Hoàn thiện chế độ tài chính và kế toán trích lập dự phòng - Pdf 69

Hoàn thiện chế độ tài chính và kế toán trích lập dự phòng
3.1.Đánh giá chung về chế độ tài chính và kế toán trích lập dự phòng của Việt
Nam và kinh nghiệm 1 số nước trên thế giới
3.1.1.Đánh giá chế dộ kế toán trích lập các khoản dự phòng của Việt Nam
3.1.1.1.Ưu điểm
Nhìn chung chế độ kế toán trích lập các khoản dự phòng của Việt Nam là phù
hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế. Nó đảm bảo được nguyên tắc thận
trọng của kế toán, giúp doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp khi xảy ra rủi
ro. Những quy định chung khi trích lập các khoản dự phòng theo thông tư số
13/2006 không có gì trái với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế.
Điều kiện để trích lập các khoản dự phòng là phải có khả năng giảm giá trị tài
sản, thời điểm lập dự phòng phải là cuối năm,trước khi doanh nghiệp tiến hành lập
báo cáo tài chính.Các quy định pháp lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp khi
tiến hành lập dự phòng cũng rất chặt chẽ để đảm bảo đúng đắn mục đích của việc
lập dự phòng là giúp doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp khi xảy ra rủi ro,
tránh tình trạng lợi dụng mục đích lập dự phòng để khai khống nhằm giảm thuế để
nộp nhà nước.
Chế độ kế toán Việt Nam cũng có sự thay đổi linh hoạt cho phù hợp với xu
thế trên thế giới. chẳng hạn như sự thay đổi về tài khoản sử dụng hạch toán dự
phòng giảm giá HTK và dự phòng nợ phải thu khó đòi giữa thông tư 107/2001/TT-
BTC và thông tư số 13/2006
Theo thông tư số 13/2006 thì trường hợp nguyên vật liệu có giá trị
thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm dịch
vụ được sản xuất từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá thì không được trích lập
dự phòng giảm giá nguyên vật liệu tồn kho đó.
Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính cho từng loại hàng tồn kho bị
giảm giá và tổng hợp toàn bộ vào bảng kê chi tiết. Bảng kê là căn cứ để hạch toán
vào giá vốn hàng bán (giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ) của
doanh nghiệp.
Giá trị tổn thất thực tế của hàng tồn đọng không thu hồi được đã có quyết
định xử lý huỷ bỏ, sau khi bù đắp bằng nguồn dự phòng giảm giá hàng tồn kho,

Bên cạnh những ưu điểm trên, chế độ kế toán trích lập các khoản dự phòng
của Việt Nam vẫn có những vấn đề còn tồn tại
*/ Sự không thống nhất giữa quy định của thông tư dự phòng và quy định của
chế độ kế toán hiện hành về hoàn nhập dự phòng. Theo thông tư số 13/2006 Việc
hoàn nhập các khoản dự phòng được ghi tăng doanh thu (thu nhập) tương ứng với
các hoạt động có liên quan đến đối tượng dự phòng, chẳng hạn như hoàn nhập các
khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng
giảm giá các khoản đầu tư tài chính vào thu nhập khác. Trong khi đó theo chế độ
kế toán doanh nghiệp 2006 hoàn nhập các khoản dự phòng bằng cách ghi giảm chi
phí của hoạt động có liên quan đến các đối tượng lập dự phòng (hoàn nhập dự
phòng giảm giá hàng tồn kho ghi giảm giá vốn hàng bán, hoàn nhập dự phòng phải
thu khó đòi, ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp, hoàn nhập giảm giá đầu tư tài
chính ghi giảm chi phí tài chính. Như vậy việc tiến hành công tác kế toán về dự
phòng phải tuân theo quy định nào
*/ Chưa nhận diện đầy đủ các khoản dự phòng. Dự phòng phản ánh việc ghi
nhận trước một khoản tổn thất sẽ xảy ra trong tương lai. Theo cách này các khoản
trích trước có được xem là một khoản dự phòng hay không. Cũng đều là một khoản
dự phòng nhưng tại sao mã hóa các tài khoản phản ánh dự phòng lại không tuân
theo một quy tắc chung
Có thể nói rằng một số điểm không thống nhất trong quyết định về dự
phòng cần phải được phân tích và giải quyết để chính sách thực sự là một công cụ
quản lý nhà nước hữu hiệu không phải là một rào cản của doanh nghiệp
3.2.Một số điểm giống và khác nhau giữa chế độ kế toán Việt Nam và các
nước trên thế giới về dự phòng
Giữa chế độ kế toán thiết lập dự phòng của Việt Nam và các nước trên thế
giới có một số điểm giống nhau do cũng dựa vào thông lệ và hệ thống chuẩn mực
kế toán quốc tế. Trước hết là những quy định chung khi lập dự phòng đó là phải có
sự không chắc chắn về các khoản phải thu hay có sự giảm giá về mặt giá trị tài sản.
Các khoản dự phòng được ghi nhận vào chi phí và làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp

phòng chi phí. Hướng giải quyết này chỉ thấu đáo khi trong loại tài khoản này phải
phân biệt được nhóm TK dự phòng phải trả và khoản dự phòng không phải trả.
Tiếp tục theo cách phân chia dự phòng hiện tại trong chế độ kế toán nhưng phải
nhận diện cho đến khoản chi phí trích trước. Chi phí trích trước được xem là một
khoản dự phòng không phải trả. Từ đó mã hóa tài khoản phản ánh chi phí này phải
tuân theo quy tắc mã hóa các TK phản ánh dự phòng không phải trả.
*/ Về hoàn nhập các khoản dự phòng như đã nói ở trên lập dự phòng
phản ánh cách tiếp cận thận trọng. Ghi nhận trước một khoản chi phí chưa chi ra
nhưng có thể xảy ra trong tương lai. Một khoản chi phí do không chi ra (tổn thất
không xảy ra) khoản trích lập phải được hoàn nhập. Ngược lại với việc trích lập dự
phòng làm giảm lợi nhuận trong khi việc hoàn nhập sẽ làm tăng lợi nhuận trong kỳ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status