói quen xã hội có ích ở họ như học
tập, quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, bạn bè, nghề nghiệp… Sau này, việc
Cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người phạm tội ít
nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định
hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly
người phạm tội ra khỏi xã hội (điều kiện) (Điều 31 Bộ luật Hình sự).
Nghiên cứu trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự hiện hành, ta có
thể thấy những tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm
trọng, chỉ có quy định hình phạt tù có thời hạn là chế tài độc lập thì không cần
phải đặt ra vấn đề nghiên cứu điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
Đối với các tội phạm có quy định hình phạt tù có thời hạn là chế tài
lựa chọn với các hình phạt khác thì cần phải làm rõ điều kiện áp dụng của
22
hình phạt tù có thời hạn. Bộ luật Hình sự nước ta không quy định điều kiện áp
dụng hình phạt tù có thời hạn, song qui định điều kiện áp dụng các hình phạt
khác theo phép loại trừ, như vậy có thể hiểu những đối tượng phạm tội không
đủ điều kiện để áp dụng các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam
giữ, tù chung thân, tử hình thì đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
Từ những phân tích nêu trên có thể khái quát khái niệm về hình phạt tù
có thời hạn như sau: Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành
hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục cải tạo người
phạm tội, đảm bảo công lý, công bằng xã hội. Tù có thời hạn đối với người phạm
một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm.
Một nội dung hết sức quan trọng khi nghiên cứu về hình phạt tù có
thời hạn đó là chế định án treo. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, án treo
không phải là một hình phạt độc lập trong hệ thống hình phạt mà "án treo là
miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện". Đây là trường hợp ngoại lệ đặc
giảm nhẹ làm cho hành vi phạm tội không mang tính chất nguy hiểm lớn cho
xã hội hoặc làm giảm bớt trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
mà Tòa án có thể cho người bị kết án được hưởng án treo, nhà làm làm luật
thường căn cứ vào mức hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm
tội. Theo đó, mức hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên được nhà làm luật quy
định là một trong những điều kiện bắt buộc và là điều kiện trước hết để xem
xét việc có cho người bị kết án được hưởng án treo hay không. Vì vậy, có thể
nói mức hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội chính là cơ
sở để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Trong
luật hình sự, tùy thuộc vào chính sách hình sự và tình hình thực tiễn đấu tranh
phòng, chống tội phạm mà mức hình phạt có thể áp dụng án treo được xác
định cụ thể. Trước đây trong Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1956 về tổ chức
các Tòa án quân sự, Điều 10 quy định mức đó là không quá 05 năm tù, hiện
nay theo Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 60 quy định là không quá 03 năm
tù. Với quy định về mức hình phạt này, luật hình sự cũng đã gián tiếp xác định
loại tội phạm có thể được cho phép áp dụng án treo.
24