ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----------
NGUYỄN MAI CHI
QUYỀN AN TỬ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận
văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Mai Chi
LỜI CẢM ƠN
ICCPR
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(International Covenent on Civil and Political Rights)
NSLE
Hiệp hội quốc gia về Hợp pháp hóa An tử của Hoa Kỳ (National
Society for the Legalization of Euthanasia)
NVVE
Hiệp hội An tử tự nguyện Hà Lan (Dutch Voluntary Euthanasia
Society)
PVS
Tình trạng thực vật kéo dài (Persistent Vegetative State)
SRD
Hiệp hội Quyền An tử Hoa Kỳ (Society for the Right to Die)
UDHR
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (Universal Declaration of
Human Rights)
UN
hiện
trợ
tử
theo
Luật
Cái
chết
nhân
phẩm tại bang Oregon, Hoa Kỳ, 1998 – 2011. [45].............................................................26
Hình 2.1: Bản đồ quốc gia/ vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa an tử ......................................44
hoặc trợ tử [57].....................................................................................................................44
MỤC LỤC
HÀ NỘI – 2014......................................................................................................................1
LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................................2
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.....................................................................................4
Chương 1................................................................................................................................4
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA QUYỀN AN TỬ.....................................................4
1.1. Một số khái niệm cơ bản.................................................................................................4
1.1.1. An tử và trợ tử..............................................................................................................4
70.Zakyah Basri (2012), Euthanasia: Which M Is It? Mercy Or Murder, AuthorHouse,
Bloomington.......................................................................................................................100
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khi các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và
bình đẳng… từ lâu đã được công nhận và trở thành mục tiêu tôn trọng, bảo
vệ, thực thi của nhiều quốc gia trên thế giới thì vào đầu thế kỉ XIX, sự thay
đổi lớn trong nhận thức và tư duy khoa học đã dẫn đến việc hình thành nhóm
quyền mới, trong đó có quyền an tử. Khoảng một phần tư thế kỷ trở lại đây,
vấn đề quyền an tử xuất hiện với tần suất ngày càng lớn trên các diễn đàn
quốc tế và ngay lập tức trở thành một trong những đề tài nhận được nhiều
quan tâm cũng như bắt nguồn cho nhiều tranh cãi.
Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam quyền an tử vẫn là một khái niệm
mới, còn khá xa lạ và dễ bị nhầm tưởng với một số hành vi vi phạm pháp luật,
trái đạo đức xã hội. Mặt khác, nguồn tài liệu khan hiếm và nếu có, cũng chưa
được toàn diện, sâu sắc dẫn đến nhiều e ngại khi tiếp cận vấn đề. Trong khi, ở
bình diện khoa học pháp lý, việc nghiên cứu về quyền an tử mang tính cấp
thiết, góp phần quan trọng vào hoạt động xây dựng nhà nước pháp quyền với
một hệ thống quyền dân sự, quyền nhân thân đầy đủ, hoàn thiện. Và trên thực
tế ở Việt Nam không phải không có những người có nguyện vọng này, thậm
chí số lượng ngày càng tăng.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả quyết định chọn vấn đề “Quyền an
tử - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn, mong có thể góp
một phần vào việc làm rõ bản chất cũng như hoàn thiện khung pháp luật,
chính sách về vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền an tử là một đề tài còn rất mới mẻ trong các nghiên cứu khoa
học pháp lý. Hiện nay, ở Việt Nam, chưa có công trình khoa học pháp lý nào
2
đồng thời bổ sung một số thông tin và phân tích mới góp phần làm sáng tỏ
hơn thực trạng và xu hướng liên quan đến quyền an tử trên thế giới và ở Việt
Nam. Luận văn cũng nêu những đề xuất cụ thể về sửa đổi, bổ sung pháp luật
liên quan đến quyền an tử ở nước ta trong thời gian tới.
Với kết quả nêu trên, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho các cơ quan nhà nước trong xây dựng, sửa đổi và thực thi các văn
bản pháp luật về vấn đề an tử. Thêm vào đó, luận văn cũng có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn luật nhân quyền
và các môn học khác có liên quan ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở
đào tạo, nghiên cứu khác.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm các Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và 3
chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận, thực tiễn của quyền an tử
Chương II: Pháp luật và thực tiễn về quyền an tử trên thế giới
Chương III: Pháp luật, thực tiễn và những vấn đề đặt ra về quyền an tử
ở Việt Nam.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA QUYỀN AN TỬ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. An tử và trợ tử
Thuật ngữ an tử hay cái chết êm ả (euthanasia) có nguồn gốc từ khái
niệm euthanatos trong tiếng Hy Lạp, xuất hiện rất sớm trong lịch sử, khoảng
nhất dựa trên tính chất của sự tự nguyện và biện pháp thực hiện
- Dựa trên tính chất tự nguyện, an tử được chia thành an tử tự nguyện
(voluntary euthanasia ), an tử phi tự nguyện (non-voluntary euthanasia ) và an
tử trái nguyện vọng (involuntary euthanasia). Trong đó, an tử tự nguyện là
việc bệnh nhân đưa ra quyết định chấm dứt cuộc sống trong điều kiện tỉnh táo
và nhờ đến sự hỗ trợ của bác sĩ. An tử phi tự nguyện là trường hợp bệnh nhân
không có khả năng bày tỏ sự chấp thuận của họ (vì lý do hôn mê, tổn thương
não,…) và một người khác thay mặt người bệnh quyết định với điều kiện tiên
quyết là người bệnh này trước đó đã thể hiện mong muốn kết thúc cuộc sống
nếu lâm vào tình trạng này. An tử trái nguyện vọng còn được gọi là an tử ép
buộc hoặc an tử không tự nguyện, là khi người bệnh hoàn toàn từ chối hoặc
không hề bày tỏ mong muốn được giải thoát dưới bất kì hình thức nào nhưng
việc này vẫn được thực hiện đi ngược lại ý chí của họ. An tử trái nguyện
vọng, trong mọi trường hợp, đều bị coi là hành vi giết người.
Việc sử dụng các thuật ngữ trên có sự khác biệt ở nhiều quốc gia. Hiện
nay Hà Lan, một trong số những nước đi đầu trong việc hợp pháp hóa quyền
an tử và ban hành Luật An tử chỉ còn dùng duy nhất khái niệm an tử, nhưng
trong đó bao gồm cả an tử tự nguyện và an tử phi tự nguyện dưới hình thức
người bệnh chỉ định người đại diện cho mình trong trường hợp lâm vào trạng
thái mất ý thức và quyền định đoạt sẽ thuộc về người đại diện.
5
- Dựa trên tiêu chí phương pháp thực hiện, an tử được chia thành an tử
chủ động (active euthanasia) và an tử bị động (passive euthanasia) tương ứng
với hai loại hành vi hành động và không hành động kể trên. Theo đó, an tử
chủ động là trường hợp cố tình can thiệp để chấm dứt cuộc sống của bệnh
nhân. Hành vi này không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào khác ngoại trừ sự
vận hành bình thường của các cơ quan trong cơ thể (như việc lưu thông máu
sẽ đưa chất độc đi khắp cơ thể). Đây có thể coi là cách thức có hiệu quả trong
dẫn tới khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm nghề nghiệp
cho người thực hiện.
Đồng thời, cũng phải phân biệt hành vi an tử với hành vi cho phép từ
chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang ở giai đoạn cuối hay hành vi cho phép
người bệnh hấp hối về nhà. Nếu hành vi an tử trực tiếp dẫn đến việc chấm dứt
sự sống của người bệnh thì các hành vi sau chỉ mang tính chất gián tiếp, tuy
cùng vì mục đích nhân đạo nhưng không có sự chủ động chấm dứt cuộc sống
của bác sĩ mà thay vào đó, bác sĩ chỉ chấp thuận theo nguyện vọng ngừng
điều trị của người bệnh. Và sự khác biệt lớn nhất là nếu an tử nhằm chấm dứt
những đau khổ kéo dài của người bệnh, thì việc cho phép từ chối điều trị và
về nhà trên, theo lời PGS.TS Trương Văn Việt, giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy,
thì “không phải để cho bệnh nhân chết mà là vì quan hệ tình cảm giữa người
sắp chết với người thân: gặp người thân lần cuối, có chết thì chết ở nhà, vấn
đề tín ngưỡng, tập quán...”[10]
1.1.2. Quyền an tử
Xuất phát từ khái niệm an tử, quyền an tử có thể được định nghĩa là
quyền nhân thân và là đặc quyền của những cá nhân rơi vào trạng thái bệnh lý
không có khả năng chữa trị, được quyết định kết thúc cuộc sống của mình với
sự hỗ trợ của chủ thể có thẩm quyền và tuân theo các quy định chặt chẽ của
pháp luật.
7
Định nghĩa về quyền an tử có thể khác nhau tùy thuộc vào quan niệm
của các nhà làm luật mỗi quốc gia nhưng nhìn chung tất cả đều loại bỏ hành
vi an tử trái nguyện vọng ra khỏi nội hàm của khái niệm này. Có quốc gia
chấp nhận an tử chủ động, có quốc gia không, dẫn đến việc thu hẹp phạm vi
khái niệm quyền an tử chỉ được thực hiện dưới hình thức bị động. Điều tương
tự cũng xảy ra với việc có nên đặt ra giới hạn về độ tuổi với chủ thể hưởng
thụ quyền, cụ thể có nên cho phép trẻ vị thành niên có quyền an tử hay không.
đến sự thiếu tôn trọng và bắt họ làm trái với lương tâm của họ.
Sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã tăng cường khả năng của bác sĩ.
Những người hành nghề y có thể kéo dài sự sống cho những bệnh nhân trước
đây chắc chắn sẽ tử vong, nhưng nhiều trường hợp là trong đau đớn hoặc
chịu đựng kéo dài. Điều này, theo J.H.Van den Berg, một bác sĩ tâm thần
người Hà Lan, làm dấy lên vấn đề về y đức. Theo lời thề Hippocrates, bác sĩ
được đào tạo để cứu chữa, duy trì sự sống và đưa ra quyết định có lợi cho
người bệnh. Rút ngắn hoặc chủ động chấm dứt sự sống dưới bất kì hình thức
nào là vô nhân đạo. Việc kết hợp giữa công nghệ mới và quan điểm y đức cũ
dẫn đến hậu quả là người bệnh được kéo dài sự sống trong tình trạng vô
nhân đạo. Van den Berg cho rằng y đức mới phải nhận thức được việc chất
lượng cuộc sống quan trọng hơn độ dài. Quan điểm này sẽ đem đến cho
người bệnh tiếng nói trong các quyết định quan trọng, bởi chính họ chứ
không phải các bác sĩ có khả năng quyết định về chất lượng cuộc sống của
mình. Và như vậy, việc chủ động chấm dứt sự sống không còn là điều cấm kỵ
trong y học.
Tuy nhiên, tự do ý chí trong an tử nên được nhìn nhận cẩn trọng. Tự
do ý chí của người bệnh không nên là quyền tự quyết loại trừ mọi ảnh hưởng
bên ngoài, hay là sự tự do ý chí tiêu cực. Tự do ý chí trong an tử là sự tự do ý
chí tích cực, hay nói cách khác, người bệnh phải hành động một cách có trách
9
nhiệm, quyết định trên cơ sở có xem xét đến những yếu tố khác. Luật pháp
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ quy định bệnh nhân muốn thực hiện quyền
an tử phải đưa ra yêu cầu nhiều lần và cân nhắc kĩ càng. Mặc dù tiêu chí xem
xét không được quy định cụ thể nhưng rõ ràng người bệnh phải cân nhắc đến
những hậu quả khi đưa ra quyết định. Quyết định của người bệnh phải được
thảo luận với bác sĩ, và việc thảo luận này không chỉ dừng ở việc khẳng định
rằng người bệnh có thực sự mong muốn hưởng thụ quyền an tử, mà còn liên
phục rằng an tử là con đường duy nhất. Điều này không có nghĩa bệnh nhân
có ít tiếng nói trong cả quá trình, mà nhấn mạnh vào trách nhiệm của bác sĩ,
rằng họ mới là người có vai trò quan trọng nhất trong việc an tử. An tử chỉ
được chấp nhận khi bác sĩ tin rằng người bệnh không thể tiếp tục chịu đựng.
- Kết hợp nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc hành thiện: Trong khi
nguyên tắc tự do ý chí đề cao vai trò của bệnh nhân thì nguyên tắc hành thiện
nhấn mạnh mối quan trọng của bác sĩ. Vậy việc cùng một lúc dựa trên hai
nguyên tắc này có mâu thuẫn? Thực tế chứng minh, hai nguyên tắc này không
xung đột với nhau mà bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau làm nền tảng cho quyền an tử,
và tạo nên một mối quan hệ hình mẫu trong y học nói chung và vấn đề an tử
nói riêng, mối quan hệ hợp tác thảo luận giữa bệnh nhân và bác sĩ. Trong đó,
bệnh nhân đóng vai trò quyết định và bác sĩ giữ vai trò chủ động. Bệnh nhân
mong muốn có thể dựa vào bác sĩ trong những giai đoạn khó khăn, họ hy
vọng rằng bác sĩ sẽ không để họ chết khổ sở. Còn bác sĩ mong muốn có thể
đáp ứng mong muốn của người bệnh, làm giảm bớt những đau đớn của họ
đồng thời giữ được y đức của chính mình. Có thể thấy yếu tố trọng tâm trong
mối quan hệ này là lòng tin. Lòng tin không chỉ có nghĩa rằng người bệnh có
thể chắc rằng bác sĩ của họ không lạm dụng chức quyền, mà hơn thế, họ có
thể chắc rằng họ sẽ không đơn độc trong trường hợp không lối thoát. Ngược
lại, bác sĩ cũng phải có lòng tin rằng người bệnh đi đến quyết định an tử, dựa
11
trên tình trạng không thể thuyên giảm của họ, mà không vì bất cứ mục đích
nào khác.
1.2.2. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của quyền an tử
An tử và quyền an tử có lịch sử phát triển lâu dài và dần được định hình
một cách chính thống và rõ nét qua thời gian.
- Về mặt lập pháp, từ thế kỉ V đến thế kỉ I trước công nguyên, người Hy
Lạp và La Mã cổ đại đã có tư tưởng an tử, tuy nhiên chưa hình thành nên khái
phủ khắp các quốc gia là cái nôi của hệ thống này, mà còn vươn tới các thuộc
địa. Có thể kể đến việc các nhà làm luật của Providence Plantations, vùng
lãnh thổ sau này trở thành Rhode Island, đã tuyên bố vào năm 1647, rằng “tự
tử tuyệt đối là hành vi trái tự nhiên nhất, và hội đồng lập pháp nay tuyên,
rằng, người nào thực hiện hành vi này, tự tử chỉ vì chủ tâm ghét bỏ chính
cuộc sống của mình hay niềm hạnh phúc của người khác...thì đồ đạc và tài
sản của họ sẽ do nhà vua định đoạt.” [51] Tuy nhiên không thể phủ định một
số động thái tích cực ủng hộ an tử trong suốt thời kì này. Thomas More
(1478-1535) thường được nhắc đến với tư cách là người Thiên chúa giáo đầu
tiên có những đề cập nổi bật đến an tử trong tác phẩm Utopia của ông, trong
đó những linh mục theo chủ nghĩa không tưởng đã khuyến khích an tử khi
người bệnh không thể cứu chữa và phải chịu đau đớn (nhưng chỉ được thực
hiện khi có sự đồng ý của bệnh nhân). "...nếu một căn bệnh không chỉ đem lại
đau đớn mà còn khổ sở không dứt, thì các linh mục và chính quyền nên ủng
hộ người này…tự giải thoát khỏi cuộc sống đắng cay…hoặc cho phép người
khác giải thoát giúp họ..."[51] Vấn đề duy nhất khi sử dụng những lời này là
việc Thomas More, một con chiên mộ đạo, dùng Utopia như một công cụ chế
giễu nhạo báng. Nhà triết học người Anh, Francis Bacon (1561-1621), là
người đầu tiên thảo luận về việc kéo dài sự sống là một nhiệm vụ y khoa mới,
gồm ba nhiệm vụ: duy trì sức khỏe, chữa trị bệnh tật và kéo dài sự sống.
13
Bacon cũng khẳng định rằng, “Họ phải trau dồi các kĩ năng và sự tập trung
chú ý mà nhờ đó những người đang chết có thể thoát khỏi cuộc sống một
cách dễ dàng và lặng lẽ hơn.”[51] Như vậy Bacon chỉ đề cập đến khía cạnh
bên ngoài của an tử, hay cái chết êm ái cho cơ thể, không có sự chuẩn bị về
mặt tinh thần. Có vẻ như ông không cất tiếng nói cho ‘an tử’, mà đang ủng hộ
một khái niệm khác được cho là tốt đẹp hơn – chăm sóc giảm nhẹ…
Còn ở các nước châu Âu, nhất là các nước chủ yếu theo đạo Thiên
như trong Bộ luật của Field.
Một cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử của quyền an tử là việc
chiết xuất được morphine vào thế kỉ XIX và chất này được sử dụng làm thuốc
giảm đau trên diện rộng. Khi việc sử dụng thuốc giảm đau trở nên thông dụng
và phổ biến, Samuel Williams, một giáo viên, đã có bài phát biểu đầu tiên ủng
hộ cho an tử tích cực, trong đó đề cập đến việc thuốc không chỉ được dùng để
giảm các cơn đau không thể chữa trị mà còn để giải thoát cho bệnh nhân một
cách có chủ định.
Trong mọi trường hợp, người thực hành y nên thực hiện sứ mệnh,
là bất cứ khi nào bệnh nhân thực sự mong muốn, dùng chloroform,
hoặc chất gây mê khác mà bản thân nó hoặc nó thay thế cho
chloroform, ngay lập tức tiêu trừ ý thức, và ngay lập tức giúp người
đang chịu khổ sở được chết nhanh chóng và không đau đớn; để
ngăn chặn mọi nguy cơ lạm dụng có thể xảy ra với sứ mệnh này
cần có quy định phòng ngừa; và những biện pháp chứng minh sự
minh bạch và rõ ràng, rằng phương thức này chỉ áp dụng khi có
mong muốn sáng tỏ của bệnh nhân.[37]
Mặc dù Tạp chí hiệp hội y khoa Hoa Kỳ coi bài phát biểu của Samuel
là cố gắng khiến người bác sĩ khoác chiếc áo của tên đao phủ, trong suốt
những năm cuối thế kỉ XIX, nó đã nhận được sự chú ý nghiêm túc trên nhiều
15
tạp chí y khoa khác và các hội nghị khoa học. Nhưng hầu hết các bác sĩ vẫn
giữ quan điểm thuốc giảm đau có thể dùng để giảm bớt sự đau đớn, không
phải thúc đẩy cái chết.
Thế kỉ XX là thế kỉ phát triển rực rỡ của an tử và quyền an tử. Sang thế
kỉ mới ngành y khoa đã có những bước tiến lớn. Việc sử dụng các phương
pháp khoa học và nguyên tắc y dược hiện đại đã củng cố quyền kiểm soát của
người hành nghề y đối với các trường đại học và các khóa đào tạo y khoa,
…ngài và một nhóm quy tụ những người có tiếng khác tin vào
quyền được kết thúc một cách nhẹ nhàng của một cá nhân bị bệnh
không thể cứu chữa mạnh mẽ đến mức họ…thành lập một Hiệp hội
quốc gia về Hợp pháp hóa An tử… Ủy viên của tổ chức bao gồm cả
bác sĩ Clarence Cook Little thuộc Hiệp hội Kiểm soát Ung thư Hoa
Kỳ và Liên đoàn Kế hoạch hóa sinh sản Hoa Kỳ và thư kí Leon
Fradley Whitney của Hiệp hội Ưu sinh Hoa Kỳ.[51]
Ngoài ra, thành viên hội còn có gần 2000 bác sĩ và hơn 50 nhà truyền
giáo. Tại thời điểm này, an tử được phần đông người hành nghề y ủng hộ.
Sang những năm 40 của thế kỉ XX, hợp pháp hóa quyền an tử tưởng
chừng chỉ còn là vấn đề thời gian đột nhiên vấp phải trở ngại – chiến tranh thế
giới với sự nổi dậy của Đức Quốc Xã. Tháng 10/1939, giữa cuộc khủng hoảng
chiến tranh bùng nổ, Hitler ra lệnh an tử diện rộng đối với những người đau
ốm và tàn tật. Chiến dịch mang tên Aktion T4, một chương trình an tử của
Đức Quốc Xã để loại bỏ “đời sống không đáng sống”[64] bước đầu tập trung
vào trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Nữ hộ sinh và bác sĩ được lệnh thống kê tên những
trẻ từ 3 tuổi trở xuống có dấu hiệu tâm thần chậm phát triển, dị dạng cơ thể,
hoặc những triệu chứng khác trong một bảng thống kê của Bộ y tế Đức Quốc
Xã…Chương trình an tử này của Đức Quốc Xã nhanh chóng mở rộng ra
những trẻ khuyết tật lớn hơn và người trưởng thành. Một thông tư vào tháng
17
10/1939 của Hitler có hiệu lực trở về từ ngày 1/9, đã mở rộng “quyền lực của
các bác sĩ được chỉ định đích danh có thể ban cho những người, theo cách
đánh giá nhân văn, là không thể chữa trị sau khi đã chuẩn đoán cẩn thận tình
trạng đau yếu của họ, một cái chết êm ả”.[64] Với động thái này, phong trào
an tử đang lên lâm vào thế bị động và tìm mọi cách chứng minh cái mình ủng
hộ không giống như cỗ máy giết người Đức Quốc Xã. Hệ quả năm 1950,
Hiệp hội Y khoa Thế giới đã bỏ phiếu về vấn đề kiến nghị tới các hiệp hội y