TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ - Pdf 69

TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ
1.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá
1.1.1 Khái niệm
Theo nghĩa rộng, chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chính phủ
(mà đại diện thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ
chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức
tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp
với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
Theo nghĩa hẹp, chính sách tỷ giá là những hoạt động của NHTW thông
qua cơ chế điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được
một mức tỷ giá nhất định, để tỷ giá tác động tích cực đến hoạt động cuất nhập
khẩu hàng hoá và dịch vụ của quốc gia.
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá
1.1.2.1 Ổn định giá cả
Với các yếu tố khác không đổi, khi phá giá nội tệ (tức tỷ giá tăng), làm
cho giá hàng hoá nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, máy
móc, thiết bị cho sản xuất trong nước) tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hoá nhập
khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, tức gây lạm
phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu càng lớn thì tỷ lệ
lạm phát càng cao. Điều này được thể hiện thông qua công thức:
P
t
= α.P + (1 - α).E.P
*
α - là tỷ trọng hàng hoá sản xuất trong nước
(1 - α) là tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu
P - là mức giá cả hàng hoá sản xuẩttong nước tính bằng nội tệ
P
*
- là mức giá cả hàng hoá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
E – là tỷ giá (số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ)

làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp.
Qua phân tích cho thấy, chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công
cụ nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tăng công ăn việc làm. Với
các yêu tố khác không đổi, muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần áp dụng
chính sách phá giá nội tệ; ngược lại muốn kiềm chế và giảm tốc độ tăng trưởng
kinh tế thì áp dụng chính sách nâng giá nội tệ.
1.1.2.3 Cân bằng cán cân vãng lai
Với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất
khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái
thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư.
Với chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất
khẩu và kích thích nhập khẩu, giúp điểu chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái
thặng dư trở về trạng thái cân bằng hay thâm hụt.
Với chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng cân bàng xuất khẩu và nhập
khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng.
1.2 Nội dung của chính sách tỷ giá
Hành vi phá giá nội tệ, tức bao gồm những can thiệp của Chính phủ để đồng
nội tệ trở nên được định giá thấp hơn.
Hành vi nâng giá nội tệ, tức bao gồm những can thiệp của Chính phủ để
đồng nội tệ trở nên được định giá cao hơn.
Hành vi duy trì tỷ giá ở một mức nhất định, tức bao gồm những can thiệp
của Chính phủ để duy trì tỷ giá là ổn định không đổi
Không can thiệp, để cho tỷ giá biến động tự do theo quan hệ cung cầu thị
trường.
1.3 Các công cụ của chính sách tỷ giá
1.3.1 Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá.
Thông thường đó là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối thông
qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ
giá cố định), hay ảnh hưởnglàm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định
theo mục tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi). Để tiến hành can thiệp buộc

khẩu giảm làm cho cầu ngoại tệ giảm, kết quả làm cho nội tệ lên giá. Khi thuế
quan thấp sẽ có tác dụng ngược lại.
- Hạn ngạch: hạn ngạch có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, do đó có tác
động lên tỷ giá giống như thuế quan cao. Dỡ bỏ hạn ngạch có tác dụng làm tăng
nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp.
- Giá cả: thông qua hệ thống giá cả, Chính phủ có thể trợ giá cho những
mặt hàng xuất khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất. Trợ giá
xuất khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến cho
nội tệ lên giá. Chính phủ cũng có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu
thiết yếu; bù giá làm tăng nhập khẩu, kết quả là làm cho nội tệ giảm giá.
Ngoài các công cụ gián tiếp, trong từng thời kỳ Chính phủ (chủ yếu là các
nước đang phát triển) còn có thể áp dụng một số biện pháp cá biệt khác như:
- Điều chính tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: khi
ngoại tệ khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM, làm cho chi phí sử
dụng vốn ngoại tệ tăng; để kinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ lãi suất
huy động ngoại tệ, kết quả là việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so
với nắm giữ nội tệ, khiến cho những người sử dụng ngoại tệ phải bán đi lấy nội
tệ, làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
- Quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ.
- Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM ngoài mục đích chính là
phòng ngừa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp
lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.
1.4 Các mô hình xác định tỷ giá
1.4.1 Mô hình ngang giá sức mua (PPP)
PPP được nhà kinh tế học Gustan Cassell đưa ra vào năm 1920. Nội dung
cơ bản của học thuyết là: tỷ giá giao dịch trên thị trường phải phán ánh ngang
giá sức mua giữa hai đồng tiền.
1.4.1.1 Quy luật ngang giá sức mua
Tỷ giá là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền trong giao dịch mua bán giữa

R
= ---------- = 1
P
-----> E = P/P*
Mà P/P
*
= E
P
Do đó E = E
p
Như vậy, theo quy luật thì tỷ giá giao dịch trên thị trường phải phản ánh
ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền
1.4.1.2 Quy luật một giá
Gọi P
i
là giá của hàng hoá i ở trong nước tính bằng nội tệ
P
i
*
là giá của hàng hoá i ở nước ngoài tính bằng ngoại tệ
Khi đó P
i
= E.P
i
*
Khi quy luật một giá bị phá vỡ thì kinh doanh chênh lệch giá thông qua
các hành vi mua hàng hoá ở thị trường có giá thấp và bán ở thị trường có giá
cao giúp khôi phục trở về trạng thái cân bằng.
1.4.1.3 Các dạng biều hiện của PPP
1.4.1.3.1 PPP dạng tuyệt đối giản đơn

*
= (1-f)
Vì P và F đều là mức giá (P là giá hàng hóa, còn F là giá dịch vụ) nên
nhìn chung chúng đều tăng hoặc đều giảm cùng chiều, do đó f có thể được xem
là một hằng số
Suy ra: E = .
Đặt 1/ (1-f) = k, ta có:
E = . k
* Nếu: E < P/ P
*
⇔ P > E. P
*

Ta biểu diễn mối quan hệ giữa tỷ giá và ngang giá sức mua khi có đề cập
đến nhân tố F như sau:
P = E. P
*
+ E.F
Trường hợp này được hiểu là, giá hàng hóa ở nước ngoài sau khi cộng
thêm nhân tố F sẽ bằng giá hàng hóa ở trong nước. Tiếp tục biến đổi công thức
ta có:
⇔ P = (E.P
*
- E.F)
⇔ P = E.P
*
( 1+ )
Đặt: F/P
*
= f

cả của hàng hóa NITG được điều chỉnh chủ yếu bởi quy luật cạnh tranh trên thị
trường nội địa. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá và ngang
giá sức mua, khi phân biệt hàng hóa ITG và NITG. Như trên đã phân tích đối
với nhóm hàng hóa ITG, ta có thể viết:
P
T
= E. P
*
T
Trong đó:
E - tỷ giá bằng số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ
P
T
- mức giá tính bằng nội tệ của hàng hóa ITG
P
*
T
- mức giá thành bằng ngoại tệ của hàng hóa ITG
Gọi P
1
là chỉ số giá chung của nền kinh tế nội địa được tính bằng tỷ trọng
trung bình theo mức giá của cả hai nhóm hàng hóa ITG là P
T
và NITG là P
N
. Do
đó, ta có:
P
1
= αP

1
(1 )
(1 )
N T
N T
P P
P
P P P
α α
β β
+ −
=
+ −
*
*
*
1
*
(1 )
1
(1 )
N
T
T
N
T
T
P
P
P

E
P
P
P
α α
β β
+ −
=
+ −
E =
*
*
*
1
. (1 )
1
.
. (1 )
N
T
N
T
P
PP
P
P
P
β β
α α
+ −

*
T
) có ảnh hưởng đến mức tỷ giá. Trong
mỗi nền kinh tế, nếu các nhân tố khác không đổi, thì khi giá hàng hoá NITG
tương đối so với giá hàng hoá ITG (tức P
N
/P
T
tăng) sẽ làm cho tỷ giá giảm, tức
nội tệ lên giá. Ngược lại, nếu các nhân tố khác không đổi, thì khi giá hàng hoá
ITG tăng tương đối so với giá hàng hoá NITG sẽ làm cho tỷ giá tăng, tức nội tệ
giảm giá.
1.4.1.3.3 PPP Dạng tương đối - tỷ lệ %
Gọi ∆E - tỷ lệ thay đổi tỷ giá sau 1 năm
∆ P - tỷ lệ thay đổi giá sau 1 năm ở trong nước (Việt Nam)
∆ P
*
- tỷ lệ thay đổi giá sau 1 năm ở nước ngoài (Mỹ)
- Tại thời điểm đầu năm:
P
0
= E
0
. P*
0
- Tại thời điểm cuối năm
P
1
= E
1

∆E = ∆P - ∆ P
*
(7)
Như trên đã phân tích, đối vưói PPP dạng tuyệt đối, thì nhân tố F có thể
làm cho tỷ giá E lệch khỏi PPP. Vì lệch khỏi PPP nên tỷ giá được xác định theo
công thức biến thể của PPP dạng tuyệt đối như sau:
E = . k
Như vậy, nếu đề cập nhân tố F, thì PPP dạng tuyệt đối sẽ không được duy
trì, tức tỷ giá E lệch khỏi PPP (P/ P
*
). Tuy nhiên, ở dạng tương đối, cho dù có đề
cập đến nhân tố F, thì sự biến động của tỷ giá vẫn luôn luôn phản ánh chênh
lệch mức lạm phát giữa hai đồng tiền.
Do có nhân tố F, nên:
- Tại thời điểm đầu năm:
P
0
= E
0
. P
*
0
(1 ± f)
- Tại thời điểm cuối năm:
P
0
(1 + ∆P) = E
0
(1 + ∆E). P
*

0
(1+ ∆P
1
) = E
0
(1+ ∆E
1
). P
*
0
(1+ ∆ P
*
1
)
CPI
1
= (1+∆E
1
). CPI
*
1
-> ∆E
1
=
- Tại thời điểm cuối năm thứ hai
P
1
(1+ ∆P
2
) = E

=
∆ E
0
2
=
Ta có:
P
0
(1+ ∆P
1
) (1+ ∆P
1
)= E
0
(1+ ∆E
0
2
). P
*
0
(1+∆P
*
1
) (1+∆P
*
2
)
1 + ∆E
0
2

=
Ta có:
0 0*
0
2 2
2
0*
2
CPI CPI
E
CPI

∆ =
Một cách tổng quát ta có:
0 0*
0
1 1
1
0*
1
CPI CPI
E
CPI

∆ =

0
0
1
1

(1+ ∆P) = CPI
1
(chỉ số giá tiêu dùng trong nước cuối năm)
(1+ ∆P
*
) = CPI
*
1
(chỉ số giá tiêu dùng nước ngoài cuối năm)
Thay vào công thức trên ta có:
E
1
= E
0
(10)
Công thức (10) gọi là PPP số tuyệt đối thời hạn một năm
Ta gọi:
- CPI
t
là chỉ số giá của đồng tiền định giá năm t so với năm (t-1)
- E
0
là tỷ giá cuối năm (0), là số đã biết
-Et là tỷ giá cuối năm (t) theo quy tắc ngang giá sức mua
Ta lập bảng xác định tỷ giá tại thời điểm cuối các năm như sau:
Năm (t) CPI CPI
*
Tỷ giá theo PPP
0 CPI
0

3
E
3
= E
1

4 (n) CPI
4
CPI
*
4
E
4
= E
1

Một cách tổng quát, công thức tính tỷ giá năm thứ n (E
0
) theo thuyết PPP
như sau:
E
n
= E
0

*
1
.
n
t


 
= = −
 ÷
 
Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa tỷ giá chính thức và PPP như sau:

Trích đoạn Những nhân tố tác động lên cán cân vãng lai, qua đó tác động đến xu hướng biến động của tỷ giá trong dài hạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status